CÔNG-LÝ VÕ-TRỤ.
I
Công-lý cũng tức là chơn-lý, hay lẽ Chánh-Đẳng Chánh-Giác trung-đạo dung hòa của võ-trụ công-lý, nghĩa là lẽ không thêm không bớt bằng nhau, đạo-lý rất công-bằng không chênh-lệch thiên-tư về mặt nào. Thể của công-lý là sự, không lượng không biên, không cố chấp vô cực, tướng của công-lý là hình thể của vạn-vật các căn, dụng cụ của công-lý là luật pháp giáo-lý tương đối biến hoá , lý của công-lý là tự nhiên vắng-lặng bằng thẳng mát-mẻ.
II
Cũng như quả địa-cầu, để trên một dĩa cân to lớn phía bên nây và dĩa bên kia thì để một cái quả tạ khổng-lồ hai cái bằng nhau, trong muôn đời kiếp, từ thành cho đến không, từ sanh cho đến diệt, nó cũng vẫn bằng y nhau, không thấp cao nhẹ nặng chút nào. Cũng như đất nước lửa gió trong quả địa-cầu, mặc dầu có sự thay đổi lăn xây, nhưng không bao giờ mất đi một tí, mà lại vẫn bằng nhau.
Mỗi quả địa-cầu có bốn phần nước, không bao giờ hơn kém và sẵn ở nơi nhau. Cũng như chúng-sanh vạn-vật và các pháp bao giờ cũng là một, một thể sống ở trong nhau, không dư thiếu mà trái lại sự ẩn hiện của nó lại chẳng đồng đều, hoặc đã có, hoặc đang có, hoặc chưa có, tức là cái có đã tự bao giờ, không đầu đuôi chính giữa, nên gọi là thể của chơn-như một mực. Cũng như quá-khứ vị-lai và hiện-tại vốn không phân-biệt, vẫn là trong mỗi lúc có đều đủ cả thảy. Xưa nay có một động tịnh vốn không hai. Lý sự có đổi dời, bánh xe lăn xây có lui tới, có khổ có vui, có sống có chết, có giặc-giã có thái-bình, nhưng trong này có kia, trong kia có nầy, từ tinh-thần vật-chất thân tâm, ta người hôm nay và ngày mai, thảy đều có chứa đựng lẫn nhau, cho đến trong mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi ý niệm cũng đều có chứa đủ các pháp tương đối khác cho nên gọi là đạo-lý công-bằng, không bỏ xót điều chi may-mảy. Cũng như Niết-Bàn thiên đường nhơn loại A-Tu-La, Súc-sanh, Ngạ-quỉ, địa-ngục, cảnh giới nào cũng có đủ hết, ai cũng vẫn chứa mang những cái kia, tức là một thể sống điều hòa, không cho ta thiên vị sa-ngã. Do công lý đó tạo cho tâm hồn ta sự giác-ngộ lẽ chơn-như, như thường, như vậy, như như, sao cũng được, sao cũng xong, sao là sao…sự bất chấp công-bằng tha-thứ đứng vững, tức là từ-bi hỷ-xả và bình-đẳng vậy.
Mỗi quả địa-cầu có bốn phần nước, không bao giờ hơn kém và sẵn ở nơi nhau. Cũng như chúng-sanh vạn-vật và các pháp bao giờ cũng là một, một thể sống ở trong nhau, không dư thiếu mà trái lại sự ẩn hiện của nó lại chẳng đồng đều, hoặc đã có, hoặc đang có, hoặc chưa có, tức là cái có đã tự bao giờ, không đầu đuôi chính giữa, nên gọi là thể của chơn-như một mực. Cũng như quá-khứ vị-lai và hiện-tại vốn không phân-biệt, vẫn là trong mỗi lúc có đều đủ cả thảy. Xưa nay có một động tịnh vốn không hai. Lý sự có đổi dời, bánh xe lăn xây có lui tới, có khổ có vui, có sống có chết, có giặc-giã có thái-bình, nhưng trong này có kia, trong kia có nầy, từ tinh-thần vật-chất thân tâm, ta người hôm nay và ngày mai, thảy đều có chứa đựng lẫn nhau, cho đến trong mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi ý niệm cũng đều có chứa đủ các pháp tương đối khác cho nên gọi là đạo-lý công-bằng, không bỏ xót điều chi may-mảy. Cũng như Niết-Bàn thiên đường nhơn loại A-Tu-La, Súc-sanh, Ngạ-quỉ, địa-ngục, cảnh giới nào cũng có đủ hết, ai cũng vẫn chứa mang những cái kia, tức là một thể sống điều hòa, không cho ta thiên vị sa-ngã. Do công lý đó tạo cho tâm hồn ta sự giác-ngộ lẽ chơn-như, như thường, như vậy, như như, sao cũng được, sao cũng xong, sao là sao…sự bất chấp công-bằng tha-thứ đứng vững, tức là từ-bi hỷ-xả và bình-đẳng vậy.
III
Công-lý tức là tự-nhiên, dầu thưởng phạt hay không thưởng phạt, dầu trị lập hay không trị lập, trong mỗi lúc công-lý đều chứa sẵn, cái tương-đối để giác-ngộ, dạy dỗ chỉ rõ bày chậm mau gì ai cũng được học. Cho nên chúng-sanh gọi công-lý là pháp, hay là giáo-lý để đưa người đến nơi toàn-giác, là sự biết sáng suốt hết mê lầm, thì mới chịu giải-thoát đứng yên nghỉ mệt, cũng như cây trụ cột cân, nơi chính giữa thăng-bằng đứng sựng. Bởi công-lý trùm khắp tất cả nên gọi cõi đời, dầu lúc nào cũng là Phật Quốc, tịnh-độ cho người giác-ngộ, an-dưỡng nghỉ-ngơi vắng-lặng. Người hiểu công-lý rồi thì tâm định được hưởng quả yên-vui, cái ta chắc chắn không còn rối loạn, câu chấp, nói làm, lo âu nghỉ ngợi. Vì vậy mà kẻ trí gọi công-lý là mặt đất lưu-ly, pha-lê, vàng bạc, sạch sẽ, bằng phẳng, quí báu vô cùng, hay cũng gọi là chỗ tâm của chư Phật vậy.
Thấy được công-lý là nhờ cặp mắt sáng tương-đối của trí huệ, cho nên gọi rằng: Công-lý sanh trí-huệ hay là trí huệ sanh công-lý, hay đã biết gặp rồi, thì hết lầm lạc không còn níu đeo theo cái khổ nghiệp, mới đứng yên chịu phép (pháp là ánh sáng giáo-lý giữa trí huệ và công-lý gọi là pháp bảo của chư Phật đang vẫn có sẵn trong thế-gian).
Thấy được công-lý là nhờ cặp mắt sáng tương-đối của trí huệ, cho nên gọi rằng: Công-lý sanh trí-huệ hay là trí huệ sanh công-lý, hay đã biết gặp rồi, thì hết lầm lạc không còn níu đeo theo cái khổ nghiệp, mới đứng yên chịu phép (pháp là ánh sáng giáo-lý giữa trí huệ và công-lý gọi là pháp bảo của chư Phật đang vẫn có sẵn trong thế-gian).
IV
Vậy nên, khi đã giác-ngộ rồi thì ta thấy rằng, Phật Trời, người, thần, thú, ma, địa-ngục, cỏ cây, đất nước gió lửa, thảy như nhau, bằng nhau giống nhau không có điều chi khác biệt, trong những sự sai khác, khác nhau nơi bề ngoài và cái ý của chúng ta không bao giờ còn có được. Công-lý cũng như hai bàn chân của ta, cũng như hai lỗ mũi, hai lỗ tai, như cặp mắt như hai tay là của cải sự thành-công. Do các căn lành ấy, để thâu vào một cửa miệng chứa vào một bao tử để nuôi sống cả cơ thể chúng-sanh chung, hay công-lý tức là cái nhà trường học, để chứa ở dạy nuôi người hiền thánh vậy. Sức mạnh của công-lý như hai vai, như cầu sắt như mặt đất, như nước bằng, như tàu xe, như hàng rào, như lộ cái, như biển cả, núi to, như lửa gió hư không là một sức mạnh từ nhỏ tới lớn, một sức mạnh không lường, nắm được lấy nó sẽ toàn thắng tất cả mọi phương diện, mà gọi là cái sống của tất cả chúng-sanh, không có nó muôn loài chết thảm. Công-lý sanh ra giáo-lý, có hai để đem lại công lý là một nên gọi rằng: Giáo-lý là pháp thế gian tương đối, để đem lại sự giác-ngộ là công-lý pháp Phật tuyệt đối, tạo cái giác là Phật cho chúng-sanh vậy, nên gọi cõi đời là cõi Phật, Phật đã thành, Phật đang thành và Phật sẽ thành, ai ai rồi cũng là giác, biết Phật cả thảy, cũng như mặt đất là cõi Phật đã lập, cõi Phật đang lập và cõi Phật sẽ lập, như vậy tức là xứ Phật tất cả rồi đó. Chỉ có điều là chúng-sanh đã giác-ngộ nhận ra hay đang giác-ngộ nhận ra, hoặc chưa giác-ngộ nhận ra đó thôi. Như kìa là thế-giới của Phật A-Di-Đà phương Tây hay là cõi của Phật Dược Sư phương Đông, thật trang nghiêm bình-đẳng mát-mẻ thanh-tịnh vô cùng, cõi của chúng ta mai kia cũng được như vậy, là do mọi sự cố-gắng của công tâm, do nhờ giáo-lý tiến-hóa của chúng ta thì mới chắc được sự sáng lòa rực rỡ, đâu còn lo gì sự lổng-chổng không công, mệt nhọc mãi hoài thót ruột.
Công-lý vốn sẵn nơi việc làm, nơi lời nói, nơi ý tưởng, nơi ta, nơi người ,nơi xác thân, tâm hồn lý trí, nó phát sanh từ nơi tứ-đại lăn xây, như bánh xe, như cây cân, như mặt kiếng là sức rung động phản dội mạnh mẽ phi thường huyền-bí kỳ-diệu, vì nó mà lắm kẻ tự tin cho rằng, có bàn tay sắp đặt cõi đời, có đấng chúa tể nào đó, mới có chúng-sanh và chúng-sanh ở trong định-luật các pháp của vị ấy, vạn-vật bởi vị ấy tạo ra, vị ấy là cha sanh ra, trước hết sanh ra vị ấy bởi một lý thuyết mênh mông. Chúng sanh là con mỗi chúng-sanh đều có tay sai quỉ thần hộ mạng. Sắp đặt giữ-gìn nuôi sóc, cũng có kẻ trong giấc chiêm bao mơ-màng khi tưởng-tượng cùng trong khi mới chết, hay lúc trở về già, đối mặt với phản giác-kính-trừu-tượng của công-lý, như đứng trước gương nghiệt cảnh mà thấy ra tù khám, diêm vương xử phạt, hoặc gặp phải cảnh thiên đường xứ Phật trong thế-giới tưởng-tượng. Chịu lắm sự thưởng phạt vu-vơ, hình bóng lâu ngày.
Đã đành rằng công-lý là luật dĩ- nhiên của tạo-hóa thi cần gì sự bênh vực hay xử phạt để giúp đỡ cho chúng-sanh tiến hoá mau hoặc chậm mới được hay sao? Nào đợi phải vua Trời, vua Đất, vua Người, kiếm người làm việc mà gìn-giữ cảnh giới nào? Đã là công-lý thì kẻ ác trẻ con phải chịu sức phản dội nặng nề đau đớn của việc làm, hơn là người thiện. Hành vi của kẻ thiện như giá cân lổng-chổng, ngông-ngênh, mỏi-mệt ngộp sợ hơn là người không thiện không ác, giữ mực song bằng. Công-lý vốn không thiện ác thưởng phạt, mà kẻ làm ác thì bị thưởng phạt, khổ vui cười khóc, phiền-não lăng-xăng trói buộc chớ ích gì! Thế nên cõi của bậc giác-ngộ, và những bậc đã giác-ngộ rồi thì cần gì pháp-luật, cõi linh-hồn hay xác thịt nào đợi gì phải có âm-phủ dương-phủ, sự thưởng phạt của người Trời quỉ. Nếu họ biết xử phạt cai-trị người, còn ai xử phạt cai-trị họ, chẳng là bất công hay lợi-dụng công-lý, làm quyền chẳng là ngang bạo lắm sao? Đã là ai cũng như ai, nếu không ai mượn mình chỉ dùm công-lý thì hà tất phải tự mình bày khai, bắt buộc ép người phải học phải tuân theo. Bởi vậy cho nên cõi công-lý là cõi vô quyền, vô trị không có giai-cấp việc làm chi cả, mà chư Phật Thánh y theo, nên không bao giờ khổ lụy. Kìa xứ Cực-Lạc, nọ Giáo-Hội Tăng-Già, nơi ấy chỉ có công-lý là Pháp Bảo, giáo-lý học-hành không giai-cấp phái môn, chẳng ai làm việc cho ai, mà được muôn năm hạnh-phúc, vĩnh-viễn yên-vui, giải-thoát hoàn-toàn nào đợi oai quyền chế độ. Than ôi! Nếu bao giờ chúng-sanh chưa tỉnh-ngộ chưa nhận được công-lý nơi mình, chủ tể nơi mình thì muôn kiếp vẫn làm tôi mọi cho kẻ hoang đàng dốt học, mà bị trói buộc đáng thương-xót vậy. Nếu chúng ta hiểu ra công-lý, thì trong đời, cần gì ai lại phải đi làm tôi mọi sắp đặt xử trị cho kẻ khác hay sao? Đã sẵn công-lý thì nào ai phải mượn ai, mà có ai lại sắp lo cho rồi, những việc mà người ỷ lại, để buông lung làm ra mãi mãi. Vậy nên tốt hơn là mỗi nguời đều phải tự học hiểu công-lý, để rồi đời sống của mình ra sao, do hành-vi của mình, là mình chịu lấy chớ khen chê, chẳng là hay hơn. Chớ nếu kẻ thì giữ-gìn luật-pháp sắp trị như tôi tớ, còn người lại làm chủ, ỷ lại pháp-luật có sẵn để cứu mình, mà mãi tha hồ tạo nghiệp, để đến lúc bị xử phạt lại than van, hoặc được thưởng khen thì cười vui hê-hả. Như vậy chẳng là tội nghiệp cực-khổ cho kẻ làm quan vua lắm sao? Mảng vì bị danh-lợi dân chúng tôn hùa bợ đỡ để mãi làm tay sai cho dân chúng suốt đời, mà trái lại lắm kẻ ham đua chen vào vòng xích-tỏa, rồi một ngày kia ai cũng quan vua hết, thì hỏi vậy chứ còn ai mà làm dân, rồi ai xử phạt cho ai? Lắm khi mảng lo thiện ác cho người mà quên sự phải quấy của mình, bởi địa-vị càng cao lòng tự-ái càng trọng khó dằn tâm sửa trí mà phải bị quả báo trừng phạt về sau.
Công-lý võ-trụ chẳng bao giờ bảo ai đứng ra thay thế cả, chẳng bao giờ bảo ai dạy sắp cho ai và chẳng bao giờ bảo ai ỷ lại nương theo ai, sao chúng ta lại tìm chi những cái vô-lý ấy vậy. Công-lý là chủ tể, tâm của mỗi người, tánh của nó là định, chơn-như bình-đẳng bằng ai vọng động bất công thì bị quả báo vay trả tức thì. Nên chi chư Phật tạm gọi là chỉ bảo đạo-lý cho chúng-sanh, người mà cầu khẩn tìm nghe học hỏi, chớ chẳng xưng thầy, buộc người phải học, vì ai nấy cũng như nhau mà thôi.
Vả lại dầu có khổ vui còn mất đi nữa, thì trong cái nầy có sẳn cái kia, trong cái kia có sẵn cái nọ, dầu thái quá bất cập hay trung dung đi nữa thì cũng như nhau, có ai mà đi chìu được ý muốn của kẻ tham lam, khi ưa vầy khi muốn khác, cho họ được vừa lòng. Cho nên bằng sự dạy chỉ cho công-lý kia, mà chư Phật còn ít nói thay, huống chi là đem mình đi làm những việc vô-ích chi chi, lếu rộn, bôn-chôn giữ gìn bênh vực. Bởi thế cho nên chư Phật dạy rằng: Cõi Trời người địa-ngục còn khổ bởi vô-minh, biết thiện ác mà không có học công-lý, nên mới chấp nắm giáo-lý thế-quyền khổ nhọc không công vô-lý sái trật lắm. Mà lại nếu pháp-luật nhiều, thì kẻ gian ác lại thêm nhiều. Kìa Phật là kẻ chúng sanh như ta, nhưng nhờ biết công-lý rồi, thì vua Trời, vua Người, vua Quỉ không lấy lẽ gì cai trị đặng, mà trái lại còn tôn thờ học hỏi. Vậy ta nên làm Phật, học hiểu công-lý biết thấy đạo tâm, mới là giải-thoát, giải-thoát hoàn toàn.
Vậy ta nên nhớ rằng: Giác-ngộ công-lý như Phật kia mới là thật. Còn giáo-lý thế quyền giai-cấp chế độ thần quyền là lớp tạm, để dạy phạt kẻ tối tăm dốt nát dại khờ quấy ác thôi
Vậy nên các thầy giáo trong đời ấy, cũng là tạm, rất giả dối. rất mệt nhọc. Mà tất cả thầy trò lớp học, còn phải cần sửa đổi học hành, để đem nhau đến lần công lý đặng giải-thoát. Hiểu nơi công-lý các lớp xã-hội ấy dầu không có cũng được, đợi gì phải đi bênh vực lo riêng cho loài người, mà bỏ thú vật, hay bỏ các loại khác bất công để lo cho vô ích. Đã không mượn, lại chẳng ai nghe lời đó vậy. Dầu mà có người tôn lập ép buộc cầu khẩn đi nữa thì khi nhận lấy thế quyền, mục đích là phải lo cần yếu dạy học, còn sự sắp đặt là tạm sơ cho có chừng trong mỗi lúc theo thời duyên cho xong mà thôi. Cốt yếu làm sao cho học sinh mau hiểu biết. Để khi nó đã biết công-lý rồi thì không cần sắp đặt, chúng nó cũng tự hòa hiệp yên vui lấy nó, mà đố ai xúi bảo nó đi làm sái quấy cho được. Vậy ta nên xem gương học trò lớp chót hỗn tạp ồn ào bất trị, mà nào ông thầy giáo có khổ tâm về chỗ đó, ông chỉ sắp tạm sơ cho lấy có và cần dạy học mà thôi, nhưng trải qua lâu ngày nhờ có học tập, thì nó càng êm thắm thuần phục lần, và khi đã lớn khôn bước lên lớp trên cao, thì học sinh ấy thật hoàn toàn tốt đẹp. Chớ nào phải đâu là sự mãi lo ăn giựt giành trốn học để đi chơi chịu dốt hay sao? Nếu không hiểu công-lý thật là dốt, đã là dốt thì làm sao hiểu được mục đích Chánh-Đẳng Chánh-Giác trung-đạo Niết-Bàn, là chỗ đến của tất cả chúng-sanh, hòng đi tới công-lý của võ-trụ để làm chúa tể lấy ta, giữ gìn bổn ngã.
Trong đời kẻ không biết công-lý, cũng như người không có con mắt chủ tể, thì các căn kia cũng chết liệt, khác thể thây ma, như cái tử thi vô dụng, dơ thúi chật lối choán đường để phải vịnh đeo lần mò theo kẻ khác, mặc phú thác cho kẻ dẫn đường rủi may tới đâu trối mặc. Nếu gặp phải thầy trò như nhau hay quỉ ma dối gạt thì còn gì là số phận, vấp té sụp nhào ngã lộn đớn đau, bị hành phạt mãi bởi nghe tin theo lời bóc bướng.
Cũng có kẻ cho rằng không có công-lý nên tha hồ làm ác phải chịu họa tai. Chính công-lý là một sức mạnh, một quyền thế chớ không phải quyền thế sức mạnh, là người ta ai ai mà lắm kẻ lại áp dụng để hiếp đáp người. Nhưng đã là công-lý, như bóng theo hình, kẻ trèo cao sẽ té nặng, người xảo-trá há lại bình-yên mãi đâu? Đối đầu mới biết mình thất-bại, tự mình hại lấy mình, không than trách. Vậy nên ta nhớ rằng: Trong đời chẳng có ai hơn và chẳng có ai thua, cả thảy sau trước vẫn bằng nhau mà thôi.
Xưa kia có kẻ giết một tên cướp, để cứu mười thương khách, nên đời sau được hưởng giàu sang của mười gia-tài, mà sau rốt phải bị chết chém. Một vị tướng giết muôn mạng, để binh vực một xứ kia, nên được xứ kia tôn làm vua, nhưng muôn kiếp khi chết đều bị giết hại. Ấy đó tức là công-lý rõ-rệt, thưởng phạt phân minh, mà chính trước mắt chúng ta, hằng thấy mỗi ngày nên nhân loại, dầu việc to việc nhỏ, không bao giờ khỏa lấp, một nhà sư đi đường đạp cỏ, nên tới nhà người phải bị chúng khinh khi. Một kẻ ngắt luộc rau về sau cả mình đau nhức. Người đập muỗi, giết ruồi, chà kiến nên phải bị sự đánh đập, ép ngặt chà xát, chết vì đòn đau. Người làm cá, sau phải bị phân thây, lột áo khi chết đứt đầu, mất ruột. Kẻ giết chó, thì khi chết tru, người làm heo khi chết bị nghẹt cổ, kẻ lột da thú cả mình ghẻ lở, cùi phun là bởi chặt chân người, còn kẻ giết người thì bị người giết lại. Các nghiệp quả sẽ trả lại cho người gieo, hoặc bây giờ, hoặc khi chết, hoặc đời sau, nhơn thiện nhơn ác thì quả thiện quả ác, trưóc sau hoặc mau hay chậm, người gieo nhơn lộn xộn thì kết quả lộn xộn, kẻ lựa giống rặt ròng thì kết quả rặt ròng. Nhơn trong sạch không thiện ác thì quả trong sạch không thiện ác. Khi người gieo nhơn thì quả đã tượng trong tâm và sau này nó còn xuất hiện ra ngoài, mà đến cho ta, cũng như kẻ làm ác một là bị lương tâm hành phạt, và rồi còn bị quả báo đến nơi ngoài, hoặc kẻ đó hại lại ta, hay là người khác trả giùm, dầu sau hay trước , ta không tránh đâu sự báo đáp, có điều nặng hay nhẹ, do sự biết sám-hối cùng không! Cũng như kẻ kia bầm cá soi ếch, cho là không tội, bởi nó không tội bướng liều, nên quen tay làm mãi tập làm tánh ác giết đến cả người ta. Cho nên về sau bị giặc trăm người bắt giết phân thây trăm mảnh. Chớ chi mà biết sám-hối ăn-năn sớm chừa dứt lỗi thì quả báo nhẹ hơn, hoặc vả như đau nhứt từng miếng thịt, hay như bị trói mình, cũng còn dễ chịu.
Vậy nếu chúng ta sớm nhận tội, chẳng khá hơn là để tội kéo dài nảy-nở chịu nặng lâu ngày. Nếu biết tội thì tội còn phương chừa bỏ, còn mà không biết tội thì tội mãi thâm sâu, cho nên xưa kia Phật có dạy rằng: Giặc-giã cũng như người giết cá, tiền khiên thì đời sau cá tìm giết lại, mà chẳng bao giờ nó phá hại kẻ vô can. Khi ta làm giặc giết cá thì khi kia cá cũng làm giặc giết ta, không sao tránh khỏi. Có những kẻ kia đạp gai, cá đâm, vấp người mà chết ấy cũng chẳng phải là công-lý nhơn-quả hay sao. Có người nọ ăn rau sanh bệnh, ăn thịt làm độc, đánh người mà đau, ấy chẳng phải vì ăn nó, nó ăn mình, mình đánh họ, họ đánh mình, mới ra nông nỗi.
Cho hay trong đời nếu không có lăng-xăng như vậy thì đâu có cõi đời, mà thử hỏi lăng-xăng nhơn-quả thiện-ác như vậy cho khổ mệt để làm chi? Ích-lợi cho ai? Như vậy thì sự bằng thẳng yên-lặng không thiện ác như chư Phật chẳng là hạnh-phúc quí báu hơn hết? Ta nên biết rằng, thiện ác phát sanh tại tâm, lúc khởi thì quả báo cũng đã có sẵn nơi tâm xuất hiện rồi, nào đợi phải có kẻ nơi ngoài mà ngăn tránh, và tránh sao cho khỏi. Mọi nỗi vui buồn trong từng sao, phút là do nhơn-quả, bằng không nhơn quả tức là sự phẳng-lặng Niết-Bàn Công-Lý thì không còn sự khổ não của vui buồn lẫn lộn.
Cũng có kẻ gieo hột mà không có trái, là bởi sự không vun phân tưới nước mà nó chết ngang, hay chặt bỏ khi mới mọc, cùng là hột giống gieo trong đống lửa bị chết co, thì mới không còn quả báo. Hột giống ấy tức là tâm vọng, lửa kia là trí-huệ, lửa trí-huệ đốt trừ tâm vọng, gươm trí-huệ cắt chẳng cho sanh, hay như sự chẳng nói làm ô-nhiểm là không nước đất, thì mới không thọ hưởng quả báo. Có người mãi gieo trồng vun phân tưới nước, thì sợ quả báo chua cay. Vậy nếu sợ là sợ khi trước sự gieo trồng, bằng sự đã dĩ lỡ rồi, tốt hơn là đừng vun phân tưới nước, nói làm nữa, và còn lại hột giống bao nhiêu trong tâm hảy liệng thảy bỏ đi hay tìm dao trí-huệ, lửa thiền-na trừ diệt, đừng cho thêm sanh nữa, còn cây nào đã có quả, quả đang sanh mà ta không thể đốn trừ, thì tốt hơn là không thèm sợ, mà bỏ qua tới đâu hay đó, ta chỉ lo nhập-định cho vui mà quên lấp nó đi, khi nào quả tới thì lo ăn cho hết, chớ để dần dà cất lại bỏ rơi đừng cho mai sau mọc lại mới là hết tuyệt.
Ví bằng ta muốn đốn cây đã thật to, thì phải rán ra công rèn đúc búa to cưa lớn, như bậc Bồ-Tát kia mới được. Mà cũng còn sức đốn một hai cây chớ như đã trồng nhiều như đám rừng, thì lớp đốn lớp ăn đừng cho sót mọc. Nếu biết sợ thì đừng gieo, gieo hột có trái rồi thì sợ nữa làm chi cho vô-ích, còn sự đốt bỏ chặt đứt , chẳng tưới vun là phải xuất-gia bỏ thế, lìa đời xa vòng ô-nhiểm, trì giới nhập-định trí-huệ mới được. Ngoài cách xuất-gia để không tạo nghiệp thêm, để tránh quả xấu và vui chịu hưởng quả cũ là không có pháp nào yên vui được. Bởi hột giống của chúng-sanh vốn sẵn tức là si mê-ngòi mộng, sân giận thịt cơm, tham-lam như bao hột, ôm giữ lấy nó làm thân-tâm trí của cải lâu đời, để nó ở trong trần thế là chỗ nói làm như đống rác, thì sao lại chẳng mọc lên chồi.
Chỉ có xua kia chư Bồ-Tát triệu ức kiếp vay của chúng-sanh hoăc bằng thân mạng, hoặc món cửa nhà, để lo ăn học đeo theo mãi mục-đích của sự học, nhờ vậy mà đặng thi đậu đắc quả thành công, trở nên bực toàn năng toàn giác. Các bậc ấy không sợ quả báo luân-hồi là do nhờ chủ định. Thấy ra mục-đích của chúng sanh là học, nên lo tìm học công-lý cho mau giác-ngộ để cứu đời. Vay của người nuôi thì để đó mà không thèm vội trả, cho rằng bổn phận mình chỉ có ăn học, còn kẻ nuôi là ý họ muốn cho ta học nên để dạy chỉ bảo lại cho họ thấy đường đi về sau mà đền ơn, chớ không phải họ nuôi ta như voi ngựa, để bắt ta phải làm thân nô-lệ mà đi đền đáp xây vần.
Vậy bổn-phận ta phải lo chăm học, hãy quên lãng bỏ qua ân-nghĩa tạm, đặng đừng phụ ý ta và lòng họ, mà sự cung cấp ấy do người hảo-tâm tự ý, chớ ta không gây tạo, nói làm ép buộc, có chi nuôi sống lấy tạm, lếu-láo qua ngày, thanh-bần đơn-giản, làm kẻ du-tăng trò khó, chẳng tham sân vậy. Đợi đến chừng đắc quả rồi, mới đem đạo-lý giáo-hóa cho tất cả chúng-sanh chung, một thời nói pháp cho cả vạn ngàn người nghe, một lời thốt ra để mãi trong thế-gian, ghi sâu trong sách sử triệu kiếp, quí giá hơn kim-cương. Một câu giảng dạy cứu khắp Địa-Ngục, Ngạ-Quỉ, Súc-Sanh, A-Tu-La, Nhơn, Thiên, đưa về cõi Phật, cha mẹ quyến-thuộc muôn đời, kẻ ơn nghĩa từ xưa, dầu ờ đâu đâu cũng đều được giác ngộ siêu-thăng như Phật Thích-Ca xưa, khi đắc quả A-La-Hán rồi thì đi giáo-hóa cho khắp chúng-sanh mà đền ơn xưa nghĩa cũ. Khi thì vào địa-ngục giải cứu chỉ dạy, khi đến nơi ngạ-quỉ khuyên răn, lúc sanh làm thú để cảm hóa làm gương tập dạy, khi làm thầy dạy dỗ chư-thần, lúc làm cây cỏ thọ thần thuyết pháp. Khi sanh cõi người lập đạo, lúc sanh lên Trời giáo-hóa sau khi kiếp chót, đều trả hết công ơn của chúng-sanh rồi, trong tâm mới được yên vui nhẹ nghiệp, mà vào cảnh vắng-lặng Niết-Bàn. Chính Niết-Bàn là nơi hết nghiệp của tâm, mà ơn nghĩa lòng thương của chúng-sanh ta đã được đáp đền thỏa mãn tròn xong đó vậy. Thật vậy chỉ có pháp thí mới là cách trả nợ mau lẹ đông nhiều, khỏe nhẹ, và ích-lợi hơn hết, Kẻ chủ nợ ta sẽ làm đệ tử ta, khi trả nợ ta vẫn không mất chủ quyền, chỉ do lời nói nơi kẻ tham-lam đòi của, ta lại dạy cho bố-thí, là bến bờ bên kia, để lánh xa địa-ngục vật-chất, với kẻ sân hận đòi mạng, ta dạy cho nhẫn-nhục là cõi Niết-Bàn diệt khổ, tắt lửa trong A-tỳ. Kẻ giãi-đãi ăn chơi, ta lại chỉ cho phép tinh-tấn là món vui ngon để dứt lìa nơi cấu-trược v.v…Chính nhờ sự vạch đường chỉ lối cho kẻ tối tăm mà cứu độ cho họ, thì kẻ chủ nợ không còn đòi hỏi, mà lại rất mến cảm thâm ơn vạn-bội. Bởi Pháp-Bảo là quí hơn hết, Pháp-Bảo như thịt xương của Phật, đã nắm giữ được nó, thì ai còn ức hiếp gì, mà đi đòi ngũ-trần như thịt thúi xương khô mà làm chi. Ấy vậy cho nên không làm Bồ-Tát, không đắc quả Như-Lai, không giáo hóa chúng-sanh đền ơn, tâm ta không yên-vui bằng-thẳng, Niết-Bàn ngơi nghỉ. Cũng như chưa làm thầy giáo, thì có đâu đốc học hưu-trí, và ơn thí chủ họ còn vẫn kêu đòi, dễ gì cho ta yên tịnh. Vậy nên nhớ rằng, Niết-Bàn là sự không còn nghiệp nữa, sau khi đại-nguyện từ-bi trí-huệ đã mòn hết không còn. Cũng giống như kẻ đã ăn no qưên hết, như ngủ nghỉ sau khi thức mệt, là lý sự đã hết tiêu, không còn có được, giống như ngọn đèn cạn dầu đã tắt nghỉ, cái nghỉ không cùng. Đại trí-huệ của chư Bồ-Tát cũng như cái búa to, cây cưa lớn, nên chúng-sanh không còn đòi nghiệp quả nơi Ngài, là bởi được học và mến đức Ngài, nhưng tuy vậy, chớ nơi nào Ngài chưa xét đến nhân-duyên để giáo-hóa, thì nơi đó quả chín, cũng có kẻ đòi hỏi la rầy, không sao tránh hết được.
Bậc Bồ-Tát đã thi đậu rồi, đưọc học đi chơi rồi và đang giáo hóa. Bậc Bích-Chi là đã thi đậu rồi, và đang nghỉ đi chơi. Bậc A-La-Hán là vừa mới thi đậu, cho nên gọi là Bồ-Tát như thầy giáo, Bích-Chi là kẻ có học, A-La-Hán như học trò mới thi đậu, đều là những bậc đã đắc quả rồi hết, khác nhau theo danh từ của sự, đã mặc áo thầy, đã dạy học, sau trước đó thôi. Bậc A-La-Hán và Bích-Chi, thường khi phải bị trả quả, nếu quả nào chín trước, là bởi tại mình chưa đi dạy đạo trả cho họ, nên phải chịu đời hỏi. Tuy nhờ nhập-dịnh đắc quả yên-vui, nhưng chỉ là Niết-Bàn tạm, vì cái yên-vui của đời mới thi đậu và còn say mùi pháp, nó chỉ được nghỉ lặng trong một thời-gian, khi lâu về sau tâm sẽ bị xao-động, lại vì lòng từ-bi đối với nghiệp quả đang đòi hỏi, mà phải bước ra đi giáo-hóa, tự mình trở lại luân-hồi làm Bồ-Tát để dứt nghiệp cho mau xong. Các ngài khi thì tạm mang xác thân Trời, Người, Thú, cỏ cây, thần quỉ, cũng như mặt áo diễn trò, chớ thật ra tâm các Ngài không phải giống như Trời, người, thú, cỏ cây thần quỉ đâu. Các Ngài chỉ mượn thân xác ấy đặng dựa theo chúng-sanh loại đó, để làm quen mà dạy dỗ đó thôi, cho nên không có chê thân thú, thân cây, quỉ ma gì cả. Chỗ nào cũng được, chẳng lựa sạch dơ, hạp duyên thì đến mãn đời lại đi, đã là mục-đích đi trả nghiệp bằng Pháp, thì không có sự nệ câu chi-chi cảnh-ngộ nào. Nơi đây các Ngài lại được hưởng, sự yên-vui cao thượng hơn là sự trong sạch của nhập định, chỗ vắng, cảnh tịnh, Pháp hay, mà là nhận lấy sự vui tuyệt đãi nơi người, mà quên sự khổ nhọc của mình, vui nơi cái khổ, vui bởi trí hay, vui cùng khắp xứ, vui với đủ hạng chúng-sanh, nhứt là cái vui nơi nhẹ nghiệp, như người tắm sạch, bụi đất rớt từ từ lần, như cái vui của một bà mẹ hy-sinh, nhứt là cái vui nơi bầy con ngoan-ngoãn.
Vậy muốn thấy rõ Niết-Bàn Công-Lý của tâm-chơn thì, thuở xưa kia có một vị sư, trong 20 năm thọ cúng-dường nấm ngon của một vị thí-chủ, vì đó mà thấy sự mang ơn, cho nên sau khi chết, tâm nhập-định yên-lặng không được mãi, vì xao-xuyến bức-rức sanh phiền-não, không thể ở chung với bậc A-La-Hán đặng, mà lại sợ nẻo luân-hồi, nên khổ quá mà chẳng biết làm sao, khi ấy chư A-La-Hán thấy vậy mới chỉ cho phương pháp tế-độ là mỗi ngày biến sanh làm nấm ngon mọc trong vườn của người thí chủ mà trả lại, mỗi ngày mỗi mọc cho đủ 20 năm, sanh làm nấm để chịu nấu luộc đau đớn, nhờ vậy mà mỗi ngày sau khi tỉnh lại là trong tâm thấy nhẹ bớt một phần, đến khi đếm đủ 20 năm nghiệp vọng mới hết, trong tâm được tịnh-định mà đắc quả La-Hán.
Điều nhơn-quả ấy là bởi vị sư quên phận sự mình là học trò tu học, mà lại nhận thấy miếng ăn ngon, thèm nhớ nên mới phải chấp công ơn, mà quên đạo-lý, lại cũng do thí-chủ tu phước-đức mà thiếu trí-huệ vả sự nuôi học trò khó sĩ hiền là phải, nhưng sao lại cho miếng ăn ngon, để phải học trò hư tâm, và sau nầy không ai dạy đường lối cho mình. Còn vị sư ấy không được sự nhận xét đến lẽ tế độ chúng-sanh về sau, mà bỏ qua ơn nghĩa tạm, mảng vì lòng tư-kỷ, tự độ lấy thân mình, bắt người nuôi sóc, thì sao lại được tâm chơn, diệt vọng mới mãi khổ, nhớ công ơn lương tâm xao-xuyến cắn rứt, ấy bởi học trò lỗi đạo, không thông mục-đích của mình nên mới phải tự đem mình đền quả báo, để mong cho được sự yên-vui tạm của Niết-Bàn A-La-Hán, rồi về sau lâu ngày cũng còn nhớ lại đến ơn nghĩa của chúng-sanh muôn đời trước mà trở lại cõi đời, để giáo-hóa tế-độ chúng-sanh nữa vậy.
Vậy thì chúng ta nên nhớ kỹ rằng: Không phải nhơn-quả chỉ có một đời, cho hai người mà ta hằng đem thân đền trả cho hết đâu! Ta trả nợ xong một chủ thì sự yên-vui vắng-lặng chỉ được trong ít ngày mà thôi. Muốn trả hết nợ từ vô thỉ, thì bây giờ ta đừng tham sướng no thân, đừng cần thấy nhớ ơn nghĩa chi cả, và phải hiểu mục-đích của học trò, lòng mong mỏi của chúng-sanh, mà chỉ phải rán lo tu học thôi, để rồi sau này dẫn đạo giáo-hóa lại cho họ, để đạo lý lại muôn đời mới phải là kẻ giác-ngộ, toàn hiếu toàn trung, vẹn toàn ân nghĩa. Nên bỏ sự nhỏ gần, dòm ra nẻo xa lớn, mới không còn lầm lạc khổ sở, mà để lợi-ích cho ta và người.
Trong đời cũng có lắm sự thiển cận như vậy, cho nên có kẻ mãi chịu luân-hồi trả quả, vừa trả lại vừa vay, trả một vay mười, là bởi tại có xác thân bao tử, tham sống ăn chơi, nên muôn kiếp trầm luân trong bóng tối, vui để chịu khổ, khổ vui thay đổi, an ủi để hành phạt, trong chốn ngục A-Tỳ vô-gián, mãi không ngừng, thật đáng thương xót lắm.
Vậy chúng ta đừng chấp công ơn mà trả nợ bằng cách ấy và cũng đừng bướng bĩnh ngang-tàng cho rằng không công-lý mặc sức tung hoành, mà còn quên rằng cái ý của ta bao giờ nó cũng tráo trở, phản đối với hành-vi giáo-lý của ta luôn luôn, và nó dắt chúng ta đến nơi hành phạt, nhứt là cái ý nó làm cho ta khổ, khổ tại ý mới tìm đường trả quả, mà lắm kẻ lại chưa hay, để khi vui thì cười, khi buồn thì khóc và khóc mãi, lại đổ thừa ai ai trời đất quỉ thần may rủi. Chính cái ý là quỉ vô thuờng, nó đem xiềng-xích bắt lôi kéo tâm hồn ta vào xuống địa-ngục, cũng gọi nó là quỉ La-Sát Dạ-Xoa, trí ta như Phán Quan Thơ Lại, ghi chép nhơn nghiệp hằng ngày, lương-tâm chủ-tể ta như Diêm-Vương ra lịnh đày phạt kết-án. Hành-vi của ta là vách sắt tường đồng, của cải sự nghiệp ta là sình lầy than lửa, lý-thuyết chương trình giáo-lý chủ nghĩa của ta là bóng tối ban đêm. Các sự hành phạt là đau thương xiềng-xích của luyến ái thân tình. Nó làm cho ta đau-đơn khổ chết tâm hồn, chết đi rồi sống lại để hành phạt kiếp tới, lớp khác liền liền. Chính nguồn gốc của sự tìm thân sống là hành phạt nơi địa-ngục, làm cho tâm phải chết, sợ chết lại càng tìm chết , tránh khổ lại chung vào ổ khổ, càng lăn sâu vào thành thị phố xá phiền ba, càng nhào tuông vào cửa Vua Quan giàu sang phú quí vinh hoa, lại nhủi tuốt vô nhà giam khám tối, chịu lụy khốn cả thân tâm trọn vẹn.
Ấy bởi sự hiểu lầm, tưởng nơi chốn phong lưu xa mã ồn-ào là cõi thiên-đường xứ Phật, nên ai mà lại chẳng ham tìm sanh vào nơi phú-quí vinh-hoa, để hưởng bụi trần no bụng. Nào dè Phật Tiên lại ở trên cao rừng núi, sự tốt đẹp mừng vui, lại là lý-trí tinh-thần không-không các vật. Nên khi mà dầu có tỉnh-ngộ thì đã mang tật chướng gông-xiềng nặn-nề đau-đớn, làm sao mà lên khỏi mặt đất dưới hầm sâu.
Than ôi! Sự mảng lo tranh giành cái địa-ngục vật-chất nấm mồ, quỉ thần ấu đả, mãi mãi nắm chặt lấy cái và của ta nơi đó chẳng hay rồi. Còn thời giờ rảnh đâu, mà ngó lại Thiên-Đường, dòm qua Phật-Quốc. Xem nơi nhơn loại hòng ra khỏi nơi Tam-Đồ-Bát-Nạn. Bởi say mê điên đảo chưa thức tỉnh chẳng nhìn ra, có lắm kẻ ỷ lại rằng: Tôi hay phải, tôi tốt đẹp, cao ráo trên đời, tài hay trí lạ. Nhưng nào biết đâu đó chẳng là, trong bóng tối ban đêm, sự biến hóa khéo hay của chư thần quỉ, xinh lịch ảo thuật có thua gì. Mà nào biết được sự lánh trược tầm thanh, sự bỏ đông tìm vắng, sự bỏ vọng tìm chơn, sự bỏ ma tìm Phật, sự bỏ phàm tìm Thánh, sự bỏ khổ tìm vui , sự bỏ ác tìm thiện, sự bỏ thấp tìm cao của chư Phật Thánh, hoặc của bậc nhân hiền, mà đem thân làm cây cỏ thú cầm, mặc áo thú cầm cây cỏ để giáo-hóa chúng-sanh, để đền bù nghiệp tội, để giải-thoát phiền-não, để lo tu học, để hưởng thanh-nhàn, tuy áo thân dơ xấu, mà tâm hồn an-lạc thông thả Phật Trời hơn là sự chấp lầm thân áo tốt đẹp xuê-xang tưởng như Trời Phật, sự tô nhuộm son phết bên ngoài khám ngục, để gạt gẫm kẻ tội nhơn, lưới bẫy rập nôm để rình nhốt kẻ gian tà, bắt được tâm hồn đem vào trong rồi mặc sức khổ la cầu cứu.
Chúng-sanh bởi chẳng biết mình là kẻ tội nhơn, mãi đi trói buộc, chôn mình, tự đắc chấp khoe thân mạng, mà lọt sa vào màn lưới vô-minh, lại càng tự cao quay lộn, càng bó xiết chặt mình, nên khi đến lúc thì phải chết trơ, không còn cựa quậy, đó tức là công lý, thái quá bất cập, nhơn quả bằng nhau, trồi lên hụp xuống, vui khổ xây vần, thân tâm tương đối, cái được cái thua v.v…thật là phiền não vô-ích tai hại không ngừng, cao thấp mệt nhọc, tức là bài học trường đời, để dạy chúng ta giác-ngộ lẽ công-bằng chơn-lý. Cho nên khi kẻ đã hiểu đạo rồi, thì dầu thân nầy thân khác, tâm kia tâm nọ đi nữa cũng vẫn yên vui một mực, yên lặng dung hòa, dầu ai có gọi Phật Trời, người thú, cỏ cây, ma quỉ, mất còn, sao cũng được, sao cũng xong, miễn là ta biết lấy ta là đủ, ấy vậy chúng ta nên hiểu rằng, Người tội sanh pháp-luật, chớ không phải pháp-luật sanh người tội. Pháp-luật cai trị kẻ ác chớ không phải áp chế người hiền. Luật-pháp để đem người ác đến chỗ người hiền, muốn cho người hiền và kẻ hiền rồi thì phải lo tu học, tìm hiểu công-lý lẽ thật, đặng đến chỗ yên vui cực-lạc, chớ khá tự cao đứng hoài mỏi cẳng, sa ngã té rớt xuống hố ác khốn họa không nên vậy.
Cách ngôn: Công-lý hơn pháp-luật!
Hiền nhơn chăm tu học, quí hơn sự lo ăn chỗ ở.
Thế là ai, ai cũng cần nên phải biết hiểu công-lý hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.
Công-lý vốn sẵn nơi việc làm, nơi lời nói, nơi ý tưởng, nơi ta, nơi người ,nơi xác thân, tâm hồn lý trí, nó phát sanh từ nơi tứ-đại lăn xây, như bánh xe, như cây cân, như mặt kiếng là sức rung động phản dội mạnh mẽ phi thường huyền-bí kỳ-diệu, vì nó mà lắm kẻ tự tin cho rằng, có bàn tay sắp đặt cõi đời, có đấng chúa tể nào đó, mới có chúng-sanh và chúng-sanh ở trong định-luật các pháp của vị ấy, vạn-vật bởi vị ấy tạo ra, vị ấy là cha sanh ra, trước hết sanh ra vị ấy bởi một lý thuyết mênh mông. Chúng sanh là con mỗi chúng-sanh đều có tay sai quỉ thần hộ mạng. Sắp đặt giữ-gìn nuôi sóc, cũng có kẻ trong giấc chiêm bao mơ-màng khi tưởng-tượng cùng trong khi mới chết, hay lúc trở về già, đối mặt với phản giác-kính-trừu-tượng của công-lý, như đứng trước gương nghiệt cảnh mà thấy ra tù khám, diêm vương xử phạt, hoặc gặp phải cảnh thiên đường xứ Phật trong thế-giới tưởng-tượng. Chịu lắm sự thưởng phạt vu-vơ, hình bóng lâu ngày.
Đã đành rằng công-lý là luật dĩ- nhiên của tạo-hóa thi cần gì sự bênh vực hay xử phạt để giúp đỡ cho chúng-sanh tiến hoá mau hoặc chậm mới được hay sao? Nào đợi phải vua Trời, vua Đất, vua Người, kiếm người làm việc mà gìn-giữ cảnh giới nào? Đã là công-lý thì kẻ ác trẻ con phải chịu sức phản dội nặng nề đau đớn của việc làm, hơn là người thiện. Hành vi của kẻ thiện như giá cân lổng-chổng, ngông-ngênh, mỏi-mệt ngộp sợ hơn là người không thiện không ác, giữ mực song bằng. Công-lý vốn không thiện ác thưởng phạt, mà kẻ làm ác thì bị thưởng phạt, khổ vui cười khóc, phiền-não lăng-xăng trói buộc chớ ích gì! Thế nên cõi của bậc giác-ngộ, và những bậc đã giác-ngộ rồi thì cần gì pháp-luật, cõi linh-hồn hay xác thịt nào đợi gì phải có âm-phủ dương-phủ, sự thưởng phạt của người Trời quỉ. Nếu họ biết xử phạt cai-trị người, còn ai xử phạt cai-trị họ, chẳng là bất công hay lợi-dụng công-lý, làm quyền chẳng là ngang bạo lắm sao? Đã là ai cũng như ai, nếu không ai mượn mình chỉ dùm công-lý thì hà tất phải tự mình bày khai, bắt buộc ép người phải học phải tuân theo. Bởi vậy cho nên cõi công-lý là cõi vô quyền, vô trị không có giai-cấp việc làm chi cả, mà chư Phật Thánh y theo, nên không bao giờ khổ lụy. Kìa xứ Cực-Lạc, nọ Giáo-Hội Tăng-Già, nơi ấy chỉ có công-lý là Pháp Bảo, giáo-lý học-hành không giai-cấp phái môn, chẳng ai làm việc cho ai, mà được muôn năm hạnh-phúc, vĩnh-viễn yên-vui, giải-thoát hoàn-toàn nào đợi oai quyền chế độ. Than ôi! Nếu bao giờ chúng-sanh chưa tỉnh-ngộ chưa nhận được công-lý nơi mình, chủ tể nơi mình thì muôn kiếp vẫn làm tôi mọi cho kẻ hoang đàng dốt học, mà bị trói buộc đáng thương-xót vậy. Nếu chúng ta hiểu ra công-lý, thì trong đời, cần gì ai lại phải đi làm tôi mọi sắp đặt xử trị cho kẻ khác hay sao? Đã sẵn công-lý thì nào ai phải mượn ai, mà có ai lại sắp lo cho rồi, những việc mà người ỷ lại, để buông lung làm ra mãi mãi. Vậy nên tốt hơn là mỗi nguời đều phải tự học hiểu công-lý, để rồi đời sống của mình ra sao, do hành-vi của mình, là mình chịu lấy chớ khen chê, chẳng là hay hơn. Chớ nếu kẻ thì giữ-gìn luật-pháp sắp trị như tôi tớ, còn người lại làm chủ, ỷ lại pháp-luật có sẵn để cứu mình, mà mãi tha hồ tạo nghiệp, để đến lúc bị xử phạt lại than van, hoặc được thưởng khen thì cười vui hê-hả. Như vậy chẳng là tội nghiệp cực-khổ cho kẻ làm quan vua lắm sao? Mảng vì bị danh-lợi dân chúng tôn hùa bợ đỡ để mãi làm tay sai cho dân chúng suốt đời, mà trái lại lắm kẻ ham đua chen vào vòng xích-tỏa, rồi một ngày kia ai cũng quan vua hết, thì hỏi vậy chứ còn ai mà làm dân, rồi ai xử phạt cho ai? Lắm khi mảng lo thiện ác cho người mà quên sự phải quấy của mình, bởi địa-vị càng cao lòng tự-ái càng trọng khó dằn tâm sửa trí mà phải bị quả báo trừng phạt về sau.
Công-lý võ-trụ chẳng bao giờ bảo ai đứng ra thay thế cả, chẳng bao giờ bảo ai dạy sắp cho ai và chẳng bao giờ bảo ai ỷ lại nương theo ai, sao chúng ta lại tìm chi những cái vô-lý ấy vậy. Công-lý là chủ tể, tâm của mỗi người, tánh của nó là định, chơn-như bình-đẳng bằng ai vọng động bất công thì bị quả báo vay trả tức thì. Nên chi chư Phật tạm gọi là chỉ bảo đạo-lý cho chúng-sanh, người mà cầu khẩn tìm nghe học hỏi, chớ chẳng xưng thầy, buộc người phải học, vì ai nấy cũng như nhau mà thôi.
Vả lại dầu có khổ vui còn mất đi nữa, thì trong cái nầy có sẳn cái kia, trong cái kia có sẵn cái nọ, dầu thái quá bất cập hay trung dung đi nữa thì cũng như nhau, có ai mà đi chìu được ý muốn của kẻ tham lam, khi ưa vầy khi muốn khác, cho họ được vừa lòng. Cho nên bằng sự dạy chỉ cho công-lý kia, mà chư Phật còn ít nói thay, huống chi là đem mình đi làm những việc vô-ích chi chi, lếu rộn, bôn-chôn giữ gìn bênh vực. Bởi thế cho nên chư Phật dạy rằng: Cõi Trời người địa-ngục còn khổ bởi vô-minh, biết thiện ác mà không có học công-lý, nên mới chấp nắm giáo-lý thế-quyền khổ nhọc không công vô-lý sái trật lắm. Mà lại nếu pháp-luật nhiều, thì kẻ gian ác lại thêm nhiều. Kìa Phật là kẻ chúng sanh như ta, nhưng nhờ biết công-lý rồi, thì vua Trời, vua Người, vua Quỉ không lấy lẽ gì cai trị đặng, mà trái lại còn tôn thờ học hỏi. Vậy ta nên làm Phật, học hiểu công-lý biết thấy đạo tâm, mới là giải-thoát, giải-thoát hoàn toàn.
Vậy ta nên nhớ rằng: Giác-ngộ công-lý như Phật kia mới là thật. Còn giáo-lý thế quyền giai-cấp chế độ thần quyền là lớp tạm, để dạy phạt kẻ tối tăm dốt nát dại khờ quấy ác thôi
Vậy nên các thầy giáo trong đời ấy, cũng là tạm, rất giả dối. rất mệt nhọc. Mà tất cả thầy trò lớp học, còn phải cần sửa đổi học hành, để đem nhau đến lần công lý đặng giải-thoát. Hiểu nơi công-lý các lớp xã-hội ấy dầu không có cũng được, đợi gì phải đi bênh vực lo riêng cho loài người, mà bỏ thú vật, hay bỏ các loại khác bất công để lo cho vô ích. Đã không mượn, lại chẳng ai nghe lời đó vậy. Dầu mà có người tôn lập ép buộc cầu khẩn đi nữa thì khi nhận lấy thế quyền, mục đích là phải lo cần yếu dạy học, còn sự sắp đặt là tạm sơ cho có chừng trong mỗi lúc theo thời duyên cho xong mà thôi. Cốt yếu làm sao cho học sinh mau hiểu biết. Để khi nó đã biết công-lý rồi thì không cần sắp đặt, chúng nó cũng tự hòa hiệp yên vui lấy nó, mà đố ai xúi bảo nó đi làm sái quấy cho được. Vậy ta nên xem gương học trò lớp chót hỗn tạp ồn ào bất trị, mà nào ông thầy giáo có khổ tâm về chỗ đó, ông chỉ sắp tạm sơ cho lấy có và cần dạy học mà thôi, nhưng trải qua lâu ngày nhờ có học tập, thì nó càng êm thắm thuần phục lần, và khi đã lớn khôn bước lên lớp trên cao, thì học sinh ấy thật hoàn toàn tốt đẹp. Chớ nào phải đâu là sự mãi lo ăn giựt giành trốn học để đi chơi chịu dốt hay sao? Nếu không hiểu công-lý thật là dốt, đã là dốt thì làm sao hiểu được mục đích Chánh-Đẳng Chánh-Giác trung-đạo Niết-Bàn, là chỗ đến của tất cả chúng-sanh, hòng đi tới công-lý của võ-trụ để làm chúa tể lấy ta, giữ gìn bổn ngã.
Trong đời kẻ không biết công-lý, cũng như người không có con mắt chủ tể, thì các căn kia cũng chết liệt, khác thể thây ma, như cái tử thi vô dụng, dơ thúi chật lối choán đường để phải vịnh đeo lần mò theo kẻ khác, mặc phú thác cho kẻ dẫn đường rủi may tới đâu trối mặc. Nếu gặp phải thầy trò như nhau hay quỉ ma dối gạt thì còn gì là số phận, vấp té sụp nhào ngã lộn đớn đau, bị hành phạt mãi bởi nghe tin theo lời bóc bướng.
Cũng có kẻ cho rằng không có công-lý nên tha hồ làm ác phải chịu họa tai. Chính công-lý là một sức mạnh, một quyền thế chớ không phải quyền thế sức mạnh, là người ta ai ai mà lắm kẻ lại áp dụng để hiếp đáp người. Nhưng đã là công-lý, như bóng theo hình, kẻ trèo cao sẽ té nặng, người xảo-trá há lại bình-yên mãi đâu? Đối đầu mới biết mình thất-bại, tự mình hại lấy mình, không than trách. Vậy nên ta nhớ rằng: Trong đời chẳng có ai hơn và chẳng có ai thua, cả thảy sau trước vẫn bằng nhau mà thôi.
Xưa kia có kẻ giết một tên cướp, để cứu mười thương khách, nên đời sau được hưởng giàu sang của mười gia-tài, mà sau rốt phải bị chết chém. Một vị tướng giết muôn mạng, để binh vực một xứ kia, nên được xứ kia tôn làm vua, nhưng muôn kiếp khi chết đều bị giết hại. Ấy đó tức là công-lý rõ-rệt, thưởng phạt phân minh, mà chính trước mắt chúng ta, hằng thấy mỗi ngày nên nhân loại, dầu việc to việc nhỏ, không bao giờ khỏa lấp, một nhà sư đi đường đạp cỏ, nên tới nhà người phải bị chúng khinh khi. Một kẻ ngắt luộc rau về sau cả mình đau nhức. Người đập muỗi, giết ruồi, chà kiến nên phải bị sự đánh đập, ép ngặt chà xát, chết vì đòn đau. Người làm cá, sau phải bị phân thây, lột áo khi chết đứt đầu, mất ruột. Kẻ giết chó, thì khi chết tru, người làm heo khi chết bị nghẹt cổ, kẻ lột da thú cả mình ghẻ lở, cùi phun là bởi chặt chân người, còn kẻ giết người thì bị người giết lại. Các nghiệp quả sẽ trả lại cho người gieo, hoặc bây giờ, hoặc khi chết, hoặc đời sau, nhơn thiện nhơn ác thì quả thiện quả ác, trưóc sau hoặc mau hay chậm, người gieo nhơn lộn xộn thì kết quả lộn xộn, kẻ lựa giống rặt ròng thì kết quả rặt ròng. Nhơn trong sạch không thiện ác thì quả trong sạch không thiện ác. Khi người gieo nhơn thì quả đã tượng trong tâm và sau này nó còn xuất hiện ra ngoài, mà đến cho ta, cũng như kẻ làm ác một là bị lương tâm hành phạt, và rồi còn bị quả báo đến nơi ngoài, hoặc kẻ đó hại lại ta, hay là người khác trả giùm, dầu sau hay trước , ta không tránh đâu sự báo đáp, có điều nặng hay nhẹ, do sự biết sám-hối cùng không! Cũng như kẻ kia bầm cá soi ếch, cho là không tội, bởi nó không tội bướng liều, nên quen tay làm mãi tập làm tánh ác giết đến cả người ta. Cho nên về sau bị giặc trăm người bắt giết phân thây trăm mảnh. Chớ chi mà biết sám-hối ăn-năn sớm chừa dứt lỗi thì quả báo nhẹ hơn, hoặc vả như đau nhứt từng miếng thịt, hay như bị trói mình, cũng còn dễ chịu.
Vậy nếu chúng ta sớm nhận tội, chẳng khá hơn là để tội kéo dài nảy-nở chịu nặng lâu ngày. Nếu biết tội thì tội còn phương chừa bỏ, còn mà không biết tội thì tội mãi thâm sâu, cho nên xưa kia Phật có dạy rằng: Giặc-giã cũng như người giết cá, tiền khiên thì đời sau cá tìm giết lại, mà chẳng bao giờ nó phá hại kẻ vô can. Khi ta làm giặc giết cá thì khi kia cá cũng làm giặc giết ta, không sao tránh khỏi. Có những kẻ kia đạp gai, cá đâm, vấp người mà chết ấy cũng chẳng phải là công-lý nhơn-quả hay sao. Có người nọ ăn rau sanh bệnh, ăn thịt làm độc, đánh người mà đau, ấy chẳng phải vì ăn nó, nó ăn mình, mình đánh họ, họ đánh mình, mới ra nông nỗi.
Cho hay trong đời nếu không có lăng-xăng như vậy thì đâu có cõi đời, mà thử hỏi lăng-xăng nhơn-quả thiện-ác như vậy cho khổ mệt để làm chi? Ích-lợi cho ai? Như vậy thì sự bằng thẳng yên-lặng không thiện ác như chư Phật chẳng là hạnh-phúc quí báu hơn hết? Ta nên biết rằng, thiện ác phát sanh tại tâm, lúc khởi thì quả báo cũng đã có sẵn nơi tâm xuất hiện rồi, nào đợi phải có kẻ nơi ngoài mà ngăn tránh, và tránh sao cho khỏi. Mọi nỗi vui buồn trong từng sao, phút là do nhơn-quả, bằng không nhơn quả tức là sự phẳng-lặng Niết-Bàn Công-Lý thì không còn sự khổ não của vui buồn lẫn lộn.
Cũng có kẻ gieo hột mà không có trái, là bởi sự không vun phân tưới nước mà nó chết ngang, hay chặt bỏ khi mới mọc, cùng là hột giống gieo trong đống lửa bị chết co, thì mới không còn quả báo. Hột giống ấy tức là tâm vọng, lửa kia là trí-huệ, lửa trí-huệ đốt trừ tâm vọng, gươm trí-huệ cắt chẳng cho sanh, hay như sự chẳng nói làm ô-nhiểm là không nước đất, thì mới không thọ hưởng quả báo. Có người mãi gieo trồng vun phân tưới nước, thì sợ quả báo chua cay. Vậy nếu sợ là sợ khi trước sự gieo trồng, bằng sự đã dĩ lỡ rồi, tốt hơn là đừng vun phân tưới nước, nói làm nữa, và còn lại hột giống bao nhiêu trong tâm hảy liệng thảy bỏ đi hay tìm dao trí-huệ, lửa thiền-na trừ diệt, đừng cho thêm sanh nữa, còn cây nào đã có quả, quả đang sanh mà ta không thể đốn trừ, thì tốt hơn là không thèm sợ, mà bỏ qua tới đâu hay đó, ta chỉ lo nhập-định cho vui mà quên lấp nó đi, khi nào quả tới thì lo ăn cho hết, chớ để dần dà cất lại bỏ rơi đừng cho mai sau mọc lại mới là hết tuyệt.
Ví bằng ta muốn đốn cây đã thật to, thì phải rán ra công rèn đúc búa to cưa lớn, như bậc Bồ-Tát kia mới được. Mà cũng còn sức đốn một hai cây chớ như đã trồng nhiều như đám rừng, thì lớp đốn lớp ăn đừng cho sót mọc. Nếu biết sợ thì đừng gieo, gieo hột có trái rồi thì sợ nữa làm chi cho vô-ích, còn sự đốt bỏ chặt đứt , chẳng tưới vun là phải xuất-gia bỏ thế, lìa đời xa vòng ô-nhiểm, trì giới nhập-định trí-huệ mới được. Ngoài cách xuất-gia để không tạo nghiệp thêm, để tránh quả xấu và vui chịu hưởng quả cũ là không có pháp nào yên vui được. Bởi hột giống của chúng-sanh vốn sẵn tức là si mê-ngòi mộng, sân giận thịt cơm, tham-lam như bao hột, ôm giữ lấy nó làm thân-tâm trí của cải lâu đời, để nó ở trong trần thế là chỗ nói làm như đống rác, thì sao lại chẳng mọc lên chồi.
Chỉ có xua kia chư Bồ-Tát triệu ức kiếp vay của chúng-sanh hoăc bằng thân mạng, hoặc món cửa nhà, để lo ăn học đeo theo mãi mục-đích của sự học, nhờ vậy mà đặng thi đậu đắc quả thành công, trở nên bực toàn năng toàn giác. Các bậc ấy không sợ quả báo luân-hồi là do nhờ chủ định. Thấy ra mục-đích của chúng sanh là học, nên lo tìm học công-lý cho mau giác-ngộ để cứu đời. Vay của người nuôi thì để đó mà không thèm vội trả, cho rằng bổn phận mình chỉ có ăn học, còn kẻ nuôi là ý họ muốn cho ta học nên để dạy chỉ bảo lại cho họ thấy đường đi về sau mà đền ơn, chớ không phải họ nuôi ta như voi ngựa, để bắt ta phải làm thân nô-lệ mà đi đền đáp xây vần.
Vậy bổn-phận ta phải lo chăm học, hãy quên lãng bỏ qua ân-nghĩa tạm, đặng đừng phụ ý ta và lòng họ, mà sự cung cấp ấy do người hảo-tâm tự ý, chớ ta không gây tạo, nói làm ép buộc, có chi nuôi sống lấy tạm, lếu-láo qua ngày, thanh-bần đơn-giản, làm kẻ du-tăng trò khó, chẳng tham sân vậy. Đợi đến chừng đắc quả rồi, mới đem đạo-lý giáo-hóa cho tất cả chúng-sanh chung, một thời nói pháp cho cả vạn ngàn người nghe, một lời thốt ra để mãi trong thế-gian, ghi sâu trong sách sử triệu kiếp, quí giá hơn kim-cương. Một câu giảng dạy cứu khắp Địa-Ngục, Ngạ-Quỉ, Súc-Sanh, A-Tu-La, Nhơn, Thiên, đưa về cõi Phật, cha mẹ quyến-thuộc muôn đời, kẻ ơn nghĩa từ xưa, dầu ờ đâu đâu cũng đều được giác ngộ siêu-thăng như Phật Thích-Ca xưa, khi đắc quả A-La-Hán rồi thì đi giáo-hóa cho khắp chúng-sanh mà đền ơn xưa nghĩa cũ. Khi thì vào địa-ngục giải cứu chỉ dạy, khi đến nơi ngạ-quỉ khuyên răn, lúc sanh làm thú để cảm hóa làm gương tập dạy, khi làm thầy dạy dỗ chư-thần, lúc làm cây cỏ thọ thần thuyết pháp. Khi sanh cõi người lập đạo, lúc sanh lên Trời giáo-hóa sau khi kiếp chót, đều trả hết công ơn của chúng-sanh rồi, trong tâm mới được yên vui nhẹ nghiệp, mà vào cảnh vắng-lặng Niết-Bàn. Chính Niết-Bàn là nơi hết nghiệp của tâm, mà ơn nghĩa lòng thương của chúng-sanh ta đã được đáp đền thỏa mãn tròn xong đó vậy. Thật vậy chỉ có pháp thí mới là cách trả nợ mau lẹ đông nhiều, khỏe nhẹ, và ích-lợi hơn hết, Kẻ chủ nợ ta sẽ làm đệ tử ta, khi trả nợ ta vẫn không mất chủ quyền, chỉ do lời nói nơi kẻ tham-lam đòi của, ta lại dạy cho bố-thí, là bến bờ bên kia, để lánh xa địa-ngục vật-chất, với kẻ sân hận đòi mạng, ta dạy cho nhẫn-nhục là cõi Niết-Bàn diệt khổ, tắt lửa trong A-tỳ. Kẻ giãi-đãi ăn chơi, ta lại chỉ cho phép tinh-tấn là món vui ngon để dứt lìa nơi cấu-trược v.v…Chính nhờ sự vạch đường chỉ lối cho kẻ tối tăm mà cứu độ cho họ, thì kẻ chủ nợ không còn đòi hỏi, mà lại rất mến cảm thâm ơn vạn-bội. Bởi Pháp-Bảo là quí hơn hết, Pháp-Bảo như thịt xương của Phật, đã nắm giữ được nó, thì ai còn ức hiếp gì, mà đi đòi ngũ-trần như thịt thúi xương khô mà làm chi. Ấy vậy cho nên không làm Bồ-Tát, không đắc quả Như-Lai, không giáo hóa chúng-sanh đền ơn, tâm ta không yên-vui bằng-thẳng, Niết-Bàn ngơi nghỉ. Cũng như chưa làm thầy giáo, thì có đâu đốc học hưu-trí, và ơn thí chủ họ còn vẫn kêu đòi, dễ gì cho ta yên tịnh. Vậy nên nhớ rằng, Niết-Bàn là sự không còn nghiệp nữa, sau khi đại-nguyện từ-bi trí-huệ đã mòn hết không còn. Cũng giống như kẻ đã ăn no qưên hết, như ngủ nghỉ sau khi thức mệt, là lý sự đã hết tiêu, không còn có được, giống như ngọn đèn cạn dầu đã tắt nghỉ, cái nghỉ không cùng. Đại trí-huệ của chư Bồ-Tát cũng như cái búa to, cây cưa lớn, nên chúng-sanh không còn đòi nghiệp quả nơi Ngài, là bởi được học và mến đức Ngài, nhưng tuy vậy, chớ nơi nào Ngài chưa xét đến nhân-duyên để giáo-hóa, thì nơi đó quả chín, cũng có kẻ đòi hỏi la rầy, không sao tránh hết được.
Bậc Bồ-Tát đã thi đậu rồi, đưọc học đi chơi rồi và đang giáo hóa. Bậc Bích-Chi là đã thi đậu rồi, và đang nghỉ đi chơi. Bậc A-La-Hán là vừa mới thi đậu, cho nên gọi là Bồ-Tát như thầy giáo, Bích-Chi là kẻ có học, A-La-Hán như học trò mới thi đậu, đều là những bậc đã đắc quả rồi hết, khác nhau theo danh từ của sự, đã mặc áo thầy, đã dạy học, sau trước đó thôi. Bậc A-La-Hán và Bích-Chi, thường khi phải bị trả quả, nếu quả nào chín trước, là bởi tại mình chưa đi dạy đạo trả cho họ, nên phải chịu đời hỏi. Tuy nhờ nhập-dịnh đắc quả yên-vui, nhưng chỉ là Niết-Bàn tạm, vì cái yên-vui của đời mới thi đậu và còn say mùi pháp, nó chỉ được nghỉ lặng trong một thời-gian, khi lâu về sau tâm sẽ bị xao-động, lại vì lòng từ-bi đối với nghiệp quả đang đòi hỏi, mà phải bước ra đi giáo-hóa, tự mình trở lại luân-hồi làm Bồ-Tát để dứt nghiệp cho mau xong. Các ngài khi thì tạm mang xác thân Trời, Người, Thú, cỏ cây, thần quỉ, cũng như mặt áo diễn trò, chớ thật ra tâm các Ngài không phải giống như Trời, người, thú, cỏ cây thần quỉ đâu. Các Ngài chỉ mượn thân xác ấy đặng dựa theo chúng-sanh loại đó, để làm quen mà dạy dỗ đó thôi, cho nên không có chê thân thú, thân cây, quỉ ma gì cả. Chỗ nào cũng được, chẳng lựa sạch dơ, hạp duyên thì đến mãn đời lại đi, đã là mục-đích đi trả nghiệp bằng Pháp, thì không có sự nệ câu chi-chi cảnh-ngộ nào. Nơi đây các Ngài lại được hưởng, sự yên-vui cao thượng hơn là sự trong sạch của nhập định, chỗ vắng, cảnh tịnh, Pháp hay, mà là nhận lấy sự vui tuyệt đãi nơi người, mà quên sự khổ nhọc của mình, vui nơi cái khổ, vui bởi trí hay, vui cùng khắp xứ, vui với đủ hạng chúng-sanh, nhứt là cái vui nơi nhẹ nghiệp, như người tắm sạch, bụi đất rớt từ từ lần, như cái vui của một bà mẹ hy-sinh, nhứt là cái vui nơi bầy con ngoan-ngoãn.
Vậy muốn thấy rõ Niết-Bàn Công-Lý của tâm-chơn thì, thuở xưa kia có một vị sư, trong 20 năm thọ cúng-dường nấm ngon của một vị thí-chủ, vì đó mà thấy sự mang ơn, cho nên sau khi chết, tâm nhập-định yên-lặng không được mãi, vì xao-xuyến bức-rức sanh phiền-não, không thể ở chung với bậc A-La-Hán đặng, mà lại sợ nẻo luân-hồi, nên khổ quá mà chẳng biết làm sao, khi ấy chư A-La-Hán thấy vậy mới chỉ cho phương pháp tế-độ là mỗi ngày biến sanh làm nấm ngon mọc trong vườn của người thí chủ mà trả lại, mỗi ngày mỗi mọc cho đủ 20 năm, sanh làm nấm để chịu nấu luộc đau đớn, nhờ vậy mà mỗi ngày sau khi tỉnh lại là trong tâm thấy nhẹ bớt một phần, đến khi đếm đủ 20 năm nghiệp vọng mới hết, trong tâm được tịnh-định mà đắc quả La-Hán.
Điều nhơn-quả ấy là bởi vị sư quên phận sự mình là học trò tu học, mà lại nhận thấy miếng ăn ngon, thèm nhớ nên mới phải chấp công ơn, mà quên đạo-lý, lại cũng do thí-chủ tu phước-đức mà thiếu trí-huệ vả sự nuôi học trò khó sĩ hiền là phải, nhưng sao lại cho miếng ăn ngon, để phải học trò hư tâm, và sau nầy không ai dạy đường lối cho mình. Còn vị sư ấy không được sự nhận xét đến lẽ tế độ chúng-sanh về sau, mà bỏ qua ơn nghĩa tạm, mảng vì lòng tư-kỷ, tự độ lấy thân mình, bắt người nuôi sóc, thì sao lại được tâm chơn, diệt vọng mới mãi khổ, nhớ công ơn lương tâm xao-xuyến cắn rứt, ấy bởi học trò lỗi đạo, không thông mục-đích của mình nên mới phải tự đem mình đền quả báo, để mong cho được sự yên-vui tạm của Niết-Bàn A-La-Hán, rồi về sau lâu ngày cũng còn nhớ lại đến ơn nghĩa của chúng-sanh muôn đời trước mà trở lại cõi đời, để giáo-hóa tế-độ chúng-sanh nữa vậy.
Vậy thì chúng ta nên nhớ kỹ rằng: Không phải nhơn-quả chỉ có một đời, cho hai người mà ta hằng đem thân đền trả cho hết đâu! Ta trả nợ xong một chủ thì sự yên-vui vắng-lặng chỉ được trong ít ngày mà thôi. Muốn trả hết nợ từ vô thỉ, thì bây giờ ta đừng tham sướng no thân, đừng cần thấy nhớ ơn nghĩa chi cả, và phải hiểu mục-đích của học trò, lòng mong mỏi của chúng-sanh, mà chỉ phải rán lo tu học thôi, để rồi sau này dẫn đạo giáo-hóa lại cho họ, để đạo lý lại muôn đời mới phải là kẻ giác-ngộ, toàn hiếu toàn trung, vẹn toàn ân nghĩa. Nên bỏ sự nhỏ gần, dòm ra nẻo xa lớn, mới không còn lầm lạc khổ sở, mà để lợi-ích cho ta và người.
Trong đời cũng có lắm sự thiển cận như vậy, cho nên có kẻ mãi chịu luân-hồi trả quả, vừa trả lại vừa vay, trả một vay mười, là bởi tại có xác thân bao tử, tham sống ăn chơi, nên muôn kiếp trầm luân trong bóng tối, vui để chịu khổ, khổ vui thay đổi, an ủi để hành phạt, trong chốn ngục A-Tỳ vô-gián, mãi không ngừng, thật đáng thương xót lắm.
Vậy chúng ta đừng chấp công ơn mà trả nợ bằng cách ấy và cũng đừng bướng bĩnh ngang-tàng cho rằng không công-lý mặc sức tung hoành, mà còn quên rằng cái ý của ta bao giờ nó cũng tráo trở, phản đối với hành-vi giáo-lý của ta luôn luôn, và nó dắt chúng ta đến nơi hành phạt, nhứt là cái ý nó làm cho ta khổ, khổ tại ý mới tìm đường trả quả, mà lắm kẻ lại chưa hay, để khi vui thì cười, khi buồn thì khóc và khóc mãi, lại đổ thừa ai ai trời đất quỉ thần may rủi. Chính cái ý là quỉ vô thuờng, nó đem xiềng-xích bắt lôi kéo tâm hồn ta vào xuống địa-ngục, cũng gọi nó là quỉ La-Sát Dạ-Xoa, trí ta như Phán Quan Thơ Lại, ghi chép nhơn nghiệp hằng ngày, lương-tâm chủ-tể ta như Diêm-Vương ra lịnh đày phạt kết-án. Hành-vi của ta là vách sắt tường đồng, của cải sự nghiệp ta là sình lầy than lửa, lý-thuyết chương trình giáo-lý chủ nghĩa của ta là bóng tối ban đêm. Các sự hành phạt là đau thương xiềng-xích của luyến ái thân tình. Nó làm cho ta đau-đơn khổ chết tâm hồn, chết đi rồi sống lại để hành phạt kiếp tới, lớp khác liền liền. Chính nguồn gốc của sự tìm thân sống là hành phạt nơi địa-ngục, làm cho tâm phải chết, sợ chết lại càng tìm chết , tránh khổ lại chung vào ổ khổ, càng lăn sâu vào thành thị phố xá phiền ba, càng nhào tuông vào cửa Vua Quan giàu sang phú quí vinh hoa, lại nhủi tuốt vô nhà giam khám tối, chịu lụy khốn cả thân tâm trọn vẹn.
Ấy bởi sự hiểu lầm, tưởng nơi chốn phong lưu xa mã ồn-ào là cõi thiên-đường xứ Phật, nên ai mà lại chẳng ham tìm sanh vào nơi phú-quí vinh-hoa, để hưởng bụi trần no bụng. Nào dè Phật Tiên lại ở trên cao rừng núi, sự tốt đẹp mừng vui, lại là lý-trí tinh-thần không-không các vật. Nên khi mà dầu có tỉnh-ngộ thì đã mang tật chướng gông-xiềng nặn-nề đau-đớn, làm sao mà lên khỏi mặt đất dưới hầm sâu.
Than ôi! Sự mảng lo tranh giành cái địa-ngục vật-chất nấm mồ, quỉ thần ấu đả, mãi mãi nắm chặt lấy cái và của ta nơi đó chẳng hay rồi. Còn thời giờ rảnh đâu, mà ngó lại Thiên-Đường, dòm qua Phật-Quốc. Xem nơi nhơn loại hòng ra khỏi nơi Tam-Đồ-Bát-Nạn. Bởi say mê điên đảo chưa thức tỉnh chẳng nhìn ra, có lắm kẻ ỷ lại rằng: Tôi hay phải, tôi tốt đẹp, cao ráo trên đời, tài hay trí lạ. Nhưng nào biết đâu đó chẳng là, trong bóng tối ban đêm, sự biến hóa khéo hay của chư thần quỉ, xinh lịch ảo thuật có thua gì. Mà nào biết được sự lánh trược tầm thanh, sự bỏ đông tìm vắng, sự bỏ vọng tìm chơn, sự bỏ ma tìm Phật, sự bỏ phàm tìm Thánh, sự bỏ khổ tìm vui , sự bỏ ác tìm thiện, sự bỏ thấp tìm cao của chư Phật Thánh, hoặc của bậc nhân hiền, mà đem thân làm cây cỏ thú cầm, mặc áo thú cầm cây cỏ để giáo-hóa chúng-sanh, để đền bù nghiệp tội, để giải-thoát phiền-não, để lo tu học, để hưởng thanh-nhàn, tuy áo thân dơ xấu, mà tâm hồn an-lạc thông thả Phật Trời hơn là sự chấp lầm thân áo tốt đẹp xuê-xang tưởng như Trời Phật, sự tô nhuộm son phết bên ngoài khám ngục, để gạt gẫm kẻ tội nhơn, lưới bẫy rập nôm để rình nhốt kẻ gian tà, bắt được tâm hồn đem vào trong rồi mặc sức khổ la cầu cứu.
Chúng-sanh bởi chẳng biết mình là kẻ tội nhơn, mãi đi trói buộc, chôn mình, tự đắc chấp khoe thân mạng, mà lọt sa vào màn lưới vô-minh, lại càng tự cao quay lộn, càng bó xiết chặt mình, nên khi đến lúc thì phải chết trơ, không còn cựa quậy, đó tức là công lý, thái quá bất cập, nhơn quả bằng nhau, trồi lên hụp xuống, vui khổ xây vần, thân tâm tương đối, cái được cái thua v.v…thật là phiền não vô-ích tai hại không ngừng, cao thấp mệt nhọc, tức là bài học trường đời, để dạy chúng ta giác-ngộ lẽ công-bằng chơn-lý. Cho nên khi kẻ đã hiểu đạo rồi, thì dầu thân nầy thân khác, tâm kia tâm nọ đi nữa cũng vẫn yên vui một mực, yên lặng dung hòa, dầu ai có gọi Phật Trời, người thú, cỏ cây, ma quỉ, mất còn, sao cũng được, sao cũng xong, miễn là ta biết lấy ta là đủ, ấy vậy chúng ta nên hiểu rằng, Người tội sanh pháp-luật, chớ không phải pháp-luật sanh người tội. Pháp-luật cai trị kẻ ác chớ không phải áp chế người hiền. Luật-pháp để đem người ác đến chỗ người hiền, muốn cho người hiền và kẻ hiền rồi thì phải lo tu học, tìm hiểu công-lý lẽ thật, đặng đến chỗ yên vui cực-lạc, chớ khá tự cao đứng hoài mỏi cẳng, sa ngã té rớt xuống hố ác khốn họa không nên vậy.
Cách ngôn: Công-lý hơn pháp-luật!
Hiền nhơn chăm tu học, quí hơn sự lo ăn chỗ ở.
Thế là ai, ai cũng cần nên phải biết hiểu công-lý hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.
No comments:
Post a Comment