Thursday, February 25, 2016

HỌC CHƠN-LÝ.

Cổ nhân xưa là thú tiến hóa ra, thú thì không biết làm để nuôi mạng sống, chỉ biết làm hang ổ để che mưa nắng cùng trong khi sanh sản thôi; Thú sanh từ nơi nước đất cỏ cây và chỉ biết ở sống với nước đất cỏ cây chớ không biết chi hơn nữa.

Bởi không biết phép dưỡng-sinh nên sanh nhiều mà sống sót rất ít và chẳng sống dai. Cái sống mà ai cũng ham muốn, vì đó cổ nhân xưa mới tập cuốc đất cấy cầy, gieo giống trồng hột, cất nhà may áo, nếm thuốc, trị bịnh, cái tham muốn cho rằng, lúc nào cũng khổ và vì khổ mới siêng làm. Việc làm lấy nước, đất, cỏ, cây, thú, người mà làm, càng làm càng mở mang trí-thức, sáng láng khéo hay, chế biến tìm tòi nơi cái có cái sống là vật-chất. Quanh-quẩn trong cái ấy muôn đời ngàn kiếp khổ nhọc không công; Ở trong ấy khác nào trong khám ngục không đường ánh sáng, nơi trong ấy hết làm rồi nghỉ, hết khổ rồi vui như sự an-ủi để hành-phạt mãi mãi. Người ta rất dốt là không biết mình ở đâu và lẽ thật ra sao đối với không-gian cùng thời-gian trong võ-trụ.
Bởi có sắc thân, mới sanh thọ-cảm, bởi thọ-cảm mới sanh tư-tưởng,bởi có tư-tưởng mới sanh hành-vi, bởi có hành-vi mới sanh thức-trí; Loài người có học là học mưu sống, học nơi vật-chất để tô đắp cho sắc thân chớ không cần biết đầu đuôi trước sau thật giả ra sao? Tuy nuôi thân mà chẳng đặng sống lâu là bởi loài người lúc nhỏ không có đủ trí, cùng phải lắm sự thái-quá bất-cập cho nên thân ấy chẳng bền dai. Lắm khi tranh ăn vì ham vui sướng mà họ lại giết hại với nhau, dữ hơn ác thú; Do đó người ta mới bày ra đạo-lý thiện ác phân biệt và tập sống bằng tinh-thần không-không của linh-hồn để cho được khoái-lạc nhẹ nhàn hơn và bắt đầu từ đây người ta cho rằng, thiện để sống là cần, vì có sống mới có ăn được. Như thế nghĩa là người ta học nơi tinh-thần lý-trí và người ta dứt bỏ cái học trước kia, cái học ác, học nơi vật-chất nơi sự của thân. Tức là người ta đã đến cái học thứ hai vậy, người ta cho rằng nuôi tinh-thần cũng như nuôi hột giống là đúng hơn.
Trước kia loài người học nuôi sắc thân, đối với vật-chất như thế nào thì bây giờ loài người học nuôi tinh-thần lý-trí cũng y như vậy, họ so-sánh cách tương đối đó mà họ sống và thật-hành. Bên vật-chất có bao nhiêu phương-pháp thì bên tinh-thần cũng có bao nhiêu phương-pháp mà loài người lại cho là đời sống, việc làm theo lý-trí tinh-thần là nhanh, nhẹ, khoẻ sướng hơn và là ở trên cao bay khỏi mặt đất địa-ngục rồi vậy. Hai hạng nầy đều ở trong giáo-lý phương-pháp của thiện ác, có không, thân trí, vật chất, tinh-thần chớ chưa biết chi là lẽ thật chơn-lý của sự đời, thiện và ác là sự phải và trái, hai bờ lề hai bên của sự thái-quá và bất-cập. Tuy nhiên hai bờ lề thiện ác là ở hai bên chớ chưa phải là đạo tuyệt-đối nơi chính giữa, nhưng bờ lề ấy cũng cập hai bên đường, kêu là tiểu đạo (đường nhỏ) và nếu không có đường nhỏ hai bên ấy thì con đường lớn đại-đạo nơi chánh giữa cũng không sao có được. Vậy nên thiện và ác là đời, còn đạo là ở giữa nơi thiện ác sống chết, vui khổ thiên-đường địa-ngục.
Đạo là chơn-lý, vì loài người sanh sau nên không hiểu chơn-lý, lẽ thật của đuôi đầu họ chỉ nhắm mắt đánh liều lần mò bước đi theo hiện tại vì thế mà loài người chỉ chấp theo giáo-lý. Từ khổ ác trược đến được giáo-lý thiện vui thanh nhàn, đủ cho họ ăn hưởng no ngon hạnh-phúc rồi vì là miễn cho được yên sướng, chớ họ không muốn tìm chơn-lý lẽ đạo chi cả. Loài người rất mê tín, lúc đầu thì mê tín nơi sắc thân, vật-chất, cái ác cái chết khổ vì bởi mới được sanh ra từ trong tứ-đại, về sau khi đã chán sợ cái sống cái thiện cái vui của trên cao nhẹ sạch. Nhưng rồi chẳng bao lâu họ cũng nhàm chán, mỏi-mệt mà té xuống trở lại thấp, rồi từ dưới thấp lại bước trở lên cao; Cũng như một kẻ kia như hố sâu, mãi mãi như thế do sự thích ưa và nhàm chán của cái ý bị trói trăn trong tình dục tương-đối mãi mãi khổ nhọc và không rồi đâu đến đâu cả.
Nhưng cũng nhờ sự mê tín khổ sở thất bại của hai giáo-lý bên lề ấy mà đến lần được giác-ngộ chơn-lý lẽ thật là đạo của võ-trụ chúng-sanh và sau khi thấu lý đạo rồi thì không còn nương theo giáo-lý thấp cao của sự tới lui hai bên bờ lề kia nữa mà được nghỉ yên một chỗ, nắm giữ, cặp được mực trung là đạo, kêu là đắc đạo. Rồi từ đó ở yên nơi đường giữa, mà đi theo lẽ thật chơn-lý để được sự kết-quả quí báu diệu mầu nên gọi là đắc quả vậy.
Sau khi thật-hành theo chơn-lý trung-đạo đã được kết-quả và con đường đã khai vạch đi đó còn để lại dấu vết về sau, chúng-sanh đều thấy gặp để đi theo đến nơi cực-lạc, con đường ấy càng ngày càng rộng lớn tỏ rõ, trở nên con đường cái của chúng-sanh, chừng ấy tức là thành đạo hay là đạo đã hoàn-thành vững chắc rồi. Từ giáo-lý đến chơn-lý tuyệt-đối hay là từ pháp-lý đến đạo-lý tuyệt-đối tức là từ tương-đối đến tuyệt-đối; Vì giáo-lý pháp-lý là tương-đối có hai bên mà hễ có hai bên là chúng-sanh hay nhảy qua nhảy lại khổ sở cho cái ta không định, vậy nên chỉ có chơn-lý lẽ đạo tuyệt-đối, có một, mới là chỗ yên vui đứng vững lâu dài mới là con đường của người giác-ngộ.
Muốn đến với chơn-lý phải do hai cách:
  1. Từ ác đến thiện và giác-ngộ.
  2. Nhờ sự dứt bỏ ác thiện bằng cách tỉnh tâm yên-lặng quán xét mà nhận thấy!
Đây là cách đi tắt khỏi đàng nấc thánh thiện hay là ngón tay chỉ là sự thiện, vì hết làm thiện mệt-mỏi nghỉ-ngơi yên-lặng tự-nhiên là chơn-lý; Vậy nên gọi là chơn-lý sau pháp-thiện hay cũng nói, chơn-lý là lẽ thật yên-lặng tự-nhiên của buổi ban đầu, là nguồn gốc phát sanh ra vạn-vật chúng-sanh và các pháp lại cũng là chỗ đến của vạn-vật chúng-sanh và các pháp.
Chơn-lý không phải nói vắn-tắt, là cái lẽ thật yên-lặng tự-nhiên ấy mới hiểu được, mà cần phải biết, lẽ thật nguyên-nhân nguồn-gốc của chúng-sanh, vạn-vật và các pháp từ trong cái yên-lặng tự-nhiên sanh có ra bằng cách nào? Cách đi tới ra sao? Và sẽ đến đâu? Cái yên lặng tự-nhiên trước là sao? Và cái yên lặng tư-nhiên sau nầy là sao? Có hiểu như thế chúng-sanh mới đi trúng đường và đến nơi kết-quả được.
Đức Phật khi xưa ngồi dưới gốc cây Bồ-Đề chánh-giác, sưu-tầm nguồn gốc của chúng-sanh vạn-vật và các pháp, mà thấu đạt được cái thật của sự đời, Ngài biết được từ đầu nguyên nhân đến nơi cuối rốt và do đó Ngài mới nói chỉ ra muôn ngàn pháp, để đi tới cho trúng mục-đích. Chư Tăng đệ-tử Ngài cũng y như thế, các vị ấy cố nhập-định vào trong cái yên-lặng để tỉnh trí mà tham-thiền, thẩm xét lẽ đầu đuôi và tự tạo ra phương-pháp để đi trúng cách, được mau đến chỗ nghỉ yên. Bởi thế ta mới thấy trong lịch-sử có đoạn nầy: Một vị Tỳ-khưu nhập-định bay lên các cõi Trời, tìm các vua Trời và vị Ngọc-Hoàng Thượng-Đế mà hỏi nguyên-nhân của tứ-đại từ đâu và sẽ đến đâu. Chơn-lý ấy như thế nào? Làm cho không ai trả lời được cả, vì lẽ các bậc Trời người là còn ở trong pháp, trong giáo-lý, chớ chưa giác-ngộ chơn-lý. Các bậc ấy cũng sanh ra từ nơi tứ-đại thì làm sao mà biết được tứ-đại từ đâu và đến đâu hay như thế nào. Sau rốt vị sư ấy đi hỏi Phật, đức Phật dạy rằng: “Cũng như sau khi người xả-định là tứ-đại chúng-sanh vạn-vật và các pháp từ đó sanh ra và cũng như người nhập-định trở lại là chỗ trở về, chỗ đến của tứ-đại, vạn-vật chúng-sanh và các pháp kia”. Câu nói vắn-tắc ấy thật hoàn-toàn đúng chơn-lý, câu nói ấy chỉ rõ võ-trụ không-gian và thời-gian bao trùm cả tứ-đại vạn-vật chúng-sanh và các pháp ở bên trong. Câu nói ấy chỉ rõ lẽ sanh diệt của những địa-cầu tứ-đại và từ nơi tứ-đại mà sanh ra vạn-vật, vạn-vật sanh chúng-sanh, chúng-sanh sanh các pháp, các pháp sanh võ-trụ chơn-lý, võ-trụ chơn-lý sanh ra tứ-đại vọng xây tròn…
Khi xưa chỉ có các vị Tỳ-khưu ấy là bậc tu thiền-định mới tìm xét chơn-lý võ-trụ mà đi hỏi Phật như thế và sau một lời nói của Phật là vị ấy được giác-ngộ thấy biết rõ-ràng, không còn hoài-nghi phóng tâm gì nữa cả, như chai nước đã đựng đầy, không còn lưng thiếu vọng-động. Cũng y như thế, thấu chơn-lý là đắc đạo, là đắc chánh-định và kết-quả của bậc giác-ngộ thượng-trí, người giác-ngộ chơn-lý cũng như kẻ đau mà được biết rõ nguyên-nhân của chứng bịnh mình, biết rõ các bộ phận trong cơ-thể, biết rõ các món thuốc và biết rõ tánh vị thuốc tất cả, nên chẳng đợi mượn cầu ai tự mình lấy uống vào thì hết bịnh liền. Bậc thượng trí cũng y như thế, có khác hơn là kẻ ngây si chẳng biết thân mình tạng thể ra sao nên thường bị hư hại, chẳng biết nguyên-nhân của chứng bịnh mình nên thường bị trúng độc, chẳng biết mình bệnh gì nên chữa trị không lành, chẳng biết rõ các vị thuốc nên hay dùng lộn bịnh càng thêm nặng, chẳng biết tánh thuốc nên mới pha trộn món kỵ, khi uống vào thì chết. Kẻ ấy phải nhờ người khác chỉ bảo, chăm-non săn-sóc, tánh mạng mình giao cho người khác, may nhờ rủi chịu sống chết đều ở nơi tay người, sợ nỗi người ghét hại, đến đổi phải chiều-chuộng lạy-bái dâng của nạp tiền để cầu cho người thương mà ban ơn nhỏ phước cứu-tử hườn sanh, thờ người hơn cha mẹ và ai-ai cũng là cha mẹ của mình hết, bảo sao nghe vậy, mê tin theo người bày chỉ, nhắm mắt đánh liều tới đâu hay đó, chớ nào có biết việc chi đâu!
Mà sự thật cũng phải như vậy! Đức Phật là bậc cao-siêu thượng-trí và chư đệ-tử đích đáng của Ngài cũng là cao-siêu thượng-trí, mới chịu tham thiền thấu chơn-lý mà đắc đạo mầu, chớ đối với chúng-sanh thì có được đâu, phần đông là kẻ chỉ ưa thích sự khổ vui đâu cần biết học. Mảng lo ăn uống cái tham-lam, để cho sân giận sình nổi, sanh ra đủ chứng si-mê hư thúi trong tạng phủ của mình, mê-sảng điên-cuồng hoặc đuối hơi hấp-hối, không còn cử-động trí-hóa chi chi…Cho nên dầu đối với đức Phật đại-tài kia đi nữa cũng không có thể trì-hưỡn ở đó giảng-giải nói rành với bịnh mê-sảng gần chết. Thôi thì cứ đưa cho thuốc uống mau mau đợi khi bịnh bớt nhẹ rồi mới phải lúc ân-cần dạy-dỗ chỉ bảo cho họ giác-ngộ hoặc sau khi hết đau rồi là họ sẽ tự giác-ngộ lấy họ!
Phải như vậy! Đối với chúng-sanh si-mê như thế thì đức Phật dạy bảo liền làm sao cho được mà không phải là làm phù-thuỷ, làm thiên-thần, họa-phù, đọc chú bắt ấn để làm thuốc cho họ uống, để làm cho họ mê-tín như sự bắt hồn, rồi sau đó sẽ lần lần giảng dạy y theo chơn-lý mới được. Những kẻ ấy họ tin Phật như thần, như thánh linh thiêng là một hạng mê tín theo việc làm.
Còn hạng mê tín thứ hai, theo lời nói của Phật mà cho rằng lời nào cũng hay hết, cũng dùng được hết, lời nói nào cũng nghe theo, nghe bằng cách xáo trộn một màu, xô đùa một thứ (không biết rằng pháp Phật là lời phương-tiện tùy-duyên giáo-hóa cho đủ các bậc thấp cao tật bịnh, không nhứt định chẳng chấp một lớp một mực nào!). Cứ hiểu lầm rằng: Kinh nào, pháp nào của Phật nói ra là cũng dùng chung cho một hạng, khác nào một người bịnh nầy, mà uống tất cả các thuốc trị muôn ngàn chứng bịnh khác? Mê-tín là tưởng lầm rằng: Thuốc dầu không hay trị chứng bịnh nầy, cũng hay trị chứng bịnh khác, cứ uống cả vào tất sẽ lành chứng bịnh của mình thế là kẻ ấy lậm thuốc.
Cũng như có kẻ quá mê-tín tin quàng xiêng vào các kinh sách đủ thứ, cùng tất cả các lời nói của các bậc danh-nhân (dầu là thánh hiền tiên Phật), kẻ ấy rồi phải đảo-điên trí óc! Kẻ mê tín linh-nghiệm thần-thông, và nơi pháp-lý trí-huệ của Phật cũng y như thế. Ít có ai là người biết mình bịnh nhẹ, tỉnh táo biết hỏi thầy, nguyên-quán sự học của ông thầy, hỏi xem nguyên-căn của bịnh mình, hỏi xem trong tạng  phủ, hỏi học tánh thuốc của bao nhiêu thứ thuốc, hỏi rồi sẽ uống và trị bịnh mình sau, để cho được sự biết rõ chánh-tín giác-ngộ rồi sẽ thật-hành. Người mê-tín thì không bao giờ được thấu chơn-lý và giải-thoát, kẻ mê-tín mà được thiện là rất ít, phần nhiều hễ mê-tín thì tham sân si tội ác chứa đủ điều, đã tham sân si thì đâu có chịu sự quán-xét phân-biệt mà chẳng nuôi lòng ngã-ái để tự mình đi xuống và mãi thụt lùi.
Chúng-sanh  ai cũng vậy, sự lành mạnh bình-an như thường là quí báu hơn hết mà nào họ có biết đến đâu! Sự lành mạnh bình-an như thường là lẽ chánh hơn hết của thân cũng như của tâm thế mà người ta không chịu hiểu, để chỉ cần tìm lo sự vui cùng khổ là lẽ ngoài phụ-thuộc họ chỉ tìm mãi cái cực nhọc trói buộc của vui và khổ. Hết vui khổ ác nơi vật-chất xác thân, rồi lại đến lo vui khổ thiện nơi tinh-thần lý-trí, họ là những kẻ bị trói buộc tự mình tạo sự trói buộc lấy mình mãi mãi, như kẻ bị ở tù trong khám tối mà chẳng bao giờ chịu giữ sự tốt đẹp, của lành mạnh bình-an như thường, là hay hơn hết thảy các pháp. Họ không biết rằng, chơn-lý sanh ra các pháp và các pháp là chỉ gom về chơn-lý có một, cũng như mặt trời sanh ra các ánh sáng và các ánh sáng là chỉ gom về mặt trời có một; Mà các pháp là để chỉ cho chúng-sanh thấy chơn-lý, cũng như ánh sáng là để chỉ cho chúng-sanh thấy mặt trời, và tại sao chúng-sanh không đến với mặt trời chơn-lý để làm Phật mà chỉ giữ năm ngón tay pháp, ánh sáng và ở mãi đó làm chi. Những kẻ quá mê-tín vì pháp là không hiểu được lời dạy của Phật. Phật dạy người ta phải thấu chơn-lý  phải đến ở với chơn-lý, phải làm Phật y như Ngài, chớ Ngài nào có bảo chúng-sanh phải mê-tín tôn Ngài độc nhất, tin Ngài độc đoán. Phật nào bảo lạy bái hoặc tôn thờ hay giữ-gìn pháp-lý phương-tiện của Ngài một cách khư-khư mù-quáng; Sự mê-tín cũng có thể làm cho kẻ khác được thiện, cho kẻ quá nặng-nề thấp-thỏi của bước đầu, chớ kẻ mê-tín thì không bao giờ được giác-ngộ trong đời hiện tại. Bởi thế nên bậc thượng-trí muốn giác-ngộ thì phải lìa xa mê-tín không còn bị nhốt trói trong thiện ác phước tội thì mới ngộ đạo và thoát khổ.
Vậy chúng ta nên phải biết rằng: Mỗi một câu pháp-lý là một ngón tay của Phật đưa ra để chỉ cho ta thấy chơn-lý lẽ thật, đặng đến với chơn-lý lẽ thật. Cũng như chiếc bè là để đưa ta qua biển, đến bờ bên kia, chớ không phải ta giữ mãi chiếc bè, để chịu chết khổ giữa biển, còn thiệt hại hơn là ở bên bờ bên nầy nữa vậy. Thế nên chúng ta thờ Phật là để theo Phật, theo Phật là để thành Phật y như Phật mà đừng mãi mãi xin theo hầu bên Ngài, ắt Ngài chẳng vừa lòng. Nghĩa là nhờ một pháp để tìm chơn-lý và phải đến với chơn-lý mà bỏ pháp ấy, chớ đừng giữ pháp làm kẻ mê-tín chấp lầm và cũng không phải là đi học hoài, cho đủ hết các pháp của chư Phật đã nói ra, để tổn phí thì giờ và điên đảo rối loạn. Mà phải do nhờ một lời nói phương-tiện xứng hạp làm chìa khóa mở cửa kho-tàng bảo vật từ xưa, tức là nhờ lời nói ấy mà tỏ ngộ chơn-lý, rồi từ trong chơn-lý nảy sanh ra biết bao pháp-lý không tận không cùng.
Nghe pháp là để cho biết Phật, biết Phật là biết chơn-lý, người biết chơn-lý là biết hết thảy chư Phật; Vậy chúng ta ai ai nên cần biết chơn-lý hơn là sự mê-tín, tin vái cầu Phật cho rằng Phật Pháp là báu, mà chẳng biết cái báu tại đâu và ra sao! Sự thật chơn-lý là lẽ thật tự-nhiên như vậy, chứ tự nó không có gì là báu! Có thật quí báu chăng nữa, là bởi tại chúng-sanh quá thiệt hại, theo đường lầm-lạc sái quấy mà phải bị đau sầu, hôm nay mới gặp thấy cho là quí báu đó thôi, vì trong đời thảy đều tai hại và sái quấy cả các pháp thiện ác có rồi đâu?
Người hiểu chơn-lý là người không phải bịnh nặng, không phải bị ai đầu độc, bảo chi nghe nấy, người tìm học chơn-lý không phải là kẻ quá ác hay quá mê si đần độn hoặc chết gấp bây giờ. Người biết được chơn-lý thì nắm đưọc chủ quyền trên thiên-hạ, khỏi phải lòn cúi nơi ai ai cả mà tất cả phải như nhau thôi; Kẻ ấy mạnh hơn hết và chư Phật sẽ khỏi phải mất công vì kẻ ấy nữa!
Người biết chơn-lý cũng như người thợ làm bánh, tự họ biết đó là bao nhiêu, thứ bột gì? Bao nhiêu, thứ đường gì? Cách thức làm bánh ra sao? Họ tin chắc, biết chắc, tự làm bánh mà ăn, không dùng các thứ khác.
Người giác-ngộ chơn-lý không tin ai hết cũng chẳng tin lấy mình mà là chỉ tin theo chơn-lý thôi; Người đã giác-ngộ chơn-lý rồi thì khỏi cần tha độ mà là tự-độ và độ-tha cho kẻ khác.
Chúng ta phải tìm học chơn-lý và trong khi học pháp nghe pháp là phải cho hiểu chơn-lý, kẻ nghe pháp của Phật mà không hiểu được ý-nghĩa Phật dạy hoặc như đem pháp ấy nói ra, vào một trường hợp khác biệt để cho sái lạc xa ý-nghĩa như vậy là hủy-mạ giáo-pháp Phật bởi để người ta hiểu lầm mà khinh chê Phật.
Vậy nên mỗi người tự tìm học thẩm xét và bằng có nghe pháp, học pháp là để thật-hành kinh-nghiệm đến với chơn-lý nắm chơn-lý mà đắc đạo, đừng chấp nhận hãy liệng bỏ pháp lại sau lưng, cho kẻ đi sau được học, mà mình thì không chứa giữ một pháp nào cả.
Chúng ta phải qua khỏi cái học ác buổi đầu, để đến với cái học thiện thứ hai, mà lần lên cái học chơn-lý thứ ba rốt ráo, ở trong lớp ác chúng ta dốt với cái thiện, ở trong lớp thiện chúng ta dốt với chơn-lý. Vậy chúng ta phải đến với sự học chơn-lý, người biết chơn-lý là sẽ biết rõ tất cả thiện ác vì người biết chơn-lý là đã ở ngoài vòng giả-dối của thiện ác, nên chi dòm ngó vào trong là sẽ được thấy biết rõ-ràng.
Đức Phật xưa thấu chơn-lý mới đắc đạo có được danh hiệu là Sĩ-Trung-Thắng, là thế-gian giải là Thiên-Nhơn-Sư là Vô-Thượng-Sĩ là Thiện-Thương-Tôn…là bởi Ngài đã thấu chơn-lý biết khắp trong đời không một vấn-đề nào mà Ngài không giải quyếtđược!
Chơn-lý là lẽ thật, không phải thấp cao gì cả, nhưng chúng-sanh thì thật khó hiểu, khó hiểu chẳng phải cao xa; Vì mảng bị, hoặc nghiệp che án, vọng động liền-liền, còn đâu có được giờ phút rảnh-rang yên tỉnh phủi sạch nợ duyên hòng nhớ hiểu xét ra chơn-lý? Mãi quanh-quẩn trong trần, họ không còn biết chi hơn khác được, thoạt mới nghe được chơn-lý cho là huyễn hoặc, sanh dạ hoài nghi, lắm khi ngơ-ngác chẳng hiểu một tí gì cả!
Nếu như có một người kia, nhận sự thấy sự biến-ảo của đời, biết là giả-dối và định ý sẽ tìm cái thật, muốn hiểu lẽ thật lần lần của tất cả sự vật; Kẻ ấy quay về con đường lẽ thật, ắt sẽ đến chơn-lý ngay, không còn bợ-ngợ.
Chơn-lý nơi vọng sự cũng như cái thật ở nơi mỗi cái giả, cái trúng phải ở nơi mỗi cái trật quấy, thật là mênh-mông không bờ bến của sự học, dầu người ta có lập ra bao nhiêu trường để dạy học cũng không biết bài học.
Người thấu hiểu chơn-lý nào phải là người mầu-nhiệm khác lạ chi chi…? Chính là một người tầm thường, một người như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ đứng ra ngoài sự giả-dối, được ở trong cảnh thật, biết rõ cái thật và khi nhìn ngó vào nơi cảnh giả, người thấy ai ai lầm lạc mê-muội là chỉ bảo dắt giùm. Lời nói của người, thiên-hạ tin nghe và thấy ích-lợi nên mới cho là Pháp-Bảo quý giá vô cùng.
Chơn-lý không thấy lạ, đối với người ở trong cái thật và hành-vi đã được đúng theo sự thật ấy, học chơn-lý cũng y như các khoa học thế-gian nhưng chỉ đi ngay vào cái thật cái trước mắt rõ-rệt, cái trường-tồn vĩnh-viễn chớ không ôm đeo theo cái bọt-bào huyễn-cảnh giả-dối vô-ích, cái không công.
Cũng như người thợ cất nhà, trước dựng giàn-trò, rồi sau đến cất nhà, cất nhà là việc làm kết-quả, còn giàn-trò phải dở bỏ tan-hoang, cho nên cái học bước đầu, thiện ác trong trần-thế, cũng như học cất giàn-trò và đến với học chơn-lý mới là đúng phép cất nhà kia vậy.
Thế thì sự học phải đi tới, học để mở trí đặng bước tới, học cho hiểu chút ít một đôi pháp, rồi đi ngay tới chơn-lý rốt-ráo, chớ chẳng phải là sự đủ rồi đứng một chỗ hay học mãi lòng-dòng. Như con kiến bò quanh-quẩn mãi theo vành xe, nó đến nghỉ tạm nơi từng mắc của căm xe mà chẳng chịu đi theo một cây căm, để vào tuốt trong trụ cốt ổ hang là nhà của nó. Nó đi lạc là bởi sự ham vui chuyền níu ngó tới mãi mà chẳng chịu dòm ngang, lay-hoáy giỏi hay nơi đó, mà quên cửa nhà xứ sở.
Chơn-lý như  mặt trời, pháp-lý như đèn cao, thế sự như hang tối, vậy nên cái học của chúng ta là học chơn-lý thấu chơn-lý mới gọi là thật học, học trường đời là như sự học mới tập của bước đầu, cái học lo nuôi nấng sắc thân, tạo tác giả-vật, chấp giữ cõi đời sự việc hữu-tình hiện tại; Lối học ấy chưa phải lối học cứu-cánh giải-thoát kiếp khổ cho loài người.
Khi xưa, dưới gốc cây Bồ-Đề Chánh-Giác đức Phật nói lý Hoa-Nghiêm, làm cho bậc Trời phải ngơ-ngác chẳng hiểu chi cả. Kinh Hoa-Nghiêm là chơn-lý của Phật giác-ngộ là lẽ thật rất thường thế mà khi đem cái thường thật ấy nói ra thì không ai hiểu, ấy bởi chúng-sanh quá say-đắm lạc-lầm chấp lấy cái thấy nghe nơi tội-lỗi làm quen tâm trí cho đó là thật của mình, là chánh, phải, trúng, hay thì nào có nghe được lời chơn thật ngay thẳng của Phật! Vì vậy, Phật Ngài mới phân ra ba thừa giáo-lý, hạ pháp thấp xuống, chiều-chuộng nâng-đỡ, dìu-dắt chúng-sanh đi lên từ nấc cho đến đất bằng, chơn-lý hay Phật-Thừa, vì bởi chúng-sanh càng nặng, càng lún, càng sâu và quen rồi với cảnh sâu ấy. Lại ít kẻ biết ra là mình đã quá tội-lỗi thâm sâu, đối với công-lý đất bằng hay chơn-lý lẽ thật và có kẻ biết rõ thì lại bởi xét mình đã quá thấp sâu dơ nặng mà nhìn lên thấy Phật càng cao, cao mãi càng sợ, sợ hoài. Nào có ai chịu nghỉ rằng mình và Phật như nhau, ai cũng là người cả, ai cũng là Phật cả, ai cũng ở trong cái thật mạnh giỏi bình-an như thường, như nhau, cũng đứng đi trên đường mặt đất, nào phải khác lạ chi? Họa chăng có khác nhau là bởi chúng-sanh hay tìm vọng những cái phi-thường để đến nổi lạc-loài khốn họa nên phải trở lại kêu cứu cùng Phật. Thấy Phật tự-nhiên mà lại quí báu hơn mình, còn mình đã quen tánh khổ lao-chao, một khi muốn yên-lặng trở lại, không biết phải làm sao, nên kiên tâm trì-chú, khổ tâm rèn tập lần lần trở lại.
Đối với chơn-lý lẽ thật hay kinh Hoa-Nghiêm thì không có chi là sự học cả, vì cái thật nó đã sẵn có trước mặt ta rồi, cái thật ở nơi mọi chỗ, thế mà chúng-sanh nào có thấy chi đâu, từ ác đến thiện, từ nhỏ đến lớn họ chỉ thấy cái ta là sự vật thôi dầu thần-nhãn, thiên-nhãn cũng không thấy được chơn-lý huống chi là nhục-nhãn mắt phàm tăm tối.
Tất cả các pháp là để đến với Hoa-Nghiêm
Tất cả giáo lý là để đến với Chơn-Như
Tất cả sự học là để đến với Chơn-Lý
Vậy chúng ta nên học chơn-lý! Chơn-lý tức là trường đại-học của bậc thượng-trí! Mà muốn học, ắt chúng ta phải giải-thoát những buộc ràng, lìa nhà cửa thế-tục, xa cha mẹ trần-gian, thân phải trong sạch, tâm phải yên-lặng thì trí mới huệ sáng. Nghĩa là phải xuất-gia giải-thoát làm khất-sĩ nhập đạo-tràng giáo-hội vừa học vừa tu, học tu tuy cực nhọc hơn buổi ăn chơi, chớ thật là trung-dung mạnh khỏe và một kiếp tu-hành ngàn đời rảnh khổ một thời ngộ đạo vạn thuở an-vui.
Đúng chơn-lý ai cũng là khất-sĩ xin học và đi xin ăn, học chơn-lý là quí báu hơn cả.
Chơn-lý là thật học, trường học là Giáo-Hội Du-Tăng Khất-Sĩ đi học cùng khắp xứ, chớ không phải lớp học ở một chỗ, một bài mà được toàn học. Trường học là chơn-lý, nơi đây có nghĩa là học dài, học mãi, học không chán không lui, là sự học có đầu có đưôi, có khoảng giữa có mục-đích, có ích-lợi, cái học không bao giờ gián-đoạn, học đến đâu cũng không hết, không rồi nên gọi là trường học chớ không phải cái nhà, cái bàn, một lớp nơi một chỗ một.
Chơn-lý là trường học chung của tất cả, chơn-lý không phải là đời hay đạo, chơn-lý không phải là tông-giáo hay đảng phái, chủ-nghĩa giáo phái nào! Chơn-lý không phải là một vị Phật, một vị Trời nào! Chơn-lý không phải là tên chơn-lý, lẽ thật gì cả, chỉ mượn danh-từ tạm gọi để phân biệt nên kêu là chơn-lý thôi! Cũng như tiếng Phật nghĩa tạm phân biệt là sự giác-ngộ vậy. Chơn-lý và võ-trụ là đại-đồng của chúng-sanh tất cả, trong chơn-lý không có sự mê-tín nơi duy-vật duy-thức hoặc duy-tâm, không có sự mê-tín nơi người, nơi giáo-lý nơi linh-nghiệm, nơi sự vật chi chi…và cũng không vất bỏ một cái gì cả. Đúng chơn-lý tự-nhiên ấy là trường học của cả chúng ta vậy!
Thế nên tất cả chúng ta phải đi học, có ra khỏi nhà đi học mới được chánh-tín, hầu kết-quả chánh-định. Chơn-lý tức là giải-thoát thoát khỏi nhà đời bước qua trường đạo. Cõi Phật là võ-trụ đại-đồng, nơi ấy đựng chứa biết bao pháp-lý mặc sức cho người xin học, chúng ta phải rán lên lớp ấy để học hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/2/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment