Giả tỉ như mình bị bịnh tả mấy ngày rồi, vợ rước một ông thầy quen ở gần đến coi mạch doán rằng: bịnh bị tiện bế, bón đã vài ngày không đi đại, phải xổ cho mau kẻo chết. Mình lấy làm lạ bảo vợ rước một ông thầy quen khác chẩn mach cũng nói như vậy. Lần lần rước tới 5 thầy đều đoán quyết bịnh bón phải xổ mới sống. Mình khai thiệt: tả hết ruột; mấy thầy thuốc cãi rằng: không phải tả, mạch bón rõ ràng. Vợ dốt nói mình đau nói mê, sao bằng 5 thầy coi mach nói hiệp nhau là chắc. Lật đật đem tiền đi lấy thuốc xổ. Ở nhà thời may có lương y lạ du phương ghé xin nước. Mình hỏi ra mới biết thầy thuốc, cậy chẩn mach thử. Lương y coi mach nói: bịnh kiết tả cả ngày rồi, tì vị liệt gần ngay ruột, phải uống thuốc chỉ tả mà cầm cho mau kẻo khốn, liền biên toa cho mình rồi kiếu đi. Thế khi cũng chẳng tin toa ấy nên không uống. Vì ông thầy lạ mới đến nói một cách khác hơn mấy ông thầy mình tin cậy lâu nay đã khắng vào tim rồi, đợi vợ đem thuốc xổ về sắc mà uống đó chăng?
Vô duyên như vậy Phật độ cũng không đặng. Phật độ những người có duyên có phước biết nghe mà tỉnh hồi mới đắc ngộ tu mau thành Phật. Kinh Phật dạy tới 84.000 cách tu khác nhau mà rút một phép tu Tịnh Độ là tu tắt. Dễ mà mau thành, quí báu như mình rồng có một hột châu, non con có ngọc thượng hạng, như thái tử quí hơn quần thần. Vì dạy nhiều nên kinh chất cả đống như núi; ai vô duyên xấu phước thời khiến làm biếng mà không xem; kẻ ít phước không duyên phần xem cả trăm cuốn thấy dạy tham thiền khó lắm, tụng niệm nhiều quá cũng đã thèm, nhắm mắt không tu nổi, có ráng xem trọn bộ cho thất công mấy chục năm cũng vô ích. Vì vậy mà bỏ qua, coi chưa gặp cuốn Tịnh Độ mà học rủi biết chừng nào? Còn kẻ thiện căn có phước duyên phần, mới xem một hai cuốn may gặp Tịnh Độ pháp môn tin và mừng, vì tu dễ mà mau thành Phật rõ ràng, thiệt là tu tắt không tới hai năm mà đặng ngồi tòa sen thành Phật. Dầu trăm sợi dây cột kéo lại bảo hốt mấy muôn cân vàng mà cất rồi tu Tịnh Độ cũng không thèm. Vì tu tại gia làm cư sĩ dễ lắm. Ai có duyên phần thiện căn phước đức không tu kẻo trễ ngày giờ uổng lắm, vì tử thần đến, làm việc gì cũng phải ngưng, trẻ cũng không tha. Con Tằm Ở Ồ Kén Con tằm kéo tơ làm kén, vấn tả vấn hữu, bao dưới bao trên, kéo hết tơ chỉ trong ruột ra, quyết làm nên ổ mà ở trong cho an phận; nào hay kéo hết ruột cực hết sức lộn ra nhộng, trói mình cho chặt đặng chúng ươm trong nước sôi mà lấy tơ. Ý nó tưởng ráng sức giữ mình, nào hay người ta vì sự ráng sức của nó mà hại nó. Mấy muôn muôn triệu triệu tằm khờ lộn nhộng, con nào mà khỏi trụng nước sôi, làm cho người đặng lấy tơ và ăn gỏi nhộng thảm biết chừng nào. Vậy mà con cháu nối dòng cũng noi theo nghề đó, buộc mình cho lợi chúng mới là thảm thay! Người ráng lo cho nên sự nghiệp của tiền có khác chi đâu. Rang hết sức bình sanh quyết để sự nghiệp cho vợ con giữ đời nên mới gây oán thù nhiều chỗ. Gầy vừa xong cơ nghiệp thời đà lộn nhộng bỏ mình rồi. Coi lại muôn muôn ngàn ngàn người có ai khỏi trả nợ đời, khỏi bị báo oán mà con cháu cũng noi theo kiểu ấy luôn luôn, thiệt cũng lạ lắm! Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: người vì vợ chồng con cái buộc trói quá hơn xiềng tỏa trong đề lao, nhưng mà tội tù cầm cọng còn ân xá, vợ chồng con cái trói buộc chẳng buông tha. Cái Đăng Có Đặt Lờ Người bắt cá ví đăng (nò) ngoài vàm rạch khôngcho cá nhảy ra. Trong lại thả cỏ rong rêu nổi đầy như cặm chà, cho cá ngỡ có chỗ núp. Ngoài miệng đăng lại đặt cái lờ dưới nước. Trong miệng lờ có cái hom; chun vô thời ra xuôi ngược không đặng mắc kẹt. Bầy cá đua nhau chun vô lờ tưởng là chỗ kín đáo như ở hang, giống tôm vô cái rộng. Sông Mê cũng có nò đặt lờ như vậy. Lúc lành mạnh vô sự thời ở yên, vợ hiền con thảo cũng như lúc chưa chun vô cái lờ. Mảng vui này không lo tu Tịnh Độ, càng ngày chun vô riết lờ Ái Hà. Nhằm lúc vua Minh Vương đương giở lờ lên, dù vợ thương con mến cũng không biết làm sao mà kéo ra cho đặng; Chẳng bao lâu vợ con cũng chun vô cái lờ Minh Vương nữa. Muốn cho khỏi vô lờ Minh Vương thời lôi lên cho khỏi Ái Hà là Sông Mê, mau mau niệm Di Đà tu theo phép Tịnh Độ thời sau đặng vãng sanh Cực Lạc cả nhà. Bốn Hạng Ngựa Ngựa có bốn hạng; hạng thứ nhứt thấy bóng roi thì chạy không đợi đánh vô mình. Hạng nhì đánh một roi thời chạy luôn luôn không đợi đánh nữa. Hạng ba đánh ít không chạy, đánh nhiều mới chịu chạy. Hạng chót đánh bao nhiêu cũng không chịu chạy, đợi dùi đâm vô thịt chảy máu mới chịu chạy. Con người cũng có nhiều hạng: Trí tuệ hạng nhứt mau tỉnh ngộ. Nghe có người ở xa trăm dặm mãn phần thời giựt mình lo rằng ỏngười ở xa trăm dặm thác rồi mình cũng loài người sao cho khỏi thác. Mau tu Tịnh Độ cho kịp 24 tháng mới chắc vãng sanh ngồi liên đài. Cũng như ngựa ký thấy bóng roi thời chạy trước. thứ nhì nghe bà con thác thời giựt mình lo tu. Thứ ba thấy người trong xóm thác thời giựt mình đắc ngộ. Hạng chót đợi người trong nhà thác hoặc mình già bịnh mới giựt mình tỉnh ngộ mà tu Tịnh Độ ngày đêm. Cũng như ngựa bị dùi đâm thấy máu mới chạy. Nếu già bịnh còn chưa tỉnh ngộ mà tu thời hết bực rồi; khác nào con ngựa bị dùi đâm mấy vết máu chảy dầm dề cũng không chịu chạy; chủ phải làm hàng mà bán như heo lấy tiền mua con ngựa khác mà dùng. Con người tới già bịnh mà chưa bươn bả tu Tịnh Độ hết lòng cho Phật rước thời còn đợi cho cặp quỉ vô thường tiếp dẫn. Chồn Cáo Ăn Vụng Chồn cáo cộc tối lén vô bếp ăn vụng no quá ngủ mê. Rạng đông chủ tớ xuống nhà bếp. Chồn tỉnh giấc mở mắt thấy đông người sợ ví bắt nên không dám chạy, giả chết đợi chúng xách mà ném sẽ dông êm. Đứa đầy tớ nói chồn ăn vụng phát ách mà chết để tôi xách bỏ đi kẻo thúi. Thằng con lớn chủ nhà nói để tôi chặt đuôi phơi làm chổi rồi chú sẽ xách đi. Nói rồi lấy mác chặt đuôi, chồn cắn răng không dám động đậy. Thằng em nó nói chú khoan xách đợi tôi cắt hai cái tai nó để chơi; chồn nằm nghĩ thầm rằng ỏráng ráng chịu đau cho thằng yêu nhỏ cắt hai tai không tới nổi chếtõ. Thằng nhỏ lấy dao lại cắt hai tai rồi bà chủ nhà nghe rõ bước xuống cản rằng khoan xách đã, bởi cái áo da dê của ông rách khó kiếm da mà vá, may lắm mới gặp da chồn cáo cộc lớn thiệt quí, để lột da phơi mướn thuộc mà vá áo dương cầu. Chồn nghe hoảng hồn nghĩ rằng ỏnếu lột da thời trước phải chặt đầu cứa cổ chết đi còn gì, thà vùng chạy cầu may, chẳng hơn giả chết nằm lì cho chúng giết.õ Nghĩ vậy vùng dậy nhảy nai chạy đại mà khỏi, vì ai cũng không ngờ nó giả chết mà đề phòng, ơ hờ nó chạy khan nhảy đi, theo rượt bắt không kịp. May thay cho chồn cáo cộc. Con người ở cõi thế gian như chồn vô nhà bếp. Ai cho khỏi thác một lần. Trừ ra tu Tịnh Độ mới đặng vãng sanh cũng như giựt mình chạy liều mạng mà thoát khỏi. Hết lúc xuân xanh mạnh khỏe ví như chồn bị chặt đuôi, mới già như chồn bị cắt thêm tai. Già quá bịnh nặng như chồn bị hăm lột da mà chưa chịu nhảy nai cho khỏi chết như người già bịnh mà chưa chịu phát nguyện tu Tịnh Độ mau mau; ngày đêm tụng niệm cho kịp lâm chung mà vãng sanh mới khỏi quỉ vô thường tiếp dẫn. Cứ lôi thôi đợi chết sẽ ra mắt Minh Vương mà thử kinh nói địa ngục thiệt có hay không cho biết; kẻo vội tin tu theo Tịnh Độ mà uổng công. Thời khác nào chồn nằm lì, coi thiệt quả lột da vá áo hay là nói nộ; như vậy cũng đáng khen hồ ly đa nghi quá quắt, can đảm lạ thường. Đổ Thừa Tại Lỗi Vua U Minh Lão kia mãn số hồn xuống âm ty, Minh Vương xử án định tội. Hồn lão tâu rằng: Phải hay sớm thiệt có địa ngục chắc chắn như vầy, thời tôi đã tin kinh Phật, tu Tịnh Độ vãng sanh, khỏi nhọc công đại vương xử đoán. Phải chi đại vương mở lòng quảng đại nhắn tin cho tôi biết trước mà tôi không lo sớm đến nay hành tội mới ưng. Té ra chẳng dạy mà giết, ức biết ngần nào. Xin châm chế tội lỗi lần thứ nhứtõ. Minh Vương phán rằng: trẫm thông tin nhiều lần lắm; tóc ngươi muốn trổ hoa râm là tin thứ nhất. Răng ngươi lung lay là tin thứ nhì. Sức ngươi suy yếu là tin thứ ba. Mắt ngươi lờ quá là tin thứ tư. Lỗ tai ngươi muốn điếc là tin thứ năm. Bịnh nhiều là tin thứ sáu. Sao trách trẫm chưa cho biết trước? Có hồn đứa trai nghe rồi quì lạy khóc mà tâu rằng ỏông già ấy đặng tin sáu lần mà không lo trước đã ưng. Còn tôi chưa đặng tin nào xin đại vương xét mà thứ tộiõ. Minh Vương phán rằng: tên nọ một tuổi với ngươi bị thời khí mà chết ấy là một tin. Tên trẻ kia một cỡ với ngươi năm nọ bị thắt họng là hai tin. Tên trẻ khác bị chết trôi là ba tin. Tên trẻ ở gần bị rắn cắn chết là bốn tin. Bạn hữu ngươi chết yểu là năm tin. Thấy một cỡ với ngươi chết yểu giựt mình mà lo tu đều là hay tin trước, đợi trẫm kêu tên mà nói với ngươi sao? Dầu ngươi sức mạnh vỡ núi trùm đời, tài cao nâng trời vạch đất, cũng không khỏi ra mắt trẫm sau lúc lâm chung tắt hơi. Trừ ra tu Tịnh Độ có Đức Phật Di Đà rước hồn mới khỏi quyền trẫm xử. Sau thành Phật dạo đến đây, trẫm phải cung kính tiếp nghinh theo lễ khách. Bươm Bướm Ngã Vô Đèn Bươm bướm nhào vô đèn mà chết không phải vì đèn mà chết, chết tại chỗ thấy của nó; gọi là sáng trưng vui vẻ. Nó thấy chắc rõ ràng không lầm, người tu thương mà đuổi đi vì biết chỗ thấy của nó còn sái; song nó chẳng biết ơn lại còn giận rằng: ỏ Tức vì thấy chỗ sáng muốn đáp vô mà chơi cho vui, bị họ cà nanh ngăn trở.õ Nên rình hở mà nhào vô cho đặng. Bởi chắc ý chỗ thấy của nó là phải không lầm nên hăm hở đua nhau vô chết cả lũ. Người vì tiếng dâm sắc đẹp, rượu ngọt khói thơm, sự lợi bài bạc mau làm giàu, cậy mình học giỏi, chỗ thấy không lầm, hưởng khoái lạc một đời cho chí tử thì hết chuyện. Không tin còn hồn ma, sợ luân hồi quả báo. Dầu ai giảng chánh lý thế nào cũng chê mãi không tin. Đều tại chỗ thấy trước của mình là chắc ý hơn hết nên sấn tới cho đến chết mới thôi; gọi là hưởng phong lưu một đời đã thích chí. Con người ăn học còn thế này, trách chi bươm bướm đáp đèn là vật mọn. nếu thấy gương ấy biết ăn năn đắc ngộ mới mau thành. Ruồi Bay Vào Cửa Song Có loài ruồi kia khờ quá, saün trớn bay lọt vô cửa song. Cứ ngó tới bay riết vào vách tường, tìm lỗ mà ra không đặng. Ráng sức bay qua tả, bay lại hữu cả ngày mệt quá mà không đường ra. Tức mình kêu la lào xào cả lũ. Tại ngó tới không chịu ngó lui, coi trước mặt còn rộng chắc chỗ thấy nó không lầm, ráng sức mà bay hoài phải ra khỏi vì ỷ tài ỷ tận, tấn tới không chịu thối lui mới gọi là ruồi khờ. Chớ chi biết nhắm trước xem sau, biết mình thấy lầm mà bay vào nhầm chỗ hẹp hòi tù túng. Nay ăn năn ngó lại, quay lùi ra khỏi chỗ lầm trước, thời trời cao đất rộng mênh mông. Cõi trần như nhà vách kín bịt bung, đóng kín cửa mở song cho sang, dễ gạt bầy ruồi lằn khờ ngỡ rộng mà bay vào tù túng biết bao nhiêu. Nếu chui ra bay về hướng Tây, thiệt là mau mà rộng thinh, khoái lạc hết tù túng nữa. Bốn Phép Trị Ngựa Trong lúc Phật Thích Ca đang thuyết pháp gặp người Mã Sư tập ngựa rất thiện nghệ. Phật hỏi: ỏngươi dùng mấy phép mà tập ngựa đặng hay nên danh như vậyõ. Mã Sư đáp rằng ỏcó bốn phép: thứ nhứt ơn, thứ nhì oai, thứ ba trước oai sau ơn, thứ tư trước ơn sau oaiõ. Phật hỏi: ỏNếu dùng bốn phép ấy mà tập con ngựa nào không đặng thời phải làm sao?õ Mã sư nói: ỏKhông đặng thời làm hàng bán thịt lấy tiền mua con khác, vì để cũng vô dụng. Còn Phật dạy chúng sanh mấy phép?õ Phật nói: ỏcũng dùng bốn phép như ngươi: thứ nhứt ân là giảng dạy tu hành, về cõi Cực Lạc. Thứ nhì oai, nói người làm dữ sẽ sa tam đồ; nước lửa, gươm, đao và bị luân hồi lục đạo. Thứ ba ân trước oai sau; giảng việc tu Tịnh Độ vãng sanh Cực Lạc, rồi giảng lành dữ độ luân hồi khổ sở. Thứ tư trước oai sau ân; trước giảng sự làm dữ bị hành tội cho mà nghe, sau giảng phép tu Tịnh Độ để vãng sanh Cực Lạc cho mà độ.õ Mã sư nói: ỏBạch Phật nếu bốn phép ấy chúng sanh nghe mà không chịu tu, Đức Phật mới độ cách nào? Phật nói: ỏTa cũng giết đi!õ Mã sư thất sắc hỏi rằng: ỏNhư Lai hiền lành thương mọi chúng sanh, sao lại giết người? Phật Thích Ca nói: ỏDạy đủ bốn phép mà không nghe là người không duyên phần, có giảng hoài độ cũng không nổi, nói dai vô ích nên không nói nữa. Không nói nữa thời để cho quỉ vô thường bắt hồn hành tội, thời cũng như giết. Thánh Phàm Hai Thể Khác Nhau Phật Tiên Thần Thánh đều có ăn, song ăn thời biết mùi ngon ngọt thơm tho, ăn rồi đồ quí tiêu hóa ra hơi thơm tan hết, không tiêu tiểu nhơ uế như cõi phàm. Giáp cữ mới ăn nữa, như các vị ở cõi thiên đường ăn nhiều món ngon như Thiên tu đà. Ba cõi trên thế gian chia ra như sau đây: Một là dục giới thiên, hai là sắc giới thiên, ba là vô sắc giới thiên. Dục Giới Thiên: tại đây chúng sanh hữu tình, còn dâm dục. Cõi này có cả thảy sáu cảnh giới gọi là Lục Dục Thiên. Sắc Giới Thiên: không còn dâm dục, ăn uống. Song còn màu sắc, thân hình nên gọi là sắc giới. Tại cõi này có hai mươi từng. Từ Phạm thiên đến Đại Tự thiên. Vô Sắc Giới Thiên: tại cõi này chư Thiên không có thân thể và hình sắc nên gọi là vô sắc. chỉ còn cái tâm thức ở trong thiền định mà thôi. Về hạng thần (A Tu La Đao) có hai hạng. Hạng ác thần hưởng huyết nhục, hạng kiết thần hưởng chay lạt. Nhưng dù hạng nào đi nữa, hưởng hết phước đức thì phải luân hồi. (Như ông cả Trước ở Trảng Bàng Tây Ninh lúc còn linh hiển, bắt bối vác lái chèo đứng hoài nơi cửa miếu chờ chủ lấy lại mới đi đặng. Vùng đó thấy linh hiển nên cữ tên kêu bằng đi ỏtrácõ. Sau hưởng mấy chục năm; mãn phước đã luân hồi nên hết linh nữa). A Tu La ác đạo là ăn mặn nhờ ngay thẳng mà thành hung thần hưởng huyết thực, mau luân hồi. Nếu ăn chay thành kiết thần gọi A Tu La thiên đạo thời lâu đọa làm thần ít trăm năm, không tu thêm về Cực Lạc cũng phải bị luân hồi xuống thế mà hưởng giàu sang. Trừ ra thiên đạo tiên chậm luân hồi hơn, hưởng phước mấy ngàn năm. Nếu tu theo Phật về Tây Phương thời khỏi luân hồi. Dù giàu sang cho mấy cũng phải luân hồi mang xác phàm. Muốn đặng liên hoa hóa thân mà sống đời thời phải tu theo phép Tịnh Độ. Chín Hạng Đều Đặng Vãng Sanh Cực Lạc Chín loại chúng sinh là: 1. Thai sanh (sanh bằng thai nghén), 2. Noãn sanh (do sanh trong trứng), 3. Thấp sanh (do sự ẩm ướt sanh ra), 4. Hóa sanh (do loài này hóa ra loài kia như sâu hóa bướm), 5. Loại hữu sắc (loại có màu sắc như trời sắc giới), 6. Loại vô sắc (loại không có màu sắc như trời vô sắc giới), 7. Loại hữu tưởng (như cõi trời vô sắc, tuy không có thân hình mà có tư tưởng), 8. Loại vô tưởng (như cõi trời Tịnh Phạn vì mãi ở trong cảnh giới thiền định nên không có tư tưởng), 9. Loại phi hữu tưởng (như cõi thứ tư trong vô sắc giới thiên, chẳng phải có tư tưởng, chẳng phải không tư tưởng). Tất cả chín loại chúng sanh trên đây, ai niệm Phật cũng được vãng sanh cả. Tầm thường là loài người (nhơn đạo) có vui cũng có khổ. Khổ hơn hết là ngạ quỉ (ma đói) súc sanh, địa ngục. Trên loài người các cõi trời là vui hơn hết. Song thiên thần dù hưởng thọ đến đâu hết phước rồi cũng sa lần cho tới luân hồi. Sao bằng Cực Lạc khỏi phải luân hồi nên ông Châu Sĩ An (tác giả Tây Qui Trực Chỉ) thường dưng hương Miếu Văn Xương Đế Quân với Đông Nhạc Đại Đế lạy vái rằng: ỏXin Đế quân qui y theo Phật mà về làm Bồ Tát cõi Tây Phươngõ. Có khi dưng hương chùa Ngọc Hoàng lạy rồi cũng vái như vậy. Chúng ta may gặp cửa Tịnh Độ mà không bước vào cho đặng vãng sanh Cực Lạc thiệt uổng và rủi vô cùng. Vì tu Tịnh Độ không khó chi, ai làm cũng đặng, vừa làm vừa tu không bỏ công ăn việc làm hàng ngày, nhọc công hai năm thời đủ. Còn sống tu thêm cho quả vị lớn, tới lâm chung Phật cho biết ngày vãng sanh. Nếu không kịp hai năm, Phật cũng rước về Tây Phương làm dân tu thêm cho có quả vị. Khó nhọc là tham thiền luyện đơn hết hơi mà không thoát khỏi nẻo luân hồi. Nhiều vị thức trọn gần hai năm không ngủ để tham thiền, kết quả chẳng đi đến đâu. Nếu quí vị ấy tu Tịnh Độ ít nhứt tòa sen bực trung. Nhiều vị trường trai đã sẵn tu thêm Tịnh Độ rất lẹ thập bội. Trong ít tháng cũng đủ, sao không chịu tu thêm cho đủ Tam giáo, chắc đặng vãng sanh, bỏ trống liên đài, uổng quá, tiếc thay! Niệm Phật Không Uổng Công Việc chi ở đời làm không kết quả thờ uổng công chớ tu Tịnh Độ dù sai chạy cũng không mất công chút nào. Xưa có lão tiều gặp cọp sợ quá leo lên cây niệm Phật mà khỏi chết. Sau chết đầu thai kiếp khác tỉnh ngộ đi tu mà thành. Niệm Phật một hồi còn đặng thiện căn như vậy huống chi tu Tịnh Độ mãn đời. Dầu kiếp này mới tu không mấy ngày còn làm nhiều tộ lỗi, trong lòng xao lãng không đặng vãng sanh, kiếp sau có lúc tỉnh ngộ tu cũng thành có uổng công đâu. Chẳng phải như ở đời đi buôn không lời lại lỗ vốn, làm ruộng mất mùa mang nghèo, học không đậu uổng công. Lý Nhân Quả Thông Cả Ba Đời. Gặp Việc Buồn Cũng Ráng Niệm. Tâm Mình Có Thể Cải Tạo Hoàn Cảnh. Nhiều người mới làm lành chút ít, tụng kinh niệm Phật đã mong được hưởng phước lớn. khi gặp cảnh khổ; bịnh hoạn, nghèo nàn, tai nạn v.v.. liền cho rằng làm lành mắc họa rồi từ đó ngã lòng chê bai Phật pháp. Những kẻ ấy không hiểu ỏlý nhân quả thông cả ba đờiõ và tâm mình có thể cải tạo hoàn cảnh. Xưa nay ai đạo đức hơn Đức Khổng Tử mà còn phải bị vây nơi đất Khuông; ngài tuyệt lương nhịn đói bảy ngày mà vẫn đờn ca như thường. Kế đó vua Sở đem binh giải vây mới khỏi. Còn vua Văn Vương bị vua Trụ cầm ngục thành Dũ Lý bảy năm mới tha. Sau con Võ Vương đặng làm thiên tử. Huống chi người thường sao khỏi thời vận. Xem tích ông Khương Tử Nha thời đủ hiểu. Cứ làm lành tu niệm mãi, tự nhiên tai qua nạn khỏi, dữ hóa lành. Nhân quả thông cả ba đời là thế nào? Như đời này làm lành hoặc dữ, đời này hưởng phước hay mang họa đó là hiện báo. Đời này làm lành hoặc dữ, đời sau hưởng phước hay mang họa là sanh báo. Đời này làm lành hoặc dữ, đời thứ ba, thứ tư, thứ mười, trăm ngàn muôn đời sau mới hưởng phước hay mắc họa gọi là hậu báo. Hậu báo thì sớm muộn không định, đã gây nhân tất có quả đó là lẽ tự nhiên. Tâm mình có thể cải tạo hoàn cảnh là thế nào? Ví như mình có người kiếp trước gây nghiệp ác nặng, kiếp này chịu nhiều điều khổ dữ, ngườI ấy biết tội lỗi do kiếp trước làm, ăn năn sám hối, đổi dữ làm lành, tụng kinh niệm Phật tự tu và khuyên người tu cầu sanh về Cực Lạc. Do sự hối cải ấy, nghiệp trước kia liền tiêu bớt, đổi thành quả khổ nhẹ trong đời này như: bị khinh rẻ, hoặc đau bịnh, nghèo nàn cùng gặp những điều không vừa ý. Chịu đựng những khinh báo như thế xong người ấy có thể thoát đường sanh tử. Kinh Kim Cang có nói: Nếu có người thọ trì kinh này mà bị kẻ khác khinh chê, người đó đời trước gây tội, nghiệp đáng đọa vào ác đạo. Do đời này bị sự khinh chê nên tội trước liền được tiêu diệt, sẽ chứng quả vô thượng bồ đề. Người đời khi gặp tai nạn, nếu không oán trời tất cũng trách người, ít ai nghĩ đến sự trả nghiệp mà sanh lòng ăn năn chừa cải. Phải biết trồng cây dưa được dưa, trồng đậu được đậu là lẽ tự nhiên. Làm dữ mà vẫn hưởng phước là đời trước vun bồi cội phước đã dày, nếu không làm dữ thời phước còn lớn hơn. Làm lành mà hay bị tai nạn là đời trước trồng gốc tội đã sâu. Nếu không làm lành tụng kinh niệm Phật, họa càng lớn hơn nữa. Ví như người phạm tội nặng chưa kịp hành hình lại lập được công nhỏ, vì chưa có thể hoàn toàn ân xá nặng thành nhẹ. Nếu lập công mãi đến khi công to không những trừ hết tội trước lại được giải thoát nữa. Lập Cách Độ Tận Chúng Sanh Cách này trừ ra người không tin, không tu theo Tịnh Độ thời thôi, nếu tin mà tu, bất cần gái trai già trẻ biết niệm Phật Di Đà, câm thời niệm thầm, dầu tu mấy triệu, chết cũng đặng vãng sanh Cực Lạc, không sót một người nào luân hồi đọa lạc. Nhà nào có duyên phần, có phước, miễn một người đọc đặng cuốn kinh này, giảng cho cả nhà nghe chung chắc ai cũng muốn khi chết Phật Di Đà rước hồn về Tây Phương liên hoa hóa thân cho hết khổ. Ráng ăn trường trai, nếu không nổi tập lần lục trai, thập trai. Tệ quá thì ăn chay ngày mồng một và ngày rằm. Tuy không cấm việc vợ chồng cưới gả, song phải giữ giới kỳ cho nghiêm. Rảnh noi theo luật công quá cách làm lành sửa mình, làm đặng chút nào đỡ chút nấy. Nhứt là nội nhà tuy còn ăn mặn, mà cữ tà dâm sát sanh cho nghiêm. Không nên uống rượu loạn tánh. Dùng khô mắm, thịt chợ, cá tôm chết sẵn, không giết con chi tại nhà bếp mình. Cữ huyết thịt trâu bò cày và thịt chó. Không cần đến chùa hay tìm thầy. Hãy coi ngày giờ chư Phật hội tại hướng nào, thời đặt bàn hương án nội nhà lập nguyện. Nhớ mỗi tháng y như vậy. Thỉnh tượng Di Đà thờ, mỗi ngày tụng nhật khóa, dốt niệm sáu chữ ỏNam Mô A Di Đà Phậtõ cũng đủ. Ngày sám hối đặt bàn hương án nội nhà lập nguyện: Tôi. . . họ. . tên. . ở làng. . .hạt. . phát tâm nguyện kể từ ngày nay, cải ác tùng thiện, ăn năn chừa lỗi. Giữ theo qui luật công quá cách, đặng bao nhiêu hay bấy nhiêu, nhứt là cữ sát sanh, uống rượu, tà dâm, gian giảo, nói dối và nguyện ăn chay (trường) (thập) (lục) (sóc vọng). Mà mỗi ngày niệm Di Đà tới đủ 30 muôn câu, đặng nhờ ơn Phật chứng minh ứng mộng, đem họ tên vào liên hoa. Sau lâm chung Phật cho biết ngày rước hồn về Cực Lạc, hóa thân theo Phật cho khỏi luân hồi lục đạo. Lạy bốn lạy, niệm Phật đếm đủ 108 câu, gọi một trăm. Đem tượng Phật thờ tại bàn nào thọ trì tự ý. Từ ấy sắp sau, đi đứng nằm ngồi đều niệm thầm. Ngày đêm đếm cộng đủ 30 muôn, sẽ thấy điềm Di Đà cho biết. (Trừ ra nằm hoặc ở trần thì niệm thầm mà xả không được ghi số). Đến cơn bịnh đừng sợ tốn, sắm đồ chay cho người bịnh ăn trường, niệm Phật ngày đêm cho tới lâm chung thời thấy Phật rước. Mấy ngày cũng đủ, nhiều tháng quí hơn. Hai năm thời thấy điềm cho biết trước ngày Phật rước hồn, có tòa sen. Nếu chưa tới phần, mạnh lại như xưa, giữ trường chay không nổi ăn lại theo lệ cũ cũng không tội gì, đừng nghe họ hăm mà sợ sái, khi khác đau cũng vậy. Đừng ơ hờ, lơ lỏng uổng công. Nhớ đến cơn ngặt mình (gần tắt hơi) niệm ra tiếng mười câu, Di Đà hiện xuống rước liền. Người nhà nên niệm Phật giúp hoặc niệm vãng sanh, đừng nên khóc cho người bịnh động lòng, loạn tâm xao lãng sự tưởng niệm Di Đà. Không phải kêu khóc mà khỏi chết trong lúc mãn phần số. Cách này độ vớt hết, từ con nít biết nói, biết niệm sắp lên, nó chưa biết nguyện, cơn lập nguyện để sau rốt. Người lớn bảo nó nói theo. Còn ai biết chữ thời đọc bài lập nguyện trước đây.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.12/11/2015. |
Wednesday, November 11, 2015
Phật Độ Những Người Có Căn Duyên.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment