ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN .SO 4.HOAN TAT BAI VIET.
BỐ THÍ BẢY BÁU
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là một thân mà có bảy báu bố thí?
Đức Phật nói: Nếu chẳng tham là bố thí.
1) con mắt chẳng tham sắc tốt và các vật đẹp là sắc bửu bố thí
2) Lỗ tai chẳng tham nghe tiếng hay, đờn ca hát xướng là thanh bửu bố thí
3) Lỗ mũi chẳng ham ngửi hương thơm, vật lạ là hương bửu bố thí
4) Cái lưỡi chẳng tham vị ngon ngọt, bùi béo là vị bửu bố thí
5) Cái thân chẳng tham mặc quần áo tốt, chạm xúc êm dịu là xúc bửu bố thí
6) Ý chẳng tham danh lợi, yêu đương, dục tính là pháp bửu bố thí
7) Tánh chẳng tham những sự dục lạc thế gian là Phật bửu bố thí.
Bằng có người biết trong thân mình có bảy báu đem bố thí thì đặng phước đức hơn là đem bảy báu trong thế gian như kim, ngân, lưu ly, trân châu, mã não, san hô, hổ phách ra mà bố thí. Trăm ngàn muôn phần bố thí cũng chẳng bằng một phần, nhẫn đến không thể đem cái gì mà thí dụ, so sánh được.
VƯƠNG XÁ THÀNH
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là Vương Xá Thành ?
Đức Thế Tôn nói:
- Cái tâm thí dụ là “ xá ”
- Cái tánh thí dụ là “Vương”
- Trai giới thí dụ “tường thành”
- Sáu căn thí du cho “ sáu bộ quan lại “
- Sáu trần dụ cho “ sáu mối giặc mạnh “
- Sáu thức dụ cho “ Sáu cửa ra vào “
- Năm dục dụ cho năm con đường xấu, nhiều hầm hố
- Kiến, văn, giác, tri dụ cho “ bốn tướng phò tá Tánh Vương ”
Việc Vương xá thành cũng y như việc nhà, việc nước. Tánh vương ngồi ở chỗ Tâm xá, thường cùng sáu thần, bốn tướng bàn luận, nghị sự việc nước.
Như Tánh Vương có đạo có đức, chẳng vị tình riêng, có công thời thưởng, có tội thời phạt , lấy chánh lý hành đạo như vậy người chết cũng không oán hận. Hành chánh như vậy thì
- Bên ngoài Thành vách trai giới bền chắc, sáu cửa đóng kín, sáu giặc chẳng xâm phạm
- Bên trong thì sáu vị thần chân chánh, bốn tướng công bình , chẳng dám làm điều hư tệ
Trong ngoài như vậy thời tánh vương đặng thái bình.
Nếu như Tánh Vương không có đạo, nghe lời sàm tấu, thâu dụng nịnh thần , bỏ việc ngay, theo việc tư , thưởng phạt chẳng công bình, trên dưới nghịch lẫn.
- Bên trong sáu vị thần chống báng nhau, bốn tướng hư tệ
- Bên ngoài sáu cửa chẳng đóng, sáu giặc nổi loạn, công phá thành vách trai giới , vào trong nước, cướp đoạt hết công đức của Tánh Vương
Cái phước hết, cái pháp không còn, thân tâm sa ngã, chìm đắm mãi mãi .
Cho nên muốn trị thân thời phải có pháp luật, muốn trị tâm thời phải có đạo lý : nếu không công bình thời không làm, không chơn chánh thời không dùng, phải được trong ngoài giống nhau, trên dưới, quan dân không lỗi, chúa tôi phải đạo, tâm tánh sáng suốt thể dụng điều hòa thì Tánh vương, quan dân đều được thái bình vui vẻ, nên tên là “ Vương Xá Thành “
CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao gọi là Phật pháp của mình?
Thế Tôn nói:
Nếu hiểu rõ cái chân tánh của mình xưa nay là Phật, trong tâm có Phật.
Còn pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều thông biết chẳng lầm là pháp của mình.
Nên tâm cần có đạo lý nuôi dưỡng, Phật phải nhờ có giáo pháp phò trì .
Cho nên phẩm vật để nuôi thân mạng, đạo lý để nuôi huệ mạng.
Cái đạo gồm thông tất cả nên được thành Phật.
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là ba độc?
Đức Thế Tôn nói: Ngu si tà kiến là một độc, tham lam chẳng biết đủ là hai độc, sân nộ, tật đố là ba độc. Ba độc này là hột giống ba đường dữ. Nếu ba độc này còn hoài thì người ấy phải đọa trong tam đồ, một khi mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là tứ đại?
Thế Tôn nói: Đất có tánh chắc, nước có tánh thông, lửa có tánh nóng, gió có tánh động kêu là tứ đại. Trong thân người cũng có tứ đại hòa hiệp mới thành một thể: Da thịt, gân cốt hiệp thành cái thân là địa đại, nước miếng, nước tiểu, máu làm tươi nhuân cái thân là thủy đại, trong mình hơi ấm vận chuyển điều hòa cái thân là hỏa đại, chân tay co duỗi làm cho cái thân đi đứng tới lui là phong đại. Hễ tứ đại điều hòa thì cái thân an lạc, nếu như tứ đại chẳng hòa thì sanh bịnh khổ, nên địa ,thủy, hỏa, phong kêu là tứ đại.
BỒ - TÁT QUÁN – THẾ - ÂM
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Quán –Thế-Âm Bồ-Tát sao lại có đến một ngàn con mắt, một ngàn cánh tay ?
Thế Tôn nói: Con mắt là biểu hiệu kiến tánh, cánh tay là biểu hiệu diệu dụng. Nếu như người nào hiểu được rốt ráo, minh tâm kiến tánh thì cũng đồng như một ngàn vị Phật kiến tánh không khác nên tên là thiên nhãn, đều phóng ra hào quang sáng chói.
Lại tự tánh của mình phát sinh diệu dụng, cũng đồng diệu dụng như ngàn vị Phật không khác, nên tên là thiên thủ tác động đồng vậy. Cái thể và dụng hai pháp đều biểu lộ ra như vị Viên Thông Giáo Chủ Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
HIẾU THUẬN
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Làm sao kêu là hiếu thuận?
Thế Tôn nói: Hiếu là lòng từ, thuận là chẳng nghịch chánh lý
Người có hiếu chẳng làm hại sinh linh để cho mình được sống.
Chẳng giữ lấy việc tư mà làm trái sự công bình
Tôn trọng Tam Bảo, kính trọng cha mẹ, chẳng sai chẳng dối, không yêu ghét riêng. Khuyên bảo trong nhà đồng tu phước huệ. Ở trong thì hòa thuận, ở ngoài thì cung kính. Cha mẹ hiện tiền thì an vui tâm thể, cha mẹ mãn số rồi đặng lìa tội khổ, đặng sanh cung trời, mới thiệt là thế gian nam, nữ hiếu thuận.
Còn như mỗi ngày sát sanh hại vật cúng dưng cha mẹ, ông bà là làm thêm tội nghiệp cho tổ tông. Thiệt người đại bất hiếu, hồi sống đồng tạo nghiệp, sau chết đồng đọa với cha mẹ, oan trái dẫn dắt nhau chung vào một chỗ, đồng đi luân hồi. hễ mất thân người , muôn kiếp khó trở lại.
HẢO TÂM
Văn Thù Bồ -Tát hỏi Phật: Sao kêu là hảo tâm ?
Thế Tôn nói: Hai chữ hảo tâm ít người làm đặng. Nếu có lòng hảo tâm, làm việc lợi ích cho người chẳng cần trả ơn. Làm việc giúp người chẳng cần quả báo, cúng dường cho người chẳng cần phước báo, làm ơn cho người chẳng cần ân báo, nhẫn đến hạ mình xuống làm cho lòng muốn của người được đầy đủ.
Khó xả bỏ mà xả bỏ đặng, khó nhịn mà nhịn đặng, khó làm mà làm đặng, khó cứu mà cứu đặng, chẳng luận bà con hay người dưng, lấy tâm bình đẳng cứu giúp làm đúng sự thật. chẳng phải miệng nói mà không thực hành.
Có người cái miệng nói hảo tâm mà lòng không làm từ thiện. Người tâm hiền thường làm những việc tốt mà miệng chẳng khoe khoang , trong ý chỉ nghĩ giúp ích cho người mà thôi, chẳng cần danh vọng cho mình, như vậy mới thật là hảo tâm. Không phải như những người bỏ ra có một tấc mà muốn lấy vô một thước, gieo giống ít mà muốn đặng trái nhiều. Như vậy đâu phải là hảo tâm.
PHƯƠNG TIỆN
Văn Thù Bồ -Tát hỏi Phật: Sao kêu rằng phương tiện?
Thế Tôn nói: Hai chữ phương tiện có nhiều nghĩa, nay ta lược nói đến có 15 nghĩa:
1) Phương tiện thứ nhất: chẳng nuôi, chẳng giết
2) Phương tiện thứ hai: chẳng ăn thịt, uống rượu
3) Phương tiện thứ ba: không nấu rượu
4) Phương tiện thứ tư: Không xâm lấn hại nhau.
5) Phương tiện thứ năm: đừng chỉ sai đường cho người.
6) Phương tiện thứ sáu: chẳng nên đốt rừng.
7) Phương tiện thứ bảy: đừng oán trách trời đất.
8) Phương tiện thứ tám đừng khinh khi thần thánh.
9) Phương tiện thứ chín: đừng nói những lời thô tục
10) Phương tiện thứ mười:tích chứa nhơn nghĩa,ban bố phước đức
11) Phương tiện thứ mười một: cần kiệm biết đủ, đừng tham.
12) Phương tiện thứ mười hai: kính người già cả, thương kẻ nghèo đói.
13) Phương tiện thứ mười ba: phải cứu giúp nhau khi có nạn.
14) Phương tiện thứ mười bốn:gieo nhân Bồ Đề quả Phật
15) Phương tiện thứ mười lăm: không có kẻ oán, người thân, bình đẳng tế độ như nhau.
Nếu người nào làm đặng mười lăm phương tiện này thì đặng mười lăm phước báo thanh tịnh. Thường sanh làm người hoặc đặng về cõi trời, hưởng những điều khoái lạc tiêu diêu.
NGƯỜI TRÍ, KẺ NGU, KẺ MÊ, NGƯỜI NGỘ
Văn Thù Bồ -Tát hỏi Phật: Sao gọi là người trí, sao kêu là người ngu? Sao kêu là người mê, sao kêu là người ngộ? xin Đức Phật từ bi giảng dạy.
Đức Phật nói:
Trí:
Chữ Trí là biết, người trí biết có đạo Phật cần phải tu, biết có thánh giáo cần phải học, biết có minh sư cần phải cầu, biết có phước cần phải làm, biết có tội cần phải sám hối cho đến biết rõ pháp thế gian, pháp xuất thế gian và sự luân hồi, quả báo như trên trời có mặt nhựt, như đêm tối có đèn. Được hiểu biết, được nghe, thấy sự báo ứng của việc lành, việc dữ. Hễ hiểu biết, nghe thấy rồi liền bỏ dữ theo lành, cải tà qui chánh, việc phi lý không bao giờ nói , ngoài phận sự không bao giờ làm, không phải đạo chánh không theo, không phải vật của mình không lấy , tư tưởng chơn chánh, mỗi mỗi chân thật, tích đức nêu danh lưu truyền đời sau . Như vậy gọi là người trí.
Ngu
Còn như ngu là tối, người ngu cái lòng tối tăm, chẳng biết cao thấp, lơn nhỏ, chẳng biết thiên đường, địa ngục, chẳng tin có tội, phước, luân hồi. Một bề tham luyến tửu sắc, sát sanh hại mạng đặng mà cung cấp cho miệng và bao tử. Trong một đời sát sanh trăm ngàn muôn súc vật, gây cái nợ oan trái trăm ngàn muôn ức tánh mạng, luân hồi gặp gỡ, ăn nuốt lẫn nhau, không biết bao giờ thôi dứt. Hết thảy trâu, bò, heo, dê, ngựa v v… đời trước đều là kẻ thân nhơn hoặc người thù oán , sau khi luân hồi thay hình đổi dạng làm súc sinh. Người si mê không biết, giết hại mà ăn cũng như giết cha mẹ của mình, hay ăn thịt bà con dòng họ của mình.Cha bị con giết, con bị cháu giết v v…trên đường luân hồi cha con chẳng biết nhau, giết nhau ăn thịt nhau không bao giờ dứt. Một khi mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.
Mê
Người mê muội tham đắm tửu sắc, muốn được khoái lạc, buông lung sáu căn tham luyến sáu trần , tà mị nhiều cách, điên đảo đủ điều. Chỉ nhớ sự thọ dụng hiện tiền, không ngó lại thân sau chịu khổ, mê muội chơn linh, đuổi theo huyễn vọng bỏ xa tánh giác, phối hợp trần duyên . Ví dầu gặp bậc thánh hiền cũng không sao cứu độ đặng. Chìm sâu biển khổ, mất hẳn tánh linh , một khi đã vào luân hồi, muôn kiếp khó phục hồi đặng.
Ngộ
Chữ Ngộ là giác . người ngộ rồi tự hiểu biết tâm mình là Phật, mộ đạo tu hành , ba nghiệp không còn , sáu căn thanh tịnh, đầy đủ phương tiện, không có ngã nhơn, độ người độ mình đều thành Phật đạo. Tuy ở thế gian mà chẳng nhiễm thế gian, ở trong trần lao mà vẫn chuyển pháp luân giáo hóa. Ta-Bà đổi thành Cực-Lạc, biến địa ngục thành thiên đường, chỉ dẫn những người mê đặng thấy Phật tánh, làm các việc Phật pháp , độ thoát chúng hữu tình , chẳng bỏ lòng từ bi, thệ nguyện cứu độ, nếu có chúng sinh nào biết cúng dường người này thì đặng phước đức như cúng dường chư Phật ba đời, công đức như nhau không khác. Cớ sao vậy ? Nghĩa là mình giác tỉnh rồi độ người đặng tỉnh, thuyết pháp độ sanh , diệu dụng thần thông cùng Phật không khác , hay mở bày cho chúng sanh được tri kiến như Phật, hay chỉ rõ cho chúng sanh ngộ tri kiến như Phật, hay dẫn dắt chúng sanh nhập tri kiến như Phật , hay tìm xét cho chúng sanh thành tri kiến như Phật.
Nếu có người nào biết tỉnh ngộ thì đặng danh hiệu Bồ -Tát , đặng thông các pháp bí mật của Phật, chơn chánh truyền thọ cho người. Bằng có thiện nam, tín nữ nào đặng thấy, đặng nghe tin theo giáo pháp của người này chỉ dạy đều là chánh nhơn, đều đặng chánh quả. Cho nên người còn nhỏ tu hành đặng chánh pháp liền thành Phật đạo, 20 tuổi, 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi, 80 tuổi tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo. Thiện nam tử tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo, Thiện nữ nhơn tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo. Người giàu sang tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo, người nghèo khổ tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo, Đé vương tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo,, Tể quan tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo,, cho đến người và không phải loài người tu hành đặng chánh pháp cũng thành Phật đạo. Nên Thế Tôn nói bài kệ như vầy :
Bằng có nam hay nữ
Đặng gặp chơn minh sư
Tu hành đặng chánh pháp
Không ai chẳng thành Phật.
VÌ SAO KHÔNG THÀNH PHẬT?
Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, vì sao không tu thì không thành Phật ?
Thế Tôn nói: Không phải là không thành Phật, chỉ vì nghiệp chướng rất nhiều. Tại sao ? Hết thảy chúng sanh mê muội, điên đảo từ đời vô thỉ đến nay, chẳng trồng căn lành, chỉ tạo ác nghiệp , oan oan ràng buộc nhau, nghiệp nghiệp lôi kéo nhau , bên này chẳng chịu buông bên kia, bên kia cũng chẳng tha bên này. Kết thành cái lưới nghiệp dẫy đầy trong thế gian , cho nên thường ra vào ba đường, qua lại sáu nẻo , gặp gỡ, ăn nuốt lẫn nhau , báo ứng xây vần, không biết bao giờ dứt. Vả như oan trái trả đủ, được sanh trong loài người, lại không có căn lành, không gặp chính pháp. Ví dầu có gặp chăng nữa , mà các căn mờ tối, ma chướng chập chồng , đường đạo khó phát triển, nên chẳng đặng thành chánh quả.
Lai như vầy nữa Văn Thù Sư Lợi: Như người không giữ giới sát sanh, ăn thịt thì đoạn dứt hột giống từ bi , người không giữ giới trộm cắp, của người không cho mà mình lấy là đoạn tuyệt hột giống giàu sang, Người không giữ giới dâm, tà mị dâm dục là đoạn tuyệt hột giống thanh tịnh, người không giữ giới không nói dối là đoạn tuyệt hột giống thành thật, người không giữ giới không uống rượu, say sưa mê man là đoạn tuyệt hột giống thông minh, trí huệ.
Cho nên không giữ năm giới là tuyệt đường nhơn, thiên. Còn giữ được năm giới thì đoạn tuyệt ba đường dữ. Lành, dữ mình tạo ra, mình chịu lấy.
Tại sao? Là bởi vì “ Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, tu nhiều đặng nhiều, tu ít đặng ít, đồng tu đồng đặng, chẳng tu chẳng đặng. Công ai tu nấy đặng, người khác chia chẳng đặng. Nếu người gây nghiệp ác thì người chịu lấy, người khác thế chẳng đặng.
Cho nên muốn tránh khỏi địa ngục, trước phải trừ cái lòng dữ.
muốn tránh khỏi ngạ quỉ , trước phải đoạn dứt cái lòng khắc bạc, tham lam, bỏn sẻn
Muốn tránh khỏi súc sinh thì đừng ăn thịt súc vật
Muốn đặng làm người thì phải học các hạnh: Hiếu thuận, từ bi
Muốn sanh cõi trời thì phải giữ năm giới căn bản
Muốn thành Phật đạo, phải minh tâm. Hễ minh tâm thì nhơn quả chẳng mờ tối, nhơn quả không mờ tối thì tự nhiên kiến tánh thành Phật. Không còn nghi ngờ gì nữa.
Văn Thù Bồ-Tát than rằng :
Lành thay, thân người khó đặng, Trung độ khó sanh, chánh pháp khó gặp, trí thức khó gần.
Thân người khó đặng nay đã đặng
Trung độ khó sanh nay đã sanh
Chánh pháp khó gặp nay đã gặp
Trí thức khó gần nay đã gần
Việc việc đầy đủ, mỗi mỗi sẵn sàng, nếu chẳng phát tâm tu hành, Phật cũng khó cứu đặng.
Bấy giờ trong pháp hội, các vị tỳ kheo mới phát tâm và chúng Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, vô lượng Thiên long bát bộ đều ngộ Bổn lai Phật tánh của mình . Hết thảy công đức do nơi tâm mình mà sanh ra. Huệ thân viên mãn cũng do tâm mình mà có.
Sau khi tứ chúng nghe Đức Phật nói kinh “ Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận” này rồi đều vui mừng hớn hở, tin chịu vâng làm. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.6/10/2015.
No comments:
Post a Comment