Tuesday, February 23, 2016

LỤC CĂN

I. NGUYÊN NHƠN SANH KHỞI LỤC-CĂN
LỤC-CĂN là mắt, tai, mủi, lưỡi, thân ý.
Quả địa-cầu là một làn hơi đặc, nổi tròn, hết nổi đến xẹp. Quả địa-cầu là đất, nước, lửa, gió; khi mới nổi không có cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật. Trước hết cái ấm của tứ-đại sanh ra cỏ, cây, thú. Ấm là sự dung-hoà giữa nóng và lạnh. Đất ấm sanh ra nhựa chỉ, mồ-hôi lâu biến thành rễ cây, cỏ, thú. Nước ấm sanh bèo, rong, đặc lền, lâu cũng biến sanh thú, cỏ, cây. Đó tức là trần sanh căn vậy. Có căn rồi, căn sanh thân, thân sanh quả, quả sanh nhơn, nhơn gieo trong trần mà sanh căn thân quả khác. Căn là rễ, trần là bụi, quả là trái, nhơn là hột giống (bộ phận của cây)
Trần là chất sống, của cải (đất, nước, lửa, gió).
Căn là hình thể của sự sống.
Cái sống hay cái biết kêu là thức, thức ở giữa trần và căn nên gọi là: Trần sanh thức, thức sanh căn.
Trần hay tứ-đại (đất, nước, lửa, gió) kêu là vô-minh hay địa-ngục. Vô-minh sanh ra hành, hành mới sanh ra thức. Hành là cái ấm của tứ-đại, tức là sự lăn xoay dời đổi, rung động, nóng lạnh, sáng tối tương đối, lâu ngày sanh ra thức, biết sự sống lần lần.
Cái thức, biết, sống của cây cỏ, kêu là thọ-cảm. Cái thức, biết, sống của thú kêu là tư-tưởng. Cũng như là một đứa trẻ mới sanh, do hột giống người mới tạo, bỏ nó ở một chỗ, vô-động kín-đáo, thì cái thức, biết, sống của nó không có nẩy nở, và sẽ lần hồi chết mất luôn trở lại. Hay như một người ngủ, nếu không có mọi sự cử-động bên ngoài thì không có cái thức, biết, sống. Cái thức, biết, sống của ta, do nơi sự động, cái có thay đổi vô-thường là hành, hay là ấm của trần; có thức rồi thức mới sanh căn. Căn là hình thể tưởng-tượng, món đồ sanh ra bởi thức. Cho nên gọi thức là chủ, căn là đồ vật của chủ. Chỗ ở ăn mặc dùng để chứa nuôi căn là trần. Căn sanh nơi trần, trở lại ăn trần, con sống nơi mẹ, còn cái thức là hột giống của ông cha.
Tại sao mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, của người, gọi là căn rễ giống như cây?
Bởi trần là của cải chất nuôi sống; nơi cây căn rễ là của thâu rút ăn trần nước đất, để nuôi cây tượng trái sanh hột. Cũng giống như người ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, than, ý, sáu cửa, rút thâu vạn-vật các pháp để nuôi tâm sanh trí, tạo thành tánh vậy. Sáu cửa ví như rể cây, tâm như mình cây, trí như bông cây, tánh như trái cây (trí như hoa, tánh như quả) tứ-đại vật-chất đất, nước, lửa, gió là chất sống tạo ra thức căn, và thức căn trở lại ăn chất sống tứ đại
Trong võ-trụ không gian và thời-gian chỉ có ba pháp là: TRẦN thức căn. Trần là tứ-đại, của cải, các pháp chất nuôi sống; THỨC là sự sống, biết là chúng sanh; và CĂN là thể tướng hình dáng của mỗi chúng sanh. Cho nên nói rằng: Trong võ-trụ có một cái cây trần vật chất là nước, lửa, gió phía dưới, căn và rễ ăn trong trần để nuôi thức. Thức là thân cây, tưởng là nhánh cây, pháp là lá cây, trí như hoa, giác như vỏ trái, tánh như hột, chơn-lý như thịt cơm. Cây ấy tức là đạo của chúng-sanh vậy. Đạo ấy vốn nơi trần mà ra, quả ấy là quả Giác kêu là Phật.




II. GIỚI HẠN CỦA TRẦN THỨC CĂN Các căn của cỏ, cây, thú, người không giống như nhau là bởi thức xúc đối với nhơn-duyên hoàn cảnh của trần, mỗi lúc mỗi khác, mà sanh sự tưởng -tượng cái sắc thân huyễn-ngã theo duyên cảnh. Sự tưởng -tượng ấy là tư-tưởng, tư- tưởng là sức mạnh của thọ-cảm.
Thọ-cảm là thức non nớt của trần. Tư-tưởng là thức mạnh-mẽ của trần. Có tư-tưởng mới có hành-vi, hành-vi là thức cử dộng của trần. Cây có thọ-cảm, Thú có tư-tưởng, Người có hành vi.
Sự tấn-hoá của chúng-sanh già biết hơn trẻ, ngày mai hơn bữa nay, chiều hơn sáng. Chúng sanh từ trong tối ra ngoài sáng, từ ác đến thiện, từ địa ngục đến thiên-đàng. Ấm tứ-đại sanh cỏ; cỏ lâu ngày có thọ-cảm thành cây; cây già có tư-tưởng sanh thú; thú lớn khôn có hành-vi thành người; người lớn hiểu trắng có thức-trí làm Trời; Trời già có giác chơn là Phật. Kẻ nầy tấn hoá, kẻ kia bắt chưóc noi theo, kẻ nọ bo hiếp-đáp vượt lên. Càng khổ càng đua chen, càng sanh sản, chế biến tượng hình không nhứt định
Trong cõi trần tứ-đại này, cỏ là căn, rể, cây là thân ‘mình’, thú là quả ‘trái’, người là nhơn ‘hột’ Trời là đại-nhơn ‘hột lớn’ Phật lão-nhơn ‘hột già’.
Sự sống của tất cả kêu là thức, có tám thức
  1. Nước có cái thức, kêu là thấy.
  2. Đất có cái thức kêu là nghe.
  3. Cỏ có cái thức, kêu là hưỡi.
  4. Cây có cái thức, kêu là nếm.
  5. Thú có cái thức, kêu là rờ.
  6. Người có cái thức, kêu là tưởng.
  7. Trời có cái thức, kêu là hiểu.
  8. Phật có cái thức, kêu là biết.
Tứ-đại là trần tất cả có 6 trần:
  1. Nước có sắc trần, kêu là hình-dạng.
  2. Đất có thinh trần, kêu là tiếng tăm.
  3. Cỏ có hương trần, kêu là mùi.
  4. Cây có vị trần, kêu là vị.
  5. Thú có súc trần, kêu là đụng chạm.
  6. Người có pháp trần, kêu la biến tác.
Riêng Trời và Phật không dung trần tư-đại:
  1. Trời có huệ trần, kêu là sự dứt bỏ phiền-não
  2. Phật có chơn trần, kêu là như như chẳng động
Trần sanh thức, thức sanh căn, có tất cả tám căn:
  1. Nước có nhãn-căn, kêu là con mắt.
  2. Đất có nhỉ-căn, kêu là lỗ tai.
  3. Cỏ có tỹ-căn, kêu là lỗ mũi.
  4. Cây có thiệt-căn, kêu là cái lưỡi.
  5. Thú có thân căn, kêu là mình.
  6. Người có ý căn, kêu là sự muốn
  7. .Trời có trí-căn, kêu là phân biệt.
  8. Phật có tánh-căn, kêu là tự-nhiên.
Gồm tất cả là tám trần, tám thức, tám căn, cộng lại hai mươi bốn giới, từ dịa-ngục đến Niết-Bàn, trần nào sanh thức nnấy, thức nào sanh căn nấy, căn nào sanh trần nấy. Căn ví  như nhà, trần ví như của cải, thức là chủ nhơn-ông. Người thanh cảnh cũng thanh, người trược, cảnh cũng trược
Từ thú sắp xuống có 5 căn + 5 trần + 5 thức thuộc về loại có hữu-vi hình-thể
Từ người sắplên Trời, Phật có 3 căn +3 trần + 3 thức thuộc về loại không-không vô-vi không -tướng.
Thế cho nên từ thú sắp xuống là ác, từ người sắp lên là thiện. Người thì còn có thân-sắc ít lâu nên còn ác chút đỉnh, chớ khi đến Trời rồi, chỉ còn hình bóng không không mới trọn thiện.
Trong một căn có ngầm chứa ảnh-hưởng bảy căn khác.
Trong một trần có ngầm chứa ảnh-hưởng bảy trần khác.
Trong một thức có ngầm chứa ảnh-hưởng bảy thức khá
Cũng như tám nấc thang, tám khoảng đường ai cũng có thể đi tới đi lui tự mình.
  1. Nước đất một loại.
  2. Cỏ cây một loại.
  3. Thú người một loại.
  4. Trời Phật một loại
Nước, đất, cỏ, cây, thú có ác trần
Người, Trời, Phật có thiện trần.
Người sau khi chết còn trở lại xác-thân tứ-đại, cho nên gọi tứ-đại có sáu trần. Trời cũng còn trở lại, nên gọi chúng sanh. Chỉ trừ ra Phật đứng vững.
Người có lòng nhơn chứ không phải xác thân. Xác thân tứ-đại giống thú vậy cho nên căn của người, Trời, Phật là ý, trí, tánh không có hình dạng. Trần của người, Trời, Phật là pháp, huệ, chơn, không có hình dạng. Thức của người, Trời, Phật là tưởng, hiểu biết cũng là không không.
Trong tám căn cũng chia ra làm bốn loại:
  1. Nước, đất một loại.
  2. Cỏ, cây một loại.
  3. Thú, người một loại
  4. Trời, Phật một loại
Nước, đất, cỏ, cây, thú có ác căn.
Người, Trời, Phật có thiện căn.
Người sau khi chết còn trở lại xác thân tứ-đại, cho nên gọi tứ-đại có sáu căn. Như vậy là trong địa-cầu này, kể từ ngưới sắp xuống là có: sáu căn, sáu trần, sáu thức là 18 giới đứng chung: còn hai căn, hai trần, hai thức của Trời, Phật là sáu giới đứng riêng phía trên. Trời và Phật mặc dầu lúc còn đang mang xác thân tứ-đại, hình tướng, thú người, mà tâm, thức căn, trần riêng cành giới, bởi không cố-chấp ô nhiễm, chỉ sống cho chúng-sanh, chớ không có sống cho mình, nên không gọi là kẻ ở trong trần được
Vả lại bậc Phật mới có cái ta chắc chắn mà cái ta ấy gồm tất cả của hai mươi bốn giới, thành ra cái chơn-như tự-nhiên, không có hình tướng, không có tự-cao, không trong trần cảnh. Còn chúng-sanh cố-chấp mê lầm ngã-mạn xưng ta, cái tật ham, sân,si, trong trần, tự cho cái căn là ta, hay thức là ta, là hiểu lầm theo duyên cảnh, chớ nếu phân tích ra kỹ-lưỡng, những thức căn, trần thì không có cái ta, chủ, chỗ nào hết, chỉ là các pháp không có bổn-ngã, cái ta: cũng như nầy là đất,nước, nầy là rể va thân cây, nầy là lá, nhánh, trái, hỏi vậy chớ chủ của cây, là cái gì? Tức là không có chủ, vì là cái nào rồi cũng hoại hết.
Sau rốt, người ta chỉ một trái chín, khô, có hột, mộng, cứng để đời, là thì đó mới là cái ta vậy. Thế thì tất cả gom về cái hột, hột ấy mới là ta. Chư Phật mới có ta, chúng sanh chưa có ta, hay chỉ có cái ta giả-dối, tội-lỗi, non nớt.

III. THUẬN THEO CĂN LÀ TIẾN-HOÁ Loài người là một loại chung với thú, nhưng người thiện được hai phần, ác chỉ có một, còn thú ác đến hai phần, thiện chỉ có một. Người là nhơn: nhơn-đức, nhơn-từ, nhơn-ái. Người là đức từ-ái làm đầu. Nhơn cũng nghĩa là không sát hại. Bởi loài thú hằng giết hại nhau, nên người xưa kêu loại nầy là loại nhơn, vì nó không hay giết hại.
Người chỉ là tiếng nói, tên gọi chứ không có chi là người. Căn của người là ý. Thức của người là tưởng. Trần của người là pháp, thảy không hình thể.
Nhơn người cũng nghĩa là hạt giống. Người, là có bậc có được hột giống ta, nhưng còn non-nớt, tham-lam, thiếu-thốn, dục-vọng, chưa được nhu Trời là đại-nhơn, Phật là lão nhơn. Người là tiểu-nhơn trên loài thú, dưói bậc Trời; người ở bậc giữa. Người có lời nói như thịt cơm của hột, việc làm như vỏ của hột, ý tưởng như ngòi mộng của hột. Ý của người là tham, sân, si. Người thường lấy sự tưởng tượng làm mình, chưa biết nghỉ suy, còn mến thích say-sưa các pháp, pháp hữu-vi, vật-chất việc làm cùng lòi nói, cãi-cọ. Bởi sự sanh-sản tiến-hoá, từ trong trần mới ra, nên chỉ biết có trần thôi. Những kẻ mới tấn-hoá còn tánh thú, rất hung dữ. Loài người, sự học thì học để kiếm ăn, cho sung-sướng, dễ dàng khôn-khéo bóc-lộc. Loài người, là loại làm biếng nhứt, ham tìm sung-sướng về thức ăn, sự mặc, chỗ ở, chen-chúc trong trần để tìm cái ngủ ngon mà thôi.
Loài người sợ khổ lắm, cho nên ý căn rất mạnh, như con ngựa lôi kéo cái thức đi nhập thai trong trần, để sanh căn ra nữa, đặng hưởng trần, mỗi lần sau khi chết, căn cũ hoại.
Càng sợ khổ, càng tìm vui, chen-chúc trong trần càng sâu tức là càng ngộp lắm. Qúa tham-lam mà khổ, lại tức giận hung-ác và mê-muội tối-tăm. Bởi còn xác thân trần, chỉ biết trần, loài người ít ai chịu học hỏi tìm hiểu chơn-lý, lẽ-thật, nguyên-nhân của mình; vì vậy mà rất ác, giết người giết thú chẳng xót thương, lắm kẻ đến đỗi không biết thương và nhớ công ơn cha mẹ.
Loài người trước kia là loại ăn lá trái, bởi cổ-nhân nguồn gốc vượn khỉ; nhưng vì sự ham ngon vui mà tập ăn dùng huyết-nhục quen lần. Người là loại ham sống nhứt, nhưng bởi ham vui sướng mà phải chết mau v.v…Lắm kẻ đến già chết, khi bệnh sắp tắt hơi mới tỉnh ngộ, nhưng đã trễ rồi; bởi con người phần nhiều lớn tuổi mới có trí, biết sợ khổ mà chán trần.
Loài người như kẻ bị chôn ngộp chết chìm trong nước đất. Thân căn như nhà, mắt, tai, mũi, lưỡi là cửa, ý căn như kho vựa. Ngoài sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp sáu trần tuôn vào mãi mãi là của cải. Tưởng-thức là chủ cùng bọn gia-nhân, thấy, nghe, hưởi, nếm, rờ, chạm, làm việc chẳng hay ngừng, lắm khi trần nhiều, vô-minh mà bị chôn, lấp sâu, chết, ngộp là quá khổ. Loài thú khổ thân, loài người khổ ý. Người sướng thân mà ý mệt nhọc hơn. Người sống dai hơn thú, là bởi cũng có chút lòng nhơn với nhau. Người lấy ý làm chủ nên bị mắt, tai, mũi, lưỡi thân bao vây: sắc thinh hương vị xúc, pháp nhận lấy; thấy nghe hưởi nếm, rờ tưởng hành phạt. Người như một kẻ tội nhơn trong khám, khổ trong tù. Mắt tai mũi, lưỡi miệng, thân sanh ra ý. Sắc, thinh, huơng, vị, xúc pháp tập thành ý. Thấy nghe, hưởi nếm rờ, tưởng nuôi tạo ý; để rồi mà nhốt phạt hành hà. Nhưng dầu sao loài nguời thứ sáu cũng khá hơn loài thú, cỏ, cây, khổ chết là chịu, chớ không tìm phuơng trốn tránh. Người muốn thoát khổ hãy đến cõi Trời và Phật. Chúng sanh là từ trong cái khổ sanh ra, và đi đến cái tột vui kêu là đạo. Lúc đầu mới sanh ra kêu là vui, lâu sao biết khổ mà vượt lên và lên mãi. Chúng sanh tiến lên theo trình-độ của cái thức hễ đi tới là vui xuôi thuận, đi lui là khổ ngược nghịch.
Vậy nên, qua khỏi hai căn, hai trần, hai thức là cỏ.
Qua khỏi ba căn, ba trần , ba thức là cây.
Qua khỏi bốn căn, bốn trần, bốn thức là thú
Qua khỏi năm căn , năm trần, năm thức là người
Qua khỏi sáu căn, sáu trần, sáu thức là Trời
Qua khỏi bảy căn, bảy trần, bảy thức là Phật

     LOẠI                                 TRẦN                                      THỨC                               CĂN
1. - Nước                                 Sắc                                          Thấy                                        Nhãn
2. - Đất                                    Thinh                                       Nghe                                       Nhĩ
3. - Cỏ                                     Hương                                     Hưởi                                        Tỹ
4. - Cây                                   Vị                                            Nếm                                        Thiệt
5. - Thú                                    Xúc                                         Rờ                                           Thân
6. - Người                               Pháp                                        Tưởng                                                 Ý
7. - Trời                                   Huệ                                         Hiểu                                        Trí
8. - Phật                                   Chơn                                       Biết                                         Tánh
Cũng như nguời đem mình đến cảnh giới Trời, Phật, là rất vui, hay, phải, bằng người mà đem mình xuống như loại thú, cỏ, cây, tức là khổ, trật, sái không thể nào yên. Trẻ nhỏ tập theo người già có thể được, người già trở lại như trẻ nhỏ rất khó coi. Thế mới biết yên, vui, thiện, lành là đi tới.
Sự tiến hoá của chúng-sanh bắt đầu cũng như người ngủ, hay như đứa trẻ trong thai bào:
  1. Từ có nước trước, mới đến đất, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật.
  2. Từ có sắc trước, mới đến thinh, hương, vị, xúc, pháp, huệ, chơn.
  3. Từ có thấy trước, mới đến nghe, hưởi, nếm, rờ, tưởng, hiểu, biết.
  4. Từ có mắt trước mới đến tai, mũi, lưỡi thân, ý, trí, tánh.
Cảnh giới nào cũng có nhà (căn), của cải (trần), quyến thuộc (thức) nương theo. Loại nào cũng vậy: Thức như đầu, căn như mình, trần như chân, gồm đủ ba phần gọi là một thể. Mỗi một thể có hai mươi bốn giới, mỗi một giới này có hai mươi ba giới kia. Những bậc thấp thì có giới đã sanh, giới đang sanh và giới chưa sanh. Những bực trên thì giới đã sanh, giới đang sanh. Cho nên gọi là Phật, Phật tức chúng-sanh, chúng-sanh tức Phật, đồng một thể chỉ khác nhau nơi trình độ, là đã già hay chưa già, sớm trể đôi ngày. Nhưng nếu chúng-sanh biết kỉnh Phật, bậc tiền bối thì chúng sanh tiến-hoá mau, biết mục đích sớm là không khổ. Bằng không ưa tức là vô đạo, không đường khi lui khốn họa.

IV. LỤC CĂN THANH TỊNH Lục căn thanh-tịnh tức là sáu căn trong sạch, vì loài người có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý: thiện là trắng, ác là đen, không-không là trong sạch, có-có là dơ bẩn, lục trần là chất bụi, dính vào khó rửa phủi cho ra. Đóng bụi dơ thì ngộp khổ, nhiễm vật-chất mới chết, mới ác hung. Lục-trần như nấm mả, lục-căn trong trần như thây ma, lục-thức như vòi tửa. Loài thú thấp hèn cho loại người là sung-sướng, với sắc tốt, tiêng thanh, mùi thơm, vị ngọt, vật êm, đồ khéo. Trái lại loài người đã quá khổ chán rồi, mới thấy trần là dơ dính khó chùi, vì nó mà tham, sân, si độc ác; ở trong nó con người và thú in như nhau. Người ta muốn lên cao Trời, Phật bởi đã kinh-nghiệm, được học nên xa lánh cõi người, dứt bỏ lục-căn, quét sạch lục-trần, tránh xa lục-thức làm Trời, Phật vui sướng nhẹ-nhàn chắc thật . Lấy tinh-thần làm vật-chất, lấy đạo-lý làm sự đời, mới là trong sạch.
Cũng như học trò lên lớp, sống mực thường bền dài, yên vui hơn cái tham-lam thái quá rồi bất-cập, đã không rồi mà khổ mãi.
Tiếng nói sát lục-căn, trảm lục-trần, diệt lục-thức không phải là giết bỏ nó, mà hãy sống, bằng hiểu biết lấy lý-tánh làm căn, huệ chơn làm trần, đem mình làm Trời, Phật, bỏ qua, quên mất, coi như không, đừng cố chấp, tham vọng, cảnh giới của người, thú, cây, cỏ đất, nước nữa, mới hết khổ, mới yên vui và tấn-hoá được. Có không tiếc, không ham tưởng thật, mới giác-ngộ giải-thoát trong sạch tiến-hóa.
Nơi loài người có mười tám giới:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thiếu xấu là ác căn.
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nhiều tốt là ác trần.
Thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ, tưởng có-có là ác thức. Tức là mười tám cõi địa-ngục
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lành tốt là thiện căn
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ít xấu là thiện trần
Thấy, nghe ,ngửi, nếm, rờ, tưởng không-không là thiện thức. Tức là mười tám cõi thiên đường
Mắt, tai, mũi, lưỡi, than, ý vọng động là ma căn
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp cấu loạn là ma trần.
Thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ, tưởng  mê nhiễm là ma thức. Tức mười tám cõi ma
Mắt, tai, mũi, lưỡi ,thân, ý chơn-như là Phật căn
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp tịnh-định là Phật trấn
Thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ, tưởng không mê nhiễm là Phật thức. Tức là mười tám cõi Phật

V. LOÀI NGƯỜI QUÊN CĂN BỔN Ta có nên bênh-vực, tôn-sùng, quí trọng loài người chăng? Không! Ta cũng không nên bảo thủ loài người nữa. Vì loài người cũng là một loạ thú đi hai chơn mà lắm kẻ lại quá tàn ác hơn thú. Thú chỉ có răng có móng, một con giết một con, mà không biết phá hoại vạn-vật. Trái lại nơi loài nguời cũng là vi-trùng của thế-giới, cũng là vòi tửa của trái địa-cầu, con sâu của cây võ-trụ mà có kẻ quá ác, quá gian; càng hay giỏi quỷ ma, càng moi móc xô đẩy, phá hoại làm cho mau hư cây trái, dể liều mình, giết cả muôn triệu một lần, làm nổ xẹp địa-cầu một cái, mê hoặc cả nhơn sanh, phá hoại người, Trời, Phật. Người nhờ thế tức hơn ma-vương tự chiêu kỳ họa, thương cũng không cứu họ được.
Sự thật nếu người làm thú, ăn thịt lẫn khau thì lại dữ hơn thú, mệt nhọc, vô-ích tai-hại biết dường nào? Còn những hạng nguời tấn-hóa hiền lương có đạo, thì chết sống đâu cần, êm-ái nhẹ-nhàn, ích-lợi tốt đẹp, giúp cho chúng-sanh tấn-hoá, nuôi dưỡng tứ-đại, giữ-gìn vạn-vật quí báu vô cùng, họ đã tư biết đường đi, nào phải đợi ai lo cho mà gìn-giữ bênh-vực.
Chúng sanh là học tro từ cái không biết đến biết, mục-đích là phải lên lớp, để mau thi đậu, đến chốn nghỉ-ngơi. Ai đi trước  đến trưóc, ai đi sau đến sau, kẻ sau theo người truớc.Thân người dầu mất, mặt đất bỏ hoang như nghỉ bãi trường lâu về sau cũng có học trò, tốp khác tụ lại, loài nguời khác sanh ra.
Loài người không phải sanh ra đặng lo đúc giống, hoặc lo ăn mặc ở, cấi xé đua tranh, danh lợi, tình yêu vô-ích quanh-quẩn cuống-cuồng, chen-chúc trong hầm trần chỉ sanh rồi diệt.
Kía ai học giỏi rất yên,kẻ thi đậu thì vui; trái lại lục-trần là địa-ngục, sẽ chon lấp nhận đè, kẻ đang bị lục-dục lôi cuốn, bắt đem nạp để hành-hình, lục thúc đau khổ sẽ chết đi, khó mà sống lại rất đáng tiếc: khổ quá điên, điên thì tiêu-diệtkhác chi là kẻ ở tù, càng hay giỏi, lại càng thêm nặng-nề trói buộc, đau khổ mà chẳng đến đâu
Đã đành là có trước mới có sau, có thấp mới có cao nhưng lên cao rồi ngó lại mới thấy là dơ-dáy ghê sợ. Kẻ thoát được lên rồi còn nghỉ lại thương giùm, cho những ai ai mảng sân, si tội-lỗi

VI. CĂN BỔN ĐẦU TIÊN Nói tóm lại: Quả địa-cầu trước kia là bọt nước. Mặt NƯỚC có màng, màng là tấm kiếng thấy kêu gọi là sắc-trần. Cái thấy hình dạng kêu là sắc-căn. Sự sống của nước kêu là sắc-thức. Về sau chúng-sanh có cái thức, xúc đối với sắc-trần sanh thọ-cảm, tư-tưởng tượng nhã-căn cho xác than huyễn-ngã, để sống cho tiện-lợi khỏi khổ “Nước có đủ màu”
Đất cù-lao nổi lên, đất là thể-chất đụng chạm kêu khua gọi là thinh-trần. Đất có lỗ trống, rút nghe thâu các thứ tiếng kêu là thinh-căn. Sự sống của đất kêu la thinh thức. Về sau chúng sanh có cái thức, xúc đối vơói thinh-trần sanh thọ-cảm, tư-tưởng tượng tỹ-căn cho xác than huyễn- ngã, để sống cho tiện-lợi khỏi khổ. “Cỏ có đủ mùi”
Cây do mùa tiết tứ-đại thay đổi, nên sanh ra lắm vị khác nhau, gọi là vị-trần. Cây có lỗ rút nế,m các thứ vị, kêu là vị-căn. Sự sống của cây kêu là vị thức. Về sau chúng sanh có cái thức, xúc đối với vị-trần, sanh thọ-cảm; tư-tưởng tượng thiệt-căn cho xác thân huyễn-ngã, để sống cho tiện lợi khỏi khổ. “Cây có đủ vị”; và cây là loại đã có thọ-cảm già, nên cây có thể nhập thai trong người, thú, hoặc làm ma tác quái được. Thọ-cảm là thức ưa chịu, cũng kêu là thọ-thức.
THÚ do ấm tứ-đại và cây cỏ sanh ra dủ cách khác nhau, tác dụng nó gọi là xúc-trần, thân hình có đủ tay chưn, đi đứng, nắm rờ đồ vật, kêu là xúc-căn. Sư sống của thú kêu là xúc-thức. Về sau chúng sanh có cái thức, xúc, đối với xúc-trần sanh thọ-cảm; tư-tưởng tượng thân-căn là xác thân huyễn-ngã, dể sống cho tiện lợi khỏi khổ. “Thú có đủ thân thể”. Và thú là loại đã có tư-tưởng già. Nên thú có thể nhập thai thú, người hoặc làm ma-quái hay sanh vào cõi Trời. Tu-tưởng là thức tưỏng tượng cũng kêu là tưởng-thức
NGƯỜI là một loại thú tiến-hoá. Bởi có tay, chơn, rờ xúc làm việc; lâu ngày mới sanh ra các pháp, các việc hay khéo, chế biến mở mang, theo sự vô-thường tương-đối sanh ra pháp-trần. Người hay lo nhớ, tưởng về các sự việc kêu là pháp-căn. Sự sống của người, kêu là pháp-thức. Về sau chúng sanh có cái thức, xúc đối với pháp-trần sanh thọ-cảm, tư-tưởng tượng ý-căn cho xác thân huyễn-ngã để sống cho tiện lợi khỏi khổ “người có đủ phương pháp” và người là loại đã có hành vi già, nên có thể nhập thai người, thú hoặc làm ma-quái lam Trời. Người có thể thành Phật, đi tắt, nhảy lớp. Hành-vi là thức củ-động cũng kêulà hành-thức. Ý-căn là sự muốn và cố-chấp rất mạnh của thức. Sau khi chết bỏ xác, ý-căn còn là một cái bóng dạng thân người chưa tan bởi thức, có kẻ gọi là bóng vía hay thần hồn.Nếu là bậc có tu-luyện rèn tập, tư-tưởng được định, ý thêm cứng vững và lộ rõ-rệt, có thể xuất-nhập ra vào và biến hoá như Trời, Phật mà cũng như ma quỉ nữa. Trời Phật va ma quỉ lhác nhau ở chổ thiện hay ác, thật hay giả, chánh hay tà. Cái hình bóng ấy của ma quỉ hay kẻ ác thì đen, và có khi tan mau. Của Trời thì trắng bởi thiện và lâu tan hoại. Trái lại bóng xuất của Phật thì trong suốt, và chói rực sắc vàng gọi là kim-thân đời đời kiếp kiếp không tiêu hoại bởi thanh-tịnh, trí-tuê, bác-ái và không không các sở-chấp. Thân ấy mới thiệt chơn than, thân là ta hay thân Phật, thân của giác. Thân ấy tức là thức, cũng kêu gọi lả thân thức hay thân sống, thân của cái sống. Thân thức sống ấy phát sanh từ nơi ấm của tứ-đại. Trước nhứt cỏ là con của tứ-đại hiệp thành. Cỏ mọc lên, là bởi phía dưới đất đặc, ăn xuống không được nên đâm vượt lên khoãng trống không và bởi có rể nuôi sống thêm, rút chất nhựa phía dưới, nên lá ngọn càng vượt lên mãi, cái ấm nhựa không phải tròn hay dài nhứt định, hình của nó tuỳ theo kẹt đất đá. Bởi càng nở lớn, tuỳ theo kẻ đất mà mọc tay chơn, cũng gọi miệng ăn đất. Phía trên khi vượt khỏi đất rồi thì gặp sương tuyết nắng mưa, nên nó cũng nhóng lên, và đâm tủa ra để hứng ăn. Cả khắp mình cây đều có lỗ trống là miệng; khi thiếu ăn uống nó biết bò ngã theo phía có nước để kiếm ăn. Cỏ là một vật sống tuỳ duyên cảnh mà ra hình thể. Theo loài người thì gọi nhánh lá là trên, chớ loại côn-trùng trong đất ắt xem rể cỏ là tàng nhánh ở trên vậy.
Thân thú, thân người ở nơi khoảng trống, là theo thể thức của cỏ cây từ trên mặt đất; đó là nguồn gốc của sự sanh thân. Cây cỏ là loại trong đất nước sanh ra, nên đầu miệng ở dưới; đuôi miệng ở trên, trái hoa là chất tinh-ba hột giống của nó. Phần tiểu của cỏ cây tuôn ra, trên là mũ và chất thúi dơ. Cái thức của thú vì duyên cảnh của khổ ép ngặt mà tượng sanh đầu đuôi ngang nhau và khi đến loại người thì đầu trở lên, chân trở xuống. Hình thể của thân mỗi lúc tuỳ duyên biến sửa, do nơi thức và sự ép ngặt là khổ.
Cái thọ-cảmcủa cây giống như một làn khói. Cái tư-tưởng của thú là làn khói ấy kết đặc thành hình, theo thân thể cố chấp tưởng-tượng của nó. Cái hành-vi của người là một hình bóng rỏ rệt của thức, khi đến tuổi Phật thì hình bóng ấy lại không tan và màu sắc của thức thân ấy lại do nơi sự thiện ác các pháp. Thân thể có từ nơi cỏ, hình bóng có từ nơi thân, thảy do nhân-duyên tập dần sanh nẩy.
Cho đến nam-căn và nử-căn tương-đối cũng vậy, không phải ai cho nam cho nử để sanh sản cả. Nam nử phát sanh tại loài cây. Cái ấm tứ-đại sanh cỏ là thức, tượng hình theo duyên, bởi chịu nắng mưa thay đổi là pháp tương-đối nơi ngoài, mà sanh cảm-giác tương-đối, khi ưa vầy khi chịu khác, kêu là thọ-cảm. Thọ-cảm có hai, hết thương đến ghét, hết khổ đến vui, hết mừng đến giận, hết thích ưa đến nhàm chán, khi thì muốn, lúc lại chê, bởi thọ-thức thay đổi theo chiều mưa nắng, pháp tương-đối bên ngoài. Tho-cảm tức là tình-dục phát sanh tại cỏ. Cỏ có thọ-cảm thành cây, cây có tương-đối  âm dương, đực cái theo duyên cảnh. Cây có lần tư-tưởng mà sanh thú, thú có đực cái theo hình thức cây. Và loài người có nam nử là bởi hành-thức theo thú. Trời cũng còn bóng thức của người, nên có Tiên- nữ, Tiên- nam. Chỉ trừ ra Phật là cái sống tự-nhiên chơn thật tuyệt-đối, không còn phân biệt bởi đã trọn sanh, trọn lành, cho nên hết khổ trọn vẹn. Tương-đối là pháp vô-thuờng khổ-não, còn phân biệt là cái ta chưa nhứt định.
Vậy thì cỏ sanh tình thọ làm cây đực cái. Cây tuy đực cái nhưng chẳng giao dâm. Đến thú tư-tưởng mạnh khó dằn mà giao-cấu. Chất tinh-ba là giống của cây, thú, người, sanh bông, trái, hột, trẻ con. Người còn nhục-dục theo thú. Trời biết là sái quấy khổ hại nên đã bỏ rồi. Phật là chơn-nhơn nên trong sạch không-không tự nhiên sau khi giác-ngộ. Đã giác-ngộ tởn sợ, được kinh-nghiệm, đã học rồi, chán-nản rồi mau lo tiến-hoá, diệt khổ an vui, là chót hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment