Tuesday, February 23, 2016

BÁT-CHÁNH-ĐẠO.

I
BÁT-CHÁNH-ĐẠO tức là tám cách hành đạo, theo lẽ chánh của bậc thánh-nhân, cũng kêu là bát-chánh-đạo, là pháp tự-độ, độ-tha, sống chung với tất cả, để cùng đưa nhau lên đến cùng tột là Niết-Bàn. Bát-chánh-đạo cũng gọi là chánh pháp hay trung đạo gồm cả sự học và hành. Bát-chánh-đạo là tám cửa, tám đường vui, tám pháp giải-thoát, tám tia sáng…là con đường tiến-hoá của chúng sanh, tức là chơn-lý của võ-trụ, mà muôn loại đều ở trong.
Bát-chánh-đạo là bà mẹ hay khí thở hoặc như mặt đất, cái nhà, mà người, Trời, không bao giờ thiếu sót, lạc loài. Tất cả chúng-sanh đều ở trong đạo bát-chánh, cõi đời có cũng do bát-chánh-đạo. Bát-chánh-đạo là sự sống hay tâm hồn của chúng-sanh, mà các tông-chi giáo-lý văn-minh thảy từ đó mà ra cả. Bát-chánh-đạo không phải là riêng của một đạo giáo nào, chính đạo là nấc thang chung của toàn thể.
Tám đường chánh ấy là:
  1. Chánh-kiến-đạo, là con đường thấy chánh.
  2. Chánh-tư-duy-đạo, là con đường suy gẫm chánh.
  3. Chánh-ngữ-đạo, là con đường nói chánh.
  4. Chánh-nghiệp-đạo, là con đường làm chánh.
  5. Chánh-mạng-đạo, là con đường sống chánh.
  6. Chánh-tinh-tấn-đạo, là con đường siêng-năng chánh.
  7. Chánh-niệm-đạo, là con đường tưởng nhớ chánh
  8. Chánh-định-đạo, là con đường yên nghỉ chánh.
Cũng có thể nói như vầy:
  1. Chánh-kiến-đạo, là thấy con đường chánh.
  2. Chánh-tư-duy-đạo, là suy gẫm con đường chánh
  3. Chánh-ngữ-đạo, là con đường nói chánh
  4. Chánh-nghiệp-đạo, là con đường làm chánh.
  5. Chánh-mạng-đạo, là con đường sống chánh
  6. Chánh-tinh-tấn-đạo, là con đường siêng-năng chánh.
  7. Chánh-niệm-đạo, là con đường tưởng nhớ chánh
  8. Chánh-định-đạo, là yên nghỉ con đường chánh.
Nghĩa là:
  1. Sự thấy chơn chánh, trước khi thấy, đang thấy, và sau khi thấy, sự thấy (bằng mắt trí nhận xét) nghe, hiễu biết, phải cho hạp lẽ chánh, chơn thật.
  2. Sự suy gẫm chơn chánh, trước khi suy gẫm, đang suy gẫm, sau khi suy gẫm, tầm tõi quán xét, phải cho hạp lẽ chánh, chơn thật.
  3. Sự nói chơn chánh, trước khi nói, đang nói, sau khi nói, lời lẽ phải thiện lành, trong sạch, hạp theo lẽ chánh, chơn thật.
  4. Sự làm chơn chánh, trước khi làm, đang làm, sau khi làm, việc làm phải đừng tham sân si, nên đi xin ăn cho hạp lẽ chánh, chơn thật.
  5. Sự sống chơn chánh, phút sống đã qua, phút đang sống, phút sống sắp đến, không tham sống sợ chết, sống theo lẽ phải không vị ác tà, sống theo đạo lý, cho hạp theo lẽ chánh, chơn thật.
  6. Sự siêng năng chơn chánh, việc đã qua, việc hiện tại và việc chưa tới, phải bền chí mà lướt tới, không thối chuyển ngã lòng, cố gắng sự hành đạo, cho hạp theo lẽ chánh, chơn thật.
  7. Sự niệm tưởng chơn chánh, niệm tưởng việc qua rồi, việc hiện tai, và việc sẽ đến, phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo, cho hạp lẽ chánh, chơn thật.
  8. Sự yên nghỉ chơn chánh, trước khi nhập định, đang nhập định, sau khi nhập-định, phải giữ sự yên-lặng, ngừng nghỉ tất cả mọi việc, quyết-định không sanh, bất thối không rời bỏ đạo chánh nhứt định không xao-lãng, không đổi dời, hằng nghỉ-ngơi yên vui sau sự thiện huệ, cho hạp lẽ chánh chơn thật.
II

Bát-chánh-đạo không phải tự nơi ý người chế lập, mà vẫn sẵn có trong đời, bậc giác-ngộ sau này mới nói chỉ ra đó thôi.
NHƠN DUYÊN CỦA TÁM ĐẠO
Như chúng ta thấy không-gian có khí, trong khí có nước có đất, trong đất có lửa. Lửa thổi phù lên, nước đất cuốn tròn thành bọt. Bọt thủy-tinh hay là qủa địa-cầu, khi nổi khi xẹp, vốn sẵn là cái “có” ở nơi “không”
Đoạn này để chỉ rằng: Lúc sống thì VẠN-HỮU tiến lần đến chết. Lúc chết thì SỰ VÔ cũng tiến lần đến sống. Trong lúc CÓ hoạt-động thì trong lúc KHÔNG cũng ngầm hoạt động. Như vậy là chúng-sanh vạn-vật vẫn sống chứ không có chết, chỉ tạm đổi hình bóng phương-tiện sở chấp bên ngoài đó thôi.
Bởi tại quan-niệm của chúng ta, đang ở trong một cảnh giới CÓ nào đó, nên không thể hiểu biết được bề trái của sự sống, nơi cảnh giới KHÔNG bên kia. Cũng như môt kẻ ở trong cái không và quyến thuộc, quyến thuộc không, tượng thành cái có lần lần, thì nó nói là chết mất rồi, không còn cái sống của không nữa. Vậy nên không và có, sống và chết, do sự nhận lầm của chúng sanh, đặt tên theo mỗi lúc chớ chẳng có chi là chết, là không cả. Cũng như kẻ kia nói: “Người chết trong vật-chất rồi! Người chết trong tinh-thần rồi! Vật chất người không có rồi! Tinh-thần người không có rồi!” Như thế nghĩa là: Không có trong cái này, là có trong cái kia, chết trong cái này, là sống trong cái kia. Thế là vẫn có, vẫn sống, vẫn nảy nở vẫn tiêu hoại, đổi lớp cũ máy hư mà sắm lần cái mới tươngđối. Nhảy ra, nhảy vào ẩn hiện, khi bên này, khi bên kia, như né tránh như nhường đường.
Sắc thân này bỏ, chất sống tứ-đại vẫn còn sống, mà mọc nảy sanh thân khác. Tâm thức linh-hồn này, chết tan, chớ điển thức, sống biết, vẫn còn trong không-gian và vạn hữu nó sẽ sống lại lần lần một tâm-thức linh hồn khác. Cho nên nói rằng: Cái là sanh, cái đang sanh, cái chưa sanh thế là tất cả CÓ KHÔNG đều gọi chúng-sanh, tức là có, sống hết thảy, chớ đâu có cái không, cái chết. Chỉ có sự đổi xác đổi hồn, bỏ cũ lấy mới, càng đi tới, càng lăn tròn trở lại, cũng gọi mới mãi hay cũ mới không đầu đuôi. Đó là bánh xe chơn-lý, luân-hồi của vạn-hữu, mà chúng-sanh hằng ôm đeo cái ta không định, khổ bởi không thường, chấp lầm có không, sống chết, đến đi còn mất, chẳng chút lặng ngừng, nghỉ-ngơi đứng vững, yên vui. Đành nhắm mắt cho cái ta nhập vào đâu trối kệ.
Cũng như một thân cây: từ đất nước mọc lên, lớn dần, sức nặng, đất nước thay hình; khi già chết, khô nhẹ, nát mục nhỏ tóp rồi mất luôn, kế mọc lại cây khác nữa. Cái sống trong võ-trụ không thay đổi, mà cái ta cây đã mất hình. Cũng như từ chưa có người, đến thành một ông già, rồi chết, thịt xương ấy tiêu rã, tóp hình, rồi biến mất, không-không rồi thì lại có thân người khác nảy tượng mà cái ta già trước kia lại không có nữa.
Chơn-lý của vạn-hữu cũng y như thế, nên chúng ta khỏi phải lo sợ rằng: vạn-vật chúng-sanh hay tứ-đại địa-cầu, quá đông quá nặng: Chỉ có điều cần là chúng ta rán giữ mình làm sao cho cái ta nào đó, được thường bền, yên vui, đứng nghỉ , có mãi nơi một cảnh giới là khoẻ hơn. Điều ấy tức là giải thoát hay đạo, là con đường của chúng ta vậy. Con đường ấy cũng sẵn có trong trần, chỉ có điều là ta chịu nhận xét quan tâm tất sẽ thấy ngay rõ rệt:
  1. Trong nước có sở-kiến, là sự thấy.
  2. Trong đất có tư-duy, là thức sống hay biết đang cử động.
  3. Trong cỏ có ngữ, là lời nói do sự rung khua.
  4. Trong cây có nghiệp, là trái hột của cải.
  5. Trong thú có mạng sống, là tư-tưởng (sống lâu mau tự nó tìm ăn).
  6. Trong người có tinh-tấn, là hành-vi tiến-hoá.
  7. Trong Phật có định, là sư đứng ngừng yên-lặng, cái sống mới vững vàng.
  8. Trong Trời có niệm, là sự ghi nhớ điều lành, nên được vui thanh nhẹ.
Từ nước đến PHẬT, từ kiến đến ĐỊNH, là nấc thang tấn-hoá kêu là ĐẠO, đến Phật, Định, kêu là đắc-đạo. Kết-quả của sự sống  là đắc-quả, hay là bậc giải-thoát hoàn-toàn. Định là dứt khổ. Định là có ta, dứt luân hồi sống mãi đời đời
III

Bá-chánh-đạo cũng là con đường từ đầu tới cuối, mà chư Phật đã đi qua rồi.
  1. Chánh-kiến: là sự nhận xét thấy tõ rõ, lẽ thật đạo pháp, liền xuất-gia giải-thoát, lìa bỏ sự tà-kiến vô-minh, lầm-lạc của đời ác trược bỏ khổ tìm vui.
  2. Chánh-tư-duy: là sự chiêm-nghiệm, sưu tầm chơn-lý, để được trí-huệ, phải ở nơi chỗ vắng, núi, rừng, vuờn một mình ít lâu.
  3. Chánh-ngữ: là tới lui cõi đời, để nói pháp dắt dẫn dạy khuyên người, sau khi đã thấu lý đạo, đắc quả, để cho được cái học từ nơi nghe, nơi suy-nghỉ, nơi sự hành-động cùng nơi sự nói luận giảng-giải.
  4. Chánh nghiệp: là đi xin, ăn một ngọ chay, mặc một bộ áo vá ba cái, ở lều lá góc cây, bịnh không tự làm thuốc, vật-chất không-không, không một chỗ, không một vật. Đi khắp nơi học dạy trau tâm. Lấy sự cứu độ người làm nghề nghiệp, không tích-trữ của-cải, không tự lấy làm tham, không tự làm là ác. Ta xin ăn của người mà sống, người xin học nơi ta mà sống, sống lo chuyền nhau, bỏ cái sở chấp ta, và của ta gian ác. Ở nơi rừng lượm xin trái lá, vào xóm xin thuốc xin cơm, uống nước xin sông xin suối, ngồi nằm xin đất đá; lẽ xin tự người vui hạp mà cho, là tốt đẹp hơn các nghề-nghiệp.
  5. Chánh-mạng: là không có cái sống cho mình, thân là của đạo của chúng sanh, sống bằng tâm chơn-như, thân có không, còn mất chẳng mến, chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn.
  6. Chánh-tinh-tấn: là sự cố-gắng kiên-tâm, trì-giới nhập-định, và đi hành đạo giáo hoá khắp nơi.
  7. Chánh-niệm: là niệm tưởng Phật, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng niệm tưởng chúng-sanh khổ, để tìm phương-tiện cứu độ.
  8. Chánh-định: là niết-bàn chơn-như, hay sự nhập-định, sau khi từ-bi trí-huệ đã đủ đầy. Cũng gọi hưu-trí nín-nghỉ, sau khi rồi xong hết các việc, của cải có dư.
IV
VỀ CÁC PHÁP CỦA TÁM ĐẠO
  1. Chánh-kiến: là thấy chắc các sự khổ, thấy chắc lòng tham-ái, là nguyên nhân sanh các khổ, thấy biết chỉ có cảnh Niết-Bàn cắt tham ái là nơi dứt khổ, thấy biết chắc con đường trung-đạo dắt-dẫn đến nơi diệt khổ, thấy biết chắc nhơn và quả, thiện là đi tới, ác là đi lui, trong sạch là giải-thoát, thấy rõ sự tiến-hoá, chớ không có chí lưu luyến, trìu mến cuộc đời.
  2. Chánh-tư-duy: là sự suy xét không đành làm hại loài vật phải bị hại. Suy xét không đành làm cho loài vật phải đau đớn. Suy-xét đặng tránh khỏi ngũ-dục, để tìm sự xuất-gia giải-thoát, tầm tõi các nghĩa để độ mình và độ người. Quán xét sự khổ của muôn loại, chơn-lý của võ-trụ.
  3. Chánh-ngữ: là không nói dối, không đâm thọc, không rủa chửi, không khoe-khoang vô-ích, nói chơn thật, nói lời lành, nói đạo lý, khuyên lơn can gián khen ngợi…
  4. Chánh-nghiệp: là không làm nghiệp sát-sanh, trộm cắp tà-âm không làm các nghề-nghiệp ác để cho có của-cải, không tham sân si.
  5. Chánh-mạng: là không nuôi loài vật để bán, không mua bán loài vật, không mua bán người (sự mai dong). Không mua bán thuốc độc, không mua bán đồ binh khí, không mua bán các thứ rượu để nuôi sống, không sống theo lẽ ác tà, không vì lẽ sống của mình mà giết hại mạng khác.
  6. Chánh-tinh-tấn: là rán giữ không cho sự ác sắp phát khởi ra được, rán dứt sự ác đã có trong thân tâm, rán làm những sự lành mà mình chưa làm, rán làm những sự lành mà mình sẵn có cho được thêm  lên, rán nghe, học hỏi, giảng dạy, tu tịnh, giữ giới.
  7. Chánh-niệm: là nhớ nhắc các tướng trong thân-thể là vô thường, khổ-não, vô-ngã. Ghi nhớ rằng: cái thọ vui hay cái thọ khổ, những sự lành, những sự ác, các danh từ và các pháp trong thế gian đều là vô-thường, khổ-não, vô-ngã, không tham sân, si, dục vọng, luyến-ái.
  8. Chánh-định:
  • Định-sơ-thiền: tầm-sát, hỷ, lạc, tịnh, định, xả.
  • Định-nhị-thiền: hỷ, lạc, tịnh, định, xả
  • Định-tam-thiền: lạc, tịnh định, xả.
  • Định-tứ-thiền: tịnh, định, xả.
Tất cả các pháp lành trong thế-gian đều thuộc vào tám phần của bát-chánh-đạo, không thể nói viết cho cùng…Bát-chánh-đạo gồm cả tam-tàng Pháp-bảo, tám muôn bốn ngàn Pháp-môn, ba ngàn Pháp cái, mà chơn-như (chánh-định) là mục-đích chỉ có một.
Bát-chánh-đạo cũng là tám con đường ngay thẳng, hay tám cửa giải-thoát, cho chúng-sanh, đang ở trong rừng sâu, hố thẳm là đời. Bởi không hiểu mục-đích, không thông chơn-lý, chẳng rõ nhơn-duyên, sau trước khó phân, chỉ quanh-quẩn trong sự cần sống hiện tại; nên chúng-sanh đã tạo ra cho mình đám rừng nguy, hố độc. Càng lúc càng sâu dày, để tự giam hãm và hành phạt lấy, mặc cho cái khổ nó hành hà, vô thường lôi kéo, cái không nó cướp giựt. Chúng-sanh chỉ làm mọi cho sự vô-ích, làm tội cho lẽ thất-bại.
Tám tà đạo như vách đá, như giăng dây, như chuồng lồng, như khám ngục bao vòng, chúng sanh ở sâu trong chính giữa, hay là ở trong một nhà của tám nhà, thì có bao giờ thấy biết đường ra?
  1. Tà-kiến-đạo: là thấy biết mê tin, xác thân, quyến-thuộc, vật-chất cõi đời, cho là có sự thật bền dài, hạnh-phúc đầy-đủ không có chi hơn nữa.
  2. Tà-tư-duy-đạo: là sự so tính trù lượng, mưu hay trí giỏi, khéo-léo tài nghề, nghiên-cứu, học-hành, chủ ý để đua tranh giành giựt lẫn nhau, đặng nuôi huyễn thân mộng cảnh.
  3. Tà-ngữ-đạo: là quỉ quyệt lời nói, trau chuốt khoe khoang, dua-bợ, nịnh-hót dối-trá, hơn thua, rủa-sả đâm-thọc, nói lời vô-ích.
  4. Tà-nghiệp-đạo: là lấy tham sân si làm của cải, sanh đủ nghề-nghiệp xảo-trá, sanh nhai.
  5. Tà-mạng-đạo: là sát-sanh, trộm cắp, tà-dâm, uống rượu, trà, thuốc, biến-nhác, lợi dụng mong cầu sự sống, sướng ngon cho thân mạng.
  6. Tà-tinh-tấn-đạo: là siêng lo việc ác, cố-gắng làm càng, chen đua danh lợi, liều mạng quên thân, lướt càng theo ý dục
  7. Tà-niệm-đạo: là niệm tưởng mãi ghi sâu húc chặt theo vật-chất xác thân, quyến thuộc luyến-ái dục-tình, tưởng nhớ không nguôi.
  8. Tà-định-đạo: là cái sở định luân-hồi, quyết giữ cõi đời thân xác, yên tâm trong của cải tình thương. Không còn biết đâu cõi khác, bậc nào; chỉ giữ vững lập trường chí-hướng, tôn thờ xác thân, biết có một mình, mục-đích tham sống, khổ-sở thất bại không nao. Tự mình làm ác, xúi người làm ác, ưa chịu việc làm ác,tội ác không chừa, quả báo không sợ tới đâu hay đó, miễn được vui cười, ai sao bỏ mặc.
Tám tà đạo gồm cả các pháp ác trược của thế-gian sanh ra tám muôn bốn ngàn sự khổ, ba ngàn cái ác, đem lại sự vọng động không ngừng, tương-đối nghịch- đối với chánh-đạo.
Tà đạo là địa-ngục mãi luân-hồi, biến hoá không lường giỏi hay không đếm, nói chẳng hay cùng…Tám tà đạo là tám vách địa-ngục, những ai càng đi sâu vào, càng mất lối ra như bãi sình lầy càng lún, càng chìm. Dầu ở một chỗ, một nhà (là một trong tám đạo) hay đi quanh-quẩn thế mấy, cũng không ra khỏi tay vô-thường, bắt buộc khổ-đau.
Cũng có lắm kẻ như vậy, mỗi người chỉ ở trong một tà đạo, một sở chấp như: kẻ thì ở trong tà-kiến, người thì ở trong tà tư-duy, hoặc tà-ngữ, tà-nghiệp, tà-mạng, tà-tinh-tấn, tà-niệm, tà-định…Nhưng nếu họ tìm ra được chánh-đạo tương-đối, thì ở nhà nào ra cửa đó, ở phương nào thì ra hướng đó, xây lưng trở lại rất mau lẹ vô cùng. Cũng như kẻ nhắm mắt thấy địa-ngục là đi tới mãi, liền đó mở mắt ra là gặp Niết-Bàn trước mặt rất gần. Phải trái, cong ngay, chỉ ở trong một niệm trí mà thôi.
V
Người tà-kiến thi đi sâu vào trong chốn khổ mịt-mờ, đen tối nếu quay trở lại chánh kiến, tức nhiên giải-thoát, sang lạn vui tươi. Bởi vậy cho nên:
  1. Chánh-kiến là đạo thoát khổ của kẻ tà-kiến
  2. Chánh-tư-duy là đạo thoát khổ của kẻ tà-tư-duy.
  3. Chánh-ngữ là đạo thoát khổ của kẻ tà-ngữ.
  4. Chánh-nghiệp là đạo thoát khổ của kẻ tà-nghiệp.
  5. Chánh-mạng là đạo thoát khổ của kẻ tà-mạng.
  6. Chánh-tinh-tấn là đạo thoát khổ của kẻ tà-tinh-tấn.
  7. Chánh-niệm là đạo thoát khổ của kẻ tà-niệm.
  8. Chánh-định là đạo thoát khổ của kẻ tà định.
Tà là có có, đến vọng động chịu khổ phạt. Chánh là không không, đến chơn-như hưởng phần vui. Tà là vũng sình lầy lún ngộp, bước xuống đó là sai trật lộn đường; quay trở lại là con đưòng chánh đạo cao ráo, sạch-sẽ, bằng thẳng, mát êm. Thế nên gọi là tà đời, chánh là đạo. Đạo là sự không khổ tức là yên vui, con đường đúng phải, chốn rảnh-rang, nơi nghỉ mệt
Tám tà-đạo là tám thứ bịnh, tám chánh đạo như tám món thuốc hay cứu chữa. Ai tự xét mình có chứng bịnh nào thì uống thuốc nấy. Phép tu cũng thế: người tà-ngữ lấy chánh-ngữ sửa-trị. Người tà-nghiệp lấy chánh-nghiệp sửa trị. Chúng ta ai cũng có riêng một bịnh tà, trong tám món tà ấy, vậy nên phải tự xét mà răn chừa, thì mới mong trọn lành tốt đẹp.
Chánh đạo như nước mát, như cơm ngon, đủ mùi vị, nhờ đó mà con người mới lớn lao, trưởng đại, rộng rãi, mập tươi, không phải ốm o, nhỏ hẹp, xấu xí, vô ích tai hại.
Tà đạo lìa chơn-như đến vọng-động, rối khổ. Chánh-đạo lìa vọng động đến chơn-như, yên vui. Chúng sanh từ tà-kiến đến tà-định là đắc đời, bất thối chuyển đời. Chư Phật từ chánh-kiến đến chánh-định là đắc đạo, bất thối chuyển đạo. Đời cấu trược tối đen, sống giây phút theo thời gian trong giấc ngủ. Đạo thanh-tịnh thiện sáng, sống chắc chắn vui tươi, của người thức cảnh ban ngày.
Đạo là sự xuất-gia tấn-hoá bỏ lạc lầm lớp thấp, dứt sở chấp, thương yêu ,tránh khổ cho mình và cho kẻ khác, ăn chay đi xin, không của cải, không luân-hồi, giải-thoát khổ, trau-giồi trí huệ, nhập định chơn-như. Người đạo là người hành theo bát-chánh-đạo, chánh pháp của chư Phật ba đời.
Đạo nghĩa là pháp-lý, giáo lý hay đạo-lý.
Đạo là sự tấn-hoá, bỏ ác lên thiện, đến nghỉ ngơi.
Đạo là con đường của người giác ngộ.
Đạo là sự quét sạch bụi trần.
Đạo là chơn-như tự-nhiên vắng lặng.
Đạo cũng là giới-định-huệ hay không-không…
Nói cho rõ, đạo là con đường từ địa-ngục đến Niết-Bàn, con đường có tám chặng, đi đến đoạn chót. Niết-Bàn chánh-định mới kêu là đắc-đạo. Đạo là bát-chánh, là trung đạo tuyệt-đối, giữa tương-đối hai bờ lề, mựt giữa phẳng bằng, không cao thấp ngăn ranh, tức là sự sống chung của chúng-sanh vạn-vật trong võ-trụ, hay là cái sống vĩnh-viễn đời đời, của ta và tất cả.
Ngoài bước đi từng khoảng của đạo Bát-Chánh, không thể gọi là đắc đạo được. Ví như con đường Trời, người là chỉ mới hai phần; thiện nhơn, cư-sĩ chưa diệt hết khổ luân-hồi trọn vẹn. Chánh nghĩa đắc đạo là đã đến nơi cùng tột Niết-Bàn, không còn chỗ đi nữa, mới gọi là được. Muốn đắc đạo, ta là người, phải đến cõi Trời, rồi mới đến Niết-Bàn được, nghĩa là phải tập làm thiện nhơn cư sĩ đã. Chừng đủ thiện-căn , phước-đức, nhơn-duyên, rồi mới được xuất-gia khất-sĩ làm Tăng, ở vào trong Bát-Chánh-Đạo, kêu là nhập đạo. Kế nhờ sự hành đạo, đi đúng theo từng nấc của bát-chánh, mới đắc-đạo. Như thế có nghĩa rằng: Ai muốn làm Phật phải bỏ Trời, người, qua khỏi cảnh cư-gia thiện-trí, nhập-đạo làm Tăng khất-sĩ! Cũng như đang ở dưới ruộng lầy, cần phải bước lên mé bãi, và rồi bỏ mé bãi mà lên bờ. Trên bờ mới gọi là có đi, đi đến chỗ đi về nhà.
Không làm Tăng, không thành Phật đặng, chư Phật ba đời thảy như vậy. Trong trần-thế chỉ có một con đường ấy thôi, ai cũng thấy con đưòng ấy cả, kẻ đã đi, kẻ đang đi, kẻ sắp đi, sau trước tùy duyên, ai rồi cũng đi đến cảnh tuyệt-hảo ấy, chớ có ai đứng mãi dưới sình mà không khổ nhọc, mỏi mệt đói khát bao giờ? Ai rảnh rang thấy rõ trước thì đi trước, ai lôi thôi thì đi sau, mau chậm cũng tới, thảy chung một đường, tìm lành lánh dữ, diệt khổ yên vui như nhau có một việc.
Đó là nói cho đúng lý, sở chấp phải hẹp mới có nấc thang bước lên, cho kịp ngày hôm nay, từ có chấp đến không chấp, hết chấp đã là quen rồi, đã lên cao rồi, chớ chẳng phải chấp không, mà đứng hoài một chỗ dưới sình lầy ngộp đắm.
Vẫn hay rằng: thiện cũng đạo, ác cũng đạo, Địa-Ngục đạo, Súc-Sanh đạo, A-Tu-La đạo, Nhơn đạo,Thiên đạo, Niết-Bàn đạo…Sát đạo, Thâu đạo, Dâm đạo, Tham đạo, Sân đạo, Si đạo…Đạo là con đường của mỗi lớp chúng-sanh, tâm gì là đạo nấy, đạo khổ, đạo vui. Sao cũng gọi là đạo hết thảy, nhưng muốn diệt gốc khổ và sống đời đời thì ngoài Bát-Chánh-Đạo ra, không có đạo nào thứ hai khác cả. Là bởi, nếu không bước lên, học lớp cao nhứt, thì làm sao có sự thi đậu nghỉ-ngơi? Cùng không có già thì làm sao có hưu-trí chết nghỉ? Trái không già không chín, người không ra khỏi cửa, ắt chẳng phải kẻ đi thi.
VI
Trong Bát-Chánh-Đạo có bốn nhơn và bốn quả, gồm tất cả là một Niết-Bàn:
  1. Chánh-Kiến là nhơn, sanh ra Chánh-Tư-Duy là quả.
  2. Chánh-Ngữ là nhơn, sanh ra Chánh-Nghiệp là quả.
  3. Chánh-Mạng là nhơn, sanh ra Chánh-Tinh-Tấn là quả
  4. Chánh-Niệm là nhơn, sanh ra Chánh-Định là quả.
Muốn có bốn quả: Tư duy, Nghiệp, Tinh-tấn, Định phải có bốn nhơn: Kiến, Ngữ, Mạng, Niệm.
Muốn có Định, phải trải qua: Tư-duy, Nghiệp, Tinh-tấn
Muốn có Niệm phải qua khỏi: Kiến, Ngữ, Mạng.
Vậy nên:
  1. Muốn đắc Chánh-Tư-Duy, thì phải thật hành Chánh-Kiến
  2. Muốn đắc Chánh-Nghiệp, thì phải thật hành Chánh-Ngữ.
  3. Muốn đắc Chánh-Tinh-Tấn, thì phải thật hành Chánh-Mạng.
  4. Muốn đắc Chánh-Định, thì phải thật hành Chánh-Niệm.
Nghĩa là: Ai muôn đắc trí-huệ toàn học của CHÁNH-TƯ-DUY, thì phải cần có Chánh-Kiến, biết phân biệt, thấy rõ lẽ thiện ác trước mới được. Vì nếu không có cái thấy, thì không thể suy nghỉ được.
Ai muốn có CHÁNH-NGHIỆP của cải chắc thật quí báu, là Pháp-bảo Tam-tạng, thì phải cần có Chánh-Ngữ, nói luận học hỏi, nếu không nói, đâu có ra lời của vốn.
Ai muốn có CHÁNH-TINH-TẤN bất thối, thì phải cần có Chánh-Mạng, có không sợ chết tham sống, con người mới cố rán can đảm, lướt tới theo lẽ phải.
Ai muốn có CHÁNH-ĐỊNH nghỉ yên, thì phải cần có Chánh-Niệm. Nhờ niệm tưởng ghi nhớ một điều phải nào đó, tâm ta mới định nghỉ yên chơn-như được.
Tại sao ta phải cần có Chánh-Tư-Duy, Chánh-Nghiệp, Chánh-Tinh-Tấn và Chánh-Định! Bởi Chánh-Tư-Duy là phần thần trí, hay là sự sống, tức là cặp mắt sáng, chủ tể của ta vậy. Không có nó thì không có ta, các pháp và sự cử động, ắt gọi là chết! Kẻ không trí dù có mang thân sống đi nữa, người ta cũng chẳng thấy cái sống, tác dụng lợi ích của nó có một chút nào, và nó chỉ chật lối choán đường, tai hại cho chúng-sanh, tấn-hoá không thông mà thôi.
Nếu có sống Tư-Duy, mà không có thức ăn để nuôi, là CHÁNH-NGHIỆP Pháp-Bảo, thì làm sao no mập, tươi tốt sống đời?
Nếu có của cải nghiệp pháp, mà không có siêng-năng trồng gieo, tạo sắm nảy nở thêm ra, làm mãi, thì đâu có được sự mạnh khoẻ vui tươi, và thọ hưởng hoài. Nếu không chuyên cần TINH-TẤN, làm sao cho được có dư, nếu không dư thì chưa được yên nghỉ, ngồi không ngủ khoẻ là Chánh-Định. CHÁNH-ĐỊNH là yên vui hạnh phúc, cảnh hưu trí, nín nghỉ dưỡng tâm, kết-quả vui tươi, an-nhàn khoái-lạc, toàn-giác toàn-năng, trọn sáng trọn lành, ngôi cao của sẵn, quyến thuộc bao gồm, không lo không loạn, không còn sợ khổ, chơn phước cực-đại. Có sống, có của cải, có thêm hoài, có nghỉ yên, đời người mà được như thế là đủ lý nghĩa, ai lại chẳng cầu mong?
Thế nên, Bát-Chánh-Đạo là con đường đi của tất cả, của người đã giác-ngộ hết mê lầm. Tà đạo là cảnh giới của hạng người mới tấn-hoá, chưa gặp khổ, ít kinh-nghiệm.
  1. Chánh-Kiến đạo là cảnh giới của Thinh-Văn (học nghe tiếng pháp)
  2. Chánh-Tư-Duy đạo là cảnh giới của bậc Nhập-Lưu (mới nhập vào nguồn đạo thấu lý)
  3. Chánh-Ngữ đạo là cảnh giới của bậc Nhứt-Vãng-Lai ( còn một lần thối chuyển)
  4. Chánh-Nghiệp đạo là cảnh giới của bậc Bất-Lai (không trở lại)
  5. Chánh-Mạng đạo là cảnh giới của bậc vô sanh A-La-Hán (không còn thấy sống, chẳng phải chúng-sanh)
  6. Chánh-Tinh-Tấn đạo là cảnh giới của bậc Duyên-Giác, Bích-Chi (giác-ngộ nhơn-duyên)
  7. Chánh-Niệm đạo là cảnh giới của bậc Bồ-Tát (giác hữu tình giáo-hoá)
  8. Chánh- Định đạo là cảnh giới của bậc Như-Lai (trở lại chơn-như yên nghỉ nín lặng)
Đây cũng gọi là tám quả của tám đạo. Nhờ chánh đạo mới đi đến chơn-như, nên gọi chánh chơn là đạo của Phật.
Tám đạo để trừ tám khổ. Đạo là giác sáng, khổ tức mê mờ. Bảy giác trong đạo sáng tỏ hơn trăm ngàn mặt nhựt:
  1. Phân biệt sự lành với sự dữ.
  2. Tinh-tấn mà lướt lên.
  3. An-lạc trong vòng đạo-đức.
  4. Thắng phục tâm ý mình được làm lành.
  5. Nhớ tưởng đạo-lý.
  6. Nhứt tâm đại định.
  7. Vui chịu với mọi cảnh ngộ.
Bảy giác ấy do nơi đạo mà ra, cho nên gọi là đạo Phật. Nhờ bảy giác ấy mới thành Phật, cho nên gọi Phật là giác là cội cây của chúng-sanh nương tựa và đeo theo, làm lá bông trái nhánh để tìm vui.
Nói tóm lại: Đắc đạo là đắc Niết-Bàn, đắc đời là luân-hồi, tức là đắc Thiên-đường hay đắc Địa-ngục.
Đạo chánh là bởi thiện-lành, không ác quấy. Ấn-chứng của đạo là sự là sự vui tươi không khổ nhọc. Kẻ đã đi rồi mới biết là vui say no sướng hơn hết.
TÁM ĐẠO VÀ TÁM QUẢ
  1. Chánh-Định là Pháp của bậc Như-Lai
  2. Chánh-Niệm là Pháp của bậc Bồ-Tát.
  3. Chánh-Tinh-Tấn là Pháp của bậc Bích-Chi.
  4. Chánh-Mạng là Pháp của bậc A-La-Hán.
  5. Chánh-Ngiệp là Pháp của bậc Bất-Lai.
  6. Chánh-Ngữ là Pháp của bậc Nhứt-Vãng-Lai.
  7. Chánh-Tư-Duy là Pháp của bậc Nhập-Lưu.
  8. Chánh-Kiến là Pháp của bậc Chư-Thiên.
Tám đạo là tám nấc thang trên nhân loại.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/2/2016.MHDT.

No comments:

Post a Comment