KHẤT-SĨ.
Khất-sĩ là học trò khó đi xin ăn để tu học. Khất-sĩ là cái sống của chơn-lý võ-trụ, mà tất cả chúng-sanh đều là học trò cả thảy, bởi chúng-sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết, và cái biết sẽ hoàn-toàn ngơi-nghỉ. Các sự thấy nghe hiểu để đem lại cho cái biết, biết quí báo hơn không biết, có biết mới hết mê lầm chấp trật, khổ sở nạn tai. Từ nhỏ đến lớn từ thấp đến cao từ trước đến sau, từ chiều đến sáng, mỗi lúc cái biết càng phân-biệt, làm việc tích-trữ, lớn to và đi tới, làm cho chúng-sanh càng ngày càng được thêm sự học-hành. Chúng-sanh đây là căn thân và chủ thức (là người nhận biết) cho nên cái biết chủ cần phải sống, lớn, ăn, vui, yên và còn mãi mãi. Chính biết là ta, là mục-đích của chúng-sanh, là chơn-lý của cuộc đời, là tinh-ba của võ-trụ, chính chơn-lý hay triết-lý mới là môn học thực-tế, lợi-ít đi ngay đến Niết-Bàn, kêu là đạo, là sự học không hai, là cái học của ta, nó ở với ta, nuôi sống cái ta, nó làm ta vậy.Học chơn-lý để biết rõ, chúng-sanh vạn-vật và các Pháp đặng đem lại một cái sống, như thân hình võ-trụ nối thay cùng tạo-hóa dạy khắp muôn loài, một địa-vị toàn-giác toàn-năng, tối cao hơn trời đất, cứu độ cả chúng-sanh, khắp thế giới chúng-sanh thảy tự đem mình tôn kính.
Chính Phật là Vô-Thượng-Sĩ, là ông thầy giáo có sự học không ai hơn, còn Tăng là Khất-Sĩ, là học trò đang đi du học khắp nơi cùng xứ, học nơi thầy, nơi bạn, nơi trò, học với tất cả chúng-sanh, vạn-pháp các pháp, học với Phật, Pháp, Tăng ba đời, học từ xóm, làng, tỉnh, xứ, đến khắp các xã-hội thế-giới chúng-sanh, học nơi biết chữ, nghe lời nói, học bằng lo-lắng nghỉ-ngơi, học nơi sự thật-hành, học nơi cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, đất, nước, lửa, gió. Tạm sống xin ăn tu-học đi ngay chơn-lý chẳng chút xao-lãng, không màng khó nhọc, và bá-tánh là cư-sĩ kẻ đã lở hội đường, hoặc vì tai-nạn, nên phải đành kham thiếu thốn, tập học ở một chỗ nơi để đặng chờ ngày giải-thoát.
Biết ra mục-đích của sự học, loài người, nên gọi người là lớp chót, Trời là lớp nhì, Phật là lớp nhứt, còn thú vật với cỏ cây như trẻ nhỏ mới sanh, chưa có sự học chưa biết học, không biết lớp trường chi cả. Trường-học là võ-trụ, chúng-sanh là học-trò, các pháp đổi thay tiến-hóa là bài vở vạn-vật là món tạm dùng. Có học để thi đậu đắc quả yên vui đặng tránh cái dốt nát vô-minh, chết khổ điên cuồng của cỏ cây loại thú, có học mới biết đầu trên chân dưới, sự sống của khắp thân mình, mới có mắt sáng thấy đường, biết điều ăn mặc. Học là quí nhứt, trúng đường, hơn là sự ăn chơi nô đùa liêu-lổng.
Muốn học không phải ở một chỗ, mà cần phải bước lên đi tới phải đi theo thời duyên cảnh ngộ của nước gió không ngừng chớ đừng cố cượng. Vì chính sự ở một chỗ, giữ một bài, một lớp là khổ não vô-minh, si mê thất học, càng đứng, ngồi, nằm một chỗ, càng thấy nóng nẩy sân hờn, và lại bụi lấp xấu dơ, tham lam đen nặng. Vậy muốn được học, nếu là kẻ thật học, thì phải ra người khất-sĩ, khó hèn, để hạ lòng tự cao dốt-nát, đặng rèn nuôi chí nhẫn, và thông-thả học-hành, ngao-du thiên-hạ,vừa là tự mình đi tới, và dắt lần những kẻ khác cùng theo, cho đúng theo lẽ trước, sau thời-gian khách tạm, vô-thường vô-ngã.
Ngoài khất-sĩ ra không có pháp thứ hai, để diệt tham-sân-si được, mà nếu tham-sân-si không diệt, thì người ta với cỏ cây thú có khác chi nhau (cỏ vốn si-mê không biết, cây có tình, thọ là sự tham-lam, thú dành ăn tham lam và sân giận). Cũng như trẻ nhỏ ở trong bụng mẹ si-mê, lúc mới sanh đòi ăn tham lam, và đến năm sáu tuổi lại tập giận hờn. Cho nên gọi tham sân-si là con trẻ nhỏ nhít hẹp hòi, không giống như người lớn, cái lớn là không tham-sân-si nhỏ hẹp.
Trẻ con tham-sân-si là phải, vì ta gọi nó là trẻ con, nó chỉ tìm yên vui là sự độc-ác, mà nhờ được mọi người tha thứ, nên nó mới dễ duôi quen tật, nó như cỏ cây thú, nào có dạy học được ở nơi trường, cho nên nó mới hoang-đàng rong dạo. Trái lại khi loài người đã lớn, có trí biết học, ai ai cũng vào lớp chót của trường đời, và vượt lần lên lớp trên của người lớn, vậy thì chúng ta đã là người lớn, lớp nhì hay ông già lớp nhứt, xem mình là Trời Phật, nào có ai dám gọi ta là trẻ con, mà trẻ con là tham-sân-si độc ác, ta cần phải dứt trừ mau sớm, bố-thí trừ tham lam, là sự lớn, cao, rộng, nhẹ, sạch, trong. Nhẫn-nhục trừ sân-giận, là sự nở nang mát mẻ vui tươi, tinh tấn trừ si-mê, là sự đi nhiều học rộng sang, bong, chói ngời, lau chùi mãi-mãi. Cho nên gọi rằng: Bố-thi nhẫn-nhục, tinh-tấn là lớn, tham sân-si là nhỏ, cái nhỏ như bị bó chặt, như lửa đốt tóp co, như vào trong hang trứng. Nhờ bố-thí đến được trì-giới xuất-gia khất-sĩ giải-thoát chứng quả vô-sanh bậc hiền thánh, nhờ nhẫn-nhục mà đến được sự nhập-định yên-lặng, có thần-thông quả-linh, chứng quả Duyên-Giác như tiên, nhờ tinh-tấn mà đến được trí-huệ, suốt thông đạo-lý giáo-hóa chúng-sanh làm chư Bồ-Tát, thi hành Phật sự theo đường vô-lậu đến quả chơn-như, Niết-Bàn hưu-trí. Như vậy tất cả chúng ta nhơn loại thảy đều là khất-sĩ, vì chúng ta đã lớn và sắp lại già, cái già đủ học toàn-giác Phật, của chúng ta phải cho đúng luật-phép, mới chẳng phải là trẻ nhỏ, để gương hại dạy quấy cho đời, còn mình thì lại nhẫn lùi, đi chui vào bụng mẹ, tập tiếng xưng con, để chịu khổ thân đời tới, vả lại thời duyên cảnh ngộ, nào có cho ta đứng yên một chỗ bao giờ.
Tiếng “Khất” có nghĩa là xin, lẽ xin là chơn-lý của võ-trụ, mà chúng-sanh, kẻ thì xin vạn-vật để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí, ai ai cũng đều là kẻ xin cả thảy, hoặc đi xin, hoặc đứng xin, hoặc ngồi xin, hoặc nằm xin, hoặc ở một chỗ xin, hoặc đi cùng khắp xứ xin. Xin cái ác, xin điều thiện, xin đạo-đức, xin quả người, Trời, Phật, xin vật-chất, xin tinh-thần, xin địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, đất xin nước, đất mới sống, khỏi chết khổ, cỏ cây xin đất, nước, mới sanh chồi mọc nhánh, thú xin đất nước cỏ cây mới có đi chạy. Người xin thú, đất, cỏ, cây, đất, nước, lửa, gió mới có nói làm, Trời xin người thú, cây, tứ-đại mới sanh thức-trí, Phật lại xin nơi Trời người, thú, cỏ, cây tứ-đại mới được giác-chơn.
Có hai thứ xin:
- Xin vật-chất (vạn-vật) để nuôi thân
- Xin tinh-thần (các pháp) để nuôi trí
Vậy nên tiếng Khất-Sĩ là chỉ có nơi người, Trời, Phật mà thôi, vì thú, cỏ, cây chưa có trí để học, chúng-sanh địa-vị càng cao thì sự xin càng nhiều hơn là ở lớp thấp. Như cỏ, cây chỉ có một cái xin nơi đất, nước, chớ Trời Phật thì xin tất cả nơi các Pháp và vạn-vật, nên mới được đầy tâm, đủ trí gọi là Phật Trời, sự xin ấy có khác hơn thú, cỏ, cây, là xin để trau dồi tâm trí học-hành, xác thân bỏ quên không lòng mến tiếc, chớ chẳng phải là sự tô-đắp nung dồi sắc thịt huyễn-ngã không công. Biết xin, tự người cho, xin cỏ, xin cây, xin thú, xin nơi người, Trời, Phật, mỗi mỗi đều xin, lễ-phép chứ không tự mình ngang giựt như thú, cỏ cây, càng bướng chen đùa. Lẽ xin thật là tốt đẹp hơn các lối ăn, ăn lén, ăn vụn, ăn thầm, ăn càng, ăn bướng, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, ăn gian, ăn lận, ăn lường, ăn bốc lột, ăn trên đầu, ăn liều mạng, ăn hốp tốp v.v…Chính sự xin pháp-bảo để ăn, xin lòng tốt của người để sống, xin vật thiện để dùng, cái xin ấy mới ích-lợi cho đời hơn hết, thiện chớ không phải ác.
Tất cả chúng-sanh ai cũng là thiếu sót, những cái cần xin, dầu nhiều dầu ít, đều phải xin lẫn nhau trong hằng ngày. Ngay từ vua quan, giàu sang, nghèo hèn, dân, tội, ăn mày, khùng dại, thảy đều có sự xin cả thảy (cái xin trong sạch hay là cái xin nhơ bẩn).
Giáo-lý ăn xin để bỏ cái ta độc-ác, khổ-não, mà sống theo lẽ vô-thường, tiến-hóa như vầy: Ta sống giúp cho tất cả, và tất cả sống giúp cho ta, như là một thân-thể to lớn liên-lạc, như bàn tay làm việc chùi lau cho cả cơ-thể, chớ nó không tự rờ rẫm săn-sóc lấy nó được, con mắt ngó xem ra khắp nơi, mà không hay thấy nó, miệng ăn cho bao tử nuôi thân, chớ không bao giờ giữ lại miếng ăn nơi mồm ngậm… Nghĩa là cả cơ thể đều làm việc cho nhau, sống cho nhau, nếu một bộ phận đứt riêng rời là khắp nơi đau-đớn, và lần hồi chết hết. Vậy nên sự dời đổi gia-đình xã-hội, đất, nước, lửa, gió, cỏ, cây thú người, Trời, Phật, vạn-vật các Pháp chúng-sanh, cũng là do lẽ sống chung không cho tư-kỷ ấy. Giáo-lý ăn xin là sự chan hòa cho nhau, tức là công-lý võ-trụ, là Pháp-Bảo hay chơn-lý, triết-lý nhiệm màu, người nầy nấu cơm người kia ăn. Người khác may áo người nọ mặc, kẻ nầy cất nhà, kẻ kia ở, kẻ khác lo thuốc cho kẻ nọ đau, đời người hết sống đến chết, rồi trở lại sống và chết nữa. Cha con thay đổi, vợ chồng thay đổi, mỗi kiếp thay đổi, thay đổi để không nhàm chán, chẳng riêng tư. Có thay đổi mới nảy trí sanh tâm, càng si vọng động, điên cuồng khổ sở, đặng bỏ dưới thấp lên trên cao.
Cho nên từ ngàn xưa kẻ đã giác-ngộ chơn-lý ấy, như Phật Tiên hiền thánh, thảy đều bát cơm bầu nước, bay khắp non sông, trôi vòng thế giới, để đến với danh từ Khất-sĩ hầu hưởng quả Vô-Thượng-Sĩ ngày mai. Các ngài không phải là hạng khất-cái, thấp hèn như cỏ cây thú chỉ tìm sống, cái sống chẳng đợi ai cho, sống để rồi chết, trong cái vô-minh tàn-ác. Chính Khất-sĩ là quí báu nhất trong đời, là bậc hiền nhân chăm học, là bậc đủ can-đảm vượt qua cõi Trời người, vất bỏ tham-sân-si, diệt cắt dây ái dục, bay khỏi lục trần, lục căn đã như già chết, là bậc mà đường trần bụi, chẳng còn đáo lại để phải dính dơ, là bậc mà ít người theo được, bởi thiện căn phước-đức nhơn-duyên thiếu sót và nghiệp quả chẳng chịu buông tha điều bắt phạt.
Từ hạng bậc xin bằng thân, xin bằng trí, xin bằng tâm, chỉ có kẻ khất-sĩ là xin bằng tâm, cái xin cao-thượng trong sạch hơn hết, tự người hảo tâm cho chớ không điều ép buộc. Khất-sĩ xin ăn để răn lòng tội-lỗi, đi xin để đền nghiệp cũ, đặng sớm nghỉ ngơi mau hết vốn lời, đi xin để nhịn nhường bố thí của cải lại cho chúng-sanh. Đi xin để làm gương nhơn-quả tội-lỗi, cho chúng-sanh ngừa tránh, đi xin để đừng phạm tội-lỗi mới, đi xin để có thời-giờ ăn học, đi xin để giáo-hóa chúng-sanh, đi xin để không tự cao dốt nát, danh-lợi, sắc-tài, đi xin để giải-thoát phiền não và để un-đúc tâm hồn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bản năng. Có đi xin mới có từ-bi hỷ-xả, trí-huệ thông-minh, cõi lòng mát dịu, rộng mở bao la, lặng yên sạch-sẽ, có đi xin ăn học mới là thiện, kẻ không đi xin thất học là không thiện. Người đi xin ăn học, quí hơn là kẻ ở học một chỗ, học có người nuôi, thiện hơn là người tự nói làm ác quấy để ăn học, có đi xin mới học được chơn-lý, là môn học quí nhất, hơn các lối học khác mênh-mông. Chỉ có chơn-lý mới là đường đi ngay, mới tạo nên người thật học, được học đúng-đắn vĩnh-viễn.
Khất-Sĩ có ba bậc: Thinh-Văn, Duyên-Giác và Bồ-Tát.
- Khất-Sĩ Thinh-Văn là bậc đã nói trên, đi du học toàn xứ, hy-sinh xác thân vật-chất, xã gia-đình
- Khất-Sĩ Duyên-Giác là bậc tu trì nhập-định, sau khi đã giác-ngộ, các pháp nhơn-duyên của vô-
Khất-Sĩ Duyên-Giác là bậc đi du lịch, ta-bà để thật hành pháp giải-thoát, hưởng quả an-lạc Niết-Bàn. Là bậc thanh-tịnh, nhập-định chưởng thần-thông, Khất-Sĩ Duyên-Giác là kẻ khổ-hạnh, thấp-thỏi thiếu-kém, rách rưới bần hàn, là bậc đi giác-ngộ, cảm-hóa kết-duyên cùng chúng-sanh, để sau này hóa-độ.
Khất-Sĩ Duyên-Giác không hay nói pháp dạy người, nhưng những ai coi theo gương, cũng đủ tu hành đắc đạo. Duyên-Giác là thầy của Thinh-Văn, là sự khổ hạnh, phá mê dung-dưỡng, người ta hằng ví bậc Khất-Sĩ Duyên-Giác, cũng như vị hung thần, mà các kẻ tu hành phá giới bất chánh không nghiêm phải sợ-sệt. Chính bậc Khất-Sĩ Duyên-Giác là một vị phước thần, thỉnh-thoảng xuất hiện trong thời kỳ không có chư Như-Lai hay Bồ-Tát để đem gương Phật nhắc nhở cho hạng Thinh-Văn, kẻ nào thấy gặp đuợc cũng bằng như gặp Phật.
Khất-Sĩ Duyên-Giác là bậc đối trị với pháp thế-gian, vạch đường giải-thoát cho muôn loài tránh khổ. Bậc Duyên-Giác đi xin, để đền nghiệp cũ, đi khắp nơi để chịu chúng khảo hành cho mau hết xong nghiệp quả trong kiếp một, đi xin để cho hay trong thiên-hạ rằng mình sẽ lìa cõi thế đến Niết-Bàn, để cho mặc ai muốn trả đáp điều chi tự ý (hoặc đòi hỏi hay bố-thí cúng-dường). Đi xin để vất bỏ tham-sân-si ái-dục, đi xin để đem thân làm ruộng phước tốt đẹp cho kẻ mong cầu cúng thí đặng gieo giống Phật, diệt lòng ma. Chính sự không nói làm sái quấy, là phân chất nước trong tốt đẹp, để cho người xem thấy đó, mà nảy phát thiện huệ chơn-tâm, hột giống đặng đem gieo trồng có chỗ tưới vun.
Khất-Sĩ Duyên-Giác lượm vải rách mà đâu lại thành áo, để khuyên người dư-dả bớt se sua chưn dọn, và an-ủi kẻ thiếu rách nghèo nàn, làm gương tiết-kiệm cho chúng-sanh. Thật vậy, dễ ai mà kiếm đặng cái nghèo như người Khất-Sĩ, nghèo không một đồng xu, áo không có túi, ai cho bạc vạn cũng không màng, nghèo không một hột gạo, ai cho kho vựa cũng chẳng ham, mặc áo lượm vải bỏ, ai cho đồ tố sa, không chịu nhận, nghèo mà không ham, ăn dư để cất dành đêm, ai dư cơm thí bỏ xin ăn, chớ chẳng hề ăn lương ngon cá thịt. Ăn trộn lộn xộn, không phân mùi vị, để lật đổ miếng mùi ngon, ăn ngày một bữa, dầu vua thỉnh ăn thêm cũng từ chối, chính khất-sĩ là kẻ thật giải-thoát, vì có đi xin ăn mới đặng tránh cái giả-dối, tội-lỗi, sát-sanh trộm cắp, dâm dục, nói dối, khoe-khoang, đâm thọc, rủa chửi, uống rượu say sưa. Vất bỏ ngôi vua, nơi ghế cao, giường rộng, chiếu lớn, chỗ xinh đẹp, chẳng màng vị quan, nơi xem nghe hát múa đờn kèn, chỗ vui đông yến tiệc. Không ham giàu có, nơi phấn son dầu-hoa áo quần trang điểm. Chưởng trí-huệ ngày ăn một bữa, nuôi tánh chơn chẳng rớ đến bạc vàng vì vậy mới đi xin.
Khất-Sĩ đi xin ăn mà chẳng than van, không có gì hết mà chẳng than nghèo, đầu trần, chân không, đội trời, đạp đất, sương màng cỏ chiếu, mà chẳng bao giờ chán nản. Khất-Sĩ khuyên lơn người giàu, an-ủi người nghèo, làm gương không không, tránh khổ cho người khác giác-ngộ. Khất-Sĩ cảm hóa kẻ ác, dạy dỗ người thiện, để dấu hoa sen không ô-nhiễm vào nơi trí óc tâm người, vạch hàng chữ đạo nơi cửa ngỏ, đường đi, khoe sự tốt đẹp của giới hạnh, nhắc nhở sự yên úy đến cho người.
Giữa cõi đời ly-loạn, giữa đêm mờ tối, đầy thú dữ quỉ ma, thì khất-sĩ là kẻ dẫn đường sanh lộ, cứu người giải-thoát. Thần vật-chất ma cám-dỗ quỉ doạ nạt, không bao giờ hại được người Khất-Sĩ, bởi khất-sĩ ví như kẻ già đui điếc, ngọng câm nghẹt thở, nên không còn biết gì lo sợ. Khất-Sĩ là kẻ coi mình như đã chết, nên đem cái chết rồi của xác thân ấy, đi du-lịch giác-ngộ tìm kẻ nhơn-duyên. Chính Khất-Sĩ mới kêu là đạo, vì là kẻ ở nơi đường cái to lớn rộng dài, không ở nơi hang nhà hốc kẹt, một chỗ, bởi thương người tội-nghiệp, kẻ khó cùn, nên Khất-Sĩ Duyên-Giác đâu đâu cũng hiện đến. Gặp được ngài như gặp Phật, người mà cung kính chào mời, hoặc cúng dường lễ bái, đều là kẻ giác-ngộ có duyên, sẽ thấy rõ tinh-thần giải-thoát, lý đạo nhiệm mầu, không còn khổ nạn, đắc trí-huệ thâm sâu.
Giáo-lý của Khất-Sĩ là trung đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác vô-thượng cốt yếu để đem lại chữ hòa cho nhơn-loại, xin cái cao ban vào cái thấp, để tạo sự bằng-phẳng giữa cõi đời. Đi xin để kêu gọi lòng từ-bi hỷ-xả, đức từ ái cho nhơn-loại, xin cái tham-lam sân-giận si-mê, là địa-ngục ngạ-quỉ súc-sanh, để đưa người lên cõi Trời, Phật, Thánh, là dắt cho người bước lên con đường bố-thí nhẫn-nhục tinh-tấn đạo mầu. Không phải vì đói khát sợ chết mà xin, người đi xin vật-chất là làm cớ sự để bố-thí tinh-thần phước-lạc, nhắc-nhở độ khuyên người, đi xin tức là bố-thí pháp vậy. Mỗi ngày đi xin một lần, lập một công-đức dẫn đạo ban hành, dìu-dắt chúng-sanh, đền ơn chư Phật, lưu-truyền chánh-pháp. Chính đạo Phật ba đời là đạo Khất-Sĩ cả, ngoài khất-sĩ ra, là đạo Trời người, chớ không phải là đạo Phật.
Vậy những ai nhà cửa tiêu tan, gia-đình nát cả, thất bại đau sầu, hoặc phải điên cuồng tự-vận, khổ sở triền-miên, bằng gặp đặng Khất-Sĩ, ắt mau giác-ngộ sớm tỉnh yên vui, đi tu làm Phật, hưởng phước-lạc tinh-thần, nối tiếp thêm bước trải qua đường vật-chất. Chỉ có Khất-Sĩ mới thật hành được chữ tu, tạo ra giáo-lý sống chung giữa ta, người, đời, đạo, vật-chất tinh-thần hòa-hợp, chính khất-sĩ là chất keo hồ chảy quanh chung lộn để gắn bó tâm hồn, vẹt banh trí não của chúng-sanh chung, là đạo của toàn-thể tất cả vậy.
- Khất-Sĩ Bồ-Tát, là những bậc thầy giáo ngồi trên chẳng bao giờ thiếu hụt cũng ví như mưa Trời
Còn làm được, là được việc tội-lỗi hư-vọng, ấy cũng vì muốn vừa lòng theo trẻ nhỏ số đông, sợ chúng trẻ con dại dột chê cười, mà không nghỉ đến sự lành của bậc ông già trí-thức, tuy ít người khen mà lại thành-công hơn. Những cái trở lực, bức tường sợ sệt yếu ớt bắn lùi, lụn bại, luân-hồi ấy chỉ có Khất-Sĩ mới là giải-thoát tiến-hóa đứng vững, thắng phục đạp ngã, mới gọi là bậc hay làm được, việc khó làm mạnh-mẽ hơn chỗ của người khác vậy.
Có xin ăn mới dứt được cái ăn ác tà trong vạn kiếp, có xin ăn mới chỉ rõ lỗi được kẻ gian hung, có xin ăn mới ra người lương thiện, mà kẻ đời thường gọi rằng: “Văn thiện ngôn tắc bái, kiến thiện-sĩ tắc cung”. Chỉ có Khất-Sĩ mới là trung-đạo giữa vua quan giàu sang, với tội dân nghèo khó, Khất-Sĩ không phải dốt nát mê muội, ác hung tà xảo như người Khất-Cái, bởi khất-cái là hạng mạt-lưu, còn Khất-Sĩ là bậc tối thượng vô song, vậy nên dầu những ai có hành được chơn-lý một hai ngày, thì cũng khá hơn là người còn nhiều tội nghiệp.
Gía-trị của Khất-Sĩ quí hơn Trời người, bởi biết sự quí báu ích-lợi của Khất-Sĩ, nên xưa kia vua Trời, vua người bỏ ngôi vua xuất-gia hành đạo, mong cầu quả Phật. Khất-Sĩ là trung-đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác vô-thượng của bậc giác-ngộ ông già, rất ít, rất khó, chẳng hay có gặp trong đời. Chúng-sanh dầu khổ nạn đến đâu chỉ cần một người Khất-Sĩ cũng đủ giải-cứu, độ thoát cho tất cả trọn vẹn, mà khỏi cần phải sống đông nhiều người sức lực, lại không xong. Trong mọi nơi nhóm họp, ngoài khất-sĩ chẳng tham sân si ra, không lời nói nào được ai tín nhiệm mạnh-mẽ, trong mọi sư biến cố của gia-đình, bất-hòa của xã-hội, xung-đột giữa anh em…Ngoài Khất-Sĩ ra, không còn ai là bậc cứu-tế giải-hòa, can-gián, vì khất-sĩ có đủ ba báu: Giới, Định, Huệ, Khất-Sĩ như hòn ngọc báu trong sạch, yên lặng sáng suốt và chơn không tròn trịa, Khất-Sĩ như vàng ngọc, nhưng bởi thân còn sống trong đời, chung lộn thế-gian như nhau bụi đất, nên rất khó thấy nhận nhìn, vã lại món quí thì ở thấp sâu nên trừ phi bậc trí-huệ hiền-nhân, có mắt bươi nhìn, thì ít ai biết hiểu, cất gìn tôn-trọng.
Trong đời khốn khổ, Khất-Sĩ là bậc đại hiền, như cây cao bóng mát, giáo-lý Khất-Sĩ như tàu bè, xe cộ, cứu vớt chở chuyên, chúng-sanh bao nhiêu cũng không chìm nặng. Lời nói của Khất-Sĩ như nước ao trong mát, như rồng phúng rưới mưa hoa, đạo của Khất-Sĩ như bờ đê ngăn nước phẳng bằng. Ý của Khất-Sĩ như nước loãng nhẹ lưu-thông, dầu ai có múc tát đi đâu, thì ý nước bao giờ cũng trở về với nước, tánh của Khất-Sĩ là nước sạch, mát trong là lòng quân-tử, chính sự xin ăn để tu cùng học, bốn biển làm nhà, chín Châu lập nghiệp mới phải là đạo người quân-tử trượng-phu.
Đạo Khất-Sĩ không phải là mới, nói cho đúng: Ai ai cũng là khất sĩ cả thảy, vì ai mà không có gặp được sự học mỗi ngày, ai mà không có sự xin nhau từ chút, nhưng lắm kẻ mảng đua chen giành lấn, mà quên đạo lý của mình nên học cái viễn-vong, và xin bằng lẽ quấy ác hung-bạo quên ân bỏ nghĩa, mà chẳng hay dè. Thật vậy, nếu chúng ta biết rằng: Thiện quí hơn ác và giải-thoát là đạo chung, thì Khất-Sĩ là lẽ sống của mỗi người hằng ngày, cái sống chánh chơn tốt đẹp vô cùng linh-diệu.
Không cái gì xin đặng nuớc, và nước không bao giờ có mất, thì giáo-lý Khất-Sĩ cũng vậy lúc nào cũng đang chứa khắp trong đời, và hay xin vật-chất cát bụi đồ dơ để đem dằn đáy lót chưn, tô làm bãi mé, mà tâm người Khất-Sĩ như giữa lòng lạch, lúc nào cũng sạch cũng trong. Dầu ai có đem giặt món đồ dơ, thì sự yên lặng sẽ lống dơ chìm đáy, cùng là bị sóng gió chan tấp lên bờ, có điều là chỗ nơi đất cao, vật nhiều thì nước sâu khó thấy, bằng gặp nơi đất thấp thì nước lại càng tràn vun. Dầu ẩn hiện theo thời duyên, chớ đạo Khất-Sĩ là nước uống của muôn loài, bao giờ cũng không nhiều ít, vẫn sẵn có tự nhiên, bằng thiếu nước thánh đạo ấy, muôn loài khó ăn mà sống được.
Trong đời không có chi xấu xa bằng lòng gian-ác và không có chi tốt đẹp bằng người Khất-Sĩ, khác phàm phu siêu nhân loại, bậc không còn nghe thấy, chớ nghỉ, e ngại với cảnh huống người đời. Cho nên ba món quí báu nhứt của thế-gian, thì Khất-Sĩ đứng vào hàng Tăng-bảo, học Pháp-bảo để làm Phật-Bảo vậy.
Sao gọi Phật, Pháp, Tăng là báu? Bởi thầy giáo đức-hạnh, bài học hay, và học trò hiền, dạy theo đạo lý lẽ thật, há chẳng phải quí báu hơn là kẻ dốt học lo ăn tội-lỗi. Người mà không học như mù đôi mắt, như xác chết không hồn, dầu mà có bị lửa đốt co ngoe, cử-động như nói, như ăn, như đi, như làm đi nữa, thì kẻ ấy có khác nào hình đất, khúc cây, nào có biết chi vui hay mùi vị của cái sống, cũng như cái máy tự-động nằm trơ, chịu trận cho chủ, người sai khiến, đập sửa cho ăn, uống chùi lau, cho đến khi hao mòn sét lủng, bị đem vất bỏ ngoài đồng hoang cỏ rậm, và rồi ô hô số kiếp của một đời.
Khất-sĩ cũng như một ông thầy giáo dạy học bá-tánh, chẳng lãnh tiền lương, dầu dạy ít dạy nhiều, không hề kể công so của, quí nhứt là gương hiền đạo đức, gương giới hạnh, gương từ-bi đại-lượng ở đời. Còn người vì sắc tài danh lợi mà chết khổ thì khất-sĩ hiền-nhân mới thật là tôn quí hơn vua quan, hơn cha-mẹ và là như Phật Trời, là kẻ đùm che cho muôn loài núp bóng, tránh đỡ cơn nạn khổ bão tố nắng mưa.
Trong đời không ai nỡ hại người Khất-Sĩ vì Khất-Sĩ sống với cả chúng-sanh chung, bình đẳng. Khất-sĩ giải-thoát tu học cho mình, độ dắt cho người, là giáo-lý sống chung không tư-kỷ, không riêng một chủng loại nào, chẳng bỏ ai ai, thế nên từ xưa, những người già 48 tuổi, đều thảy xuất-gia Khất-Sĩ, và người nhỏ 18 tuổi sắp lên, họ đều phải đi tu học Khất-Sĩ, hoặc đi luôn trọn đời, hoặc từ hai năm sắp lên rồi trở lại, để đem đạo-đức thấm nhuần vào trong gia-đình xã-hội mọi chỗ nơi cho êm-dịu.
Đời mà không đạo như rừng hoang, người mà vô đạo chẳng vui an, vậy nên trong mọi sự thất bại, tan hoại chia rẽ, trong mọi điều sụp đổ, trong mọi cuộc hư hao, trong cơn nguy túng, trong lúc rối ngặt…Nếu không kíp dùng đạo-đức, không mau chấn1ập nền tảng tăng-già, không sớm nâng cao nền Khất-Sĩ, thì không bao giờ trường phục vĩnh-viễn, vĩnh-viễn mãi cho được! Trong đời không sự hòa hợp nào bằng Giáo-Hội Tăng-Già, của các nhà du-tăng Khất-Sĩ không danh lợi. Khất-Sĩ là giáo-lý muôn năm của ông già, bền dài hơn xã-hội ngàn năm của người lớn, và giáo-lý trăm năm của gia-đình kẻ nhỏ, trong giáo-hội mặc dầu không ai nhắn bão mỗi ngày, mà các bậc khất-sĩ sống chung bằng xác thân rất thuận hòa, chan sớt cho nhau, nương tạm cùng nhau như các xã-hội ông già yếu đuối. Còn tâm trí mỗi người riêng ai nấy lo tu học thân thì sống chung, tâm thì lo riêng. Nhờ giới-luật nên chẳng hay xao-xuyến, tuy luận bàn mà không hay cãi lộn, cõi ấy an-lạc thông-thã biết bao.
Trong đời lắm kẻ rất lầm khinh chê đạo Phật để phải lầm-lũi đi sâu vào hố ác hiểm nguy, kêu la cầu cứu mà chẳng biết kêu cứu củng ai, có kẻ đến già chết, tam nghiệp chưa tiêu, cũng còn ghét khinh khất-sĩ, để muôn kiếp phải chịu mù quáng đau sầu. Cũng có lắm người tu mà không quên danh lợi, chẳng nỡ dứt lục-trần, nên bào chữa ác tật, mà chê đạo, ngạo tăng, ố Phật, học phép tà ma, lìa xa chánh-giáo mà nào đâu họ có dè, ngoài đạo Niết-Bàn Khất-Sĩ xuất-gia, là người ta còn đi lạc, nẻo tới còn xa, và khi bối rối cùng đường, chẳng biết phương nào tránh khỏi tà ma khổ loạn.
Đạo Khất-Sĩ là chơn-lý chánh-pháp của trường võ-trụ, là đạo Bát-Chánh Niết-Bàn, không bậc hiền thánh nào dám khinh rẻ, không kẻ quỉ ma nào được thấu đạt, Chánh-Giáo cao-siêu hơn hết, kẻ hành đúng sẽ thành Phật, người hành trật sẽ làm ma, thật là quí nhứt trong đời. Tuy lý sự hiển nhiên như mọi bữa, mà ít ai lưu tâm trụ ý nghỉ soi nhìn, cùng dám hy-sinh hành đạo, vậy nên hay bằng sớm mà ta hiểu được, đến chiều có thác dạ cũng vui mừng, dầu người tuổi cũng hơn trăm, may mặc được áo khất-sĩ giải-thoát trong một thời, cũng là duyên may mắn cho bước chân ngàn đời nay đã định. Áo giải-thoát mà vua quan Trời Thần không thể có, mặc nó vào nhẹ tợ lông hồng, trôi bay khắp vũ-trụ non sông, ai mà lại chẳng mong cầu ước muốn?
Thế mà cũng có người lại hỏi: Nếu tất cả đều là Tăng Khất-sĩ hết, thì còn ai là bố-thí cho ai, và mặt đất một ngày kia còn có ai ở?
Nào phải như vậy! Đúng chơn-lý của tạo-hóa, chúng-sanh sanh ra là đều sanh nhờ lẫn nhau, để sống ăn học, đời này không hểu đạo-lý, để vì miếng ăn ngon đồ vật tốt, mà đi làm nô-lệ cho thần-quyền sái trật, nên phải tự mình chịu khổ lấy, ai đi trúng nấy nhờ, ai đi trật nấy chịu, nếu mà được tất cả đều hiểu mục-đích sống đúng chơn-lý như vậy, thì nào đợi có ai phải lo bố-thí cúng-dường cho ai, vì sẵn trái lá hột hoa, ổ hang bộng đá, vỏ lá cói bang, thuốc men nơi thảo mộc, mặc sức xin dùng hê-hả, như cổ-nhơn xưa, như xứ Tây-Phương Cực-Lạc của Phật.
Sự thật may mắn mà trên mặt đất nầy đều tu hết, làm Phật hết, ăn ở trúng đạo hết, không còn ai vô đạo, thì không có danh-lợi sắc tài, giặc cướp tham gian, nhà xấu cho không ai lấy, bãi đất bỏ hoang cho không ai mượn, núi sông bố-thí chẳng ai xin, chắc là tốt đẹp lắm.
Ấy vậy ta nên nhớ rằng: Ta tham lam giựt giành lợi lộc của đất, nước cỏ cây thú, nên mới xúi cho kẻ khác tham giựt lại chuyền tay, đó là giặc cướp xây chuyền, nhơn quả tại mình vậy.
Mà thật ra vì lẽ sống hơn là chết, thì ai lạ không cầu vái cho cõi đời thành xứ Phật, chẳng hơn là sự giành ăn giết nhau chết hết, lại phá tan hoang có hay gì đâu? Nhưng nếu nói vậy là cũng còn sai lắm, hỏi thử trong trường học lớp nhứt kia, bảo học trò, học vào đó hết được không? Chắc là không! Vì còn trẻ nhỏ lớp chót nữa kia mà! Vậy nên trong lùm buội nơi xó gốc, còn có kẻ nhỏ nhít dại khờ, đang sanh-sản, đặng tiến-hóa vượt lên, thì dầu lớp nầy không làm ác, không làm giặc, không sanh-sản, cũng chẳng hết loài người ta. Vã lại học trò hiện tại trẻ nhỏ rất nhiều, thì lớp nhứt có đâu theo được hết. Dầu năn-nỉ bảo ăn chay, bảo đừng làm ác, bảo ngồi yên đùng la giỡn, đánh lộn trong một ngày cũng không được, huống hồ lại lo sợ thành Phật hết, mất giống ác quấy tham gian hay sao?
Vậy thì vẫn hay chẳng được hết thảy đều tu học có đạo, nhưng trong mười người, có được một người khất-sĩ, và chín người nuôi hộ, để trao đổi tài pháp sống chung thì cũng là tốt lắm! Vậy ta nên biết rằng, trong trường đời mà có lớp khất-sĩ đạo Niết-Bàn, thì chúng-sanh mới biết nương theo lớp Trời, lớp người, lập ra lớp kế đó để bước lần lên. Và cho hay: Nếu không có lớp trên cao nữa, thì các lớp dưới cũng sẽ không có được, vì họ không thấy mục-đích chỗ đến, thì lớp nhì, lớp ba, lập ra có ích gì, và có ai học theo để mà làm chi! Như vậy thì tai sao lại sợ người ta giác-ngộ làm Phật hết. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment