Monday, October 5, 2015

ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN .
PHẦN 2

 

 
TỨ SINH  


Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật : Thế nào là tứ sinh? Tạo những nghiệp chi mà bẩm thọ thân mạng mỗi loại không giống nhau?

Thế Tôn nói : Hết thảy chúng sinh từ vô thỉ đến nay gây tạo nhiều việc điên đảo, niệm niệm không lành, vùi lấp chơn tánh, tham luyến trần duyên mãi mãi bởi tham sân si tạo các tội lỗi không lường không ngăn như là sát sanh, trộm cướp tà dâm v v…đén khi luân hồi bẩm thụ thân hình đều khác.

Nay nói sơ qua nghiệp chướng của bốn loại :

1)     Noãn sanh: là người đời trước vì kế sinh hoạt , tâm hay sắp đặt mưu mô xảo trá lừa gạt người nên đọa làm noãn sanh như các loài chim, cá v v…Người kế cao thì làm chim, thấy người thì bay cao. Người mưu sâu thì làm cá, gặp người thì lặn xuống.

2)     Thai sanh: Người này đời trước tham đắm dâm dục nên đọa thai sanh, người, dê, heo, có…cùng thú có vú đẻ con như trâu, bò,ngựa, mèo. Tội tham dâm, như sanh làm người thì đặng đứng thẳng, Nếu lòng ngang ngược, tham dục không có tiết độ thì sanh làm thú đi ngang bốn chân.

3)     Thấp sanh : Người này đời trước tham ăn uống rượu thịt cho là việc vui chơi, hay đánh lộn giữa chợ, loạn tâm điên đảo nên đọa làm thấp sanh là loài cua, tôm, rùa, trạch v v…

4)     Hóa sanh: Người này đời trước tâm hay dời đổi , ý niệm khác thường, trước mặt nói phải, sau lưng nói quấy. Làm nhiều tội ác nên đọa làm hóa sanh như loài ve, bướm, muỗi, ruồi v v…


 


Phật nói cùng ông Văn Thù Sư Lợi : Trong lục đạo tứ sanh, thì con người là quí trọng, vì người có tánh linh, Phật cũng từ loài người mà tu hành, nghiệp cũng do loài người tạo ra.Người tu phước thì được về cõi trời, người làm ác thì đọa vào địa ngục. Người có đức làm thần, người có đạo làm thánh. Phước và tội đều có liên quan nhiều đời, không thể đem hiện tại mà nhận định, đến khi mạng chung theo nghiệp trả quả.Trong sáu đường, đường người là rất quí,năm đường kia không sánh kịp, nên một khi mất thân người muôn kiếp không thể phục hồi lại được.


 


NGŨ NHÃN  


Bồ-Tát Văn Thù hỏi Phật : Tri kiến thế nào gọi là ngũ nhãn?

Thế Tôn nói :

1)     Nhục nhãn chỉ thấy chỗ sáng, không thấy chỗ tối, chỉ thấy trước mắt,

            không thấy sau lưng

2)     Thiên nhãn : trước sau, trong ngoài, núi gò, vách đá đều thấy thông suốt không ngăn ngại.

3)     Huệ nhãn : thấy được nghĩa lý trong văn tự sâu cạn, nhân quả lành dữ, kiếp trước, kiếp sau rõ rệt như xem chỉ trong lòng bàn tay.

4)     Pháp nhãn : Thấy được các phương tiện của chư Phật trong ba đời và hiểu được các pháp phương tiện tùy theo căn cơ cao thấp mà truyền đạo không sai lạc, như bệnh nào cho thuốc nấy .

5)     Phật nhãn: tròn sáng, soi khắp kiếp từ vô thỉ đến vô chung , tất cả nhân quả đều thấy trước mắt , một mảy lông, cọng tóc cũng không sót.


 


Năm thứ con mắt này đều do phước lành chiêu cảm mà ra. Duy có Phật là hoàn toàn đầy đủ, các bậc khác chưa được . Con mắt chia ra làm năm mà gốc tại cái tâm tu hành đến chỗ kiến tánh rồi thì ai ai cũng có được.


 


NGŨ CĂN , NGŨ PHẬT

            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao gọi là ngũ căn, ngũ Phật đồng gieo trồng căn lành?

            Thế Tôn nói : Nếu người trai giới trong sạch, minh tâm kiến tánh, tầm thầy học các lý mầu nhiệm, chơn chánh  thời con mắt như Phật thấy, lỗ tai như Phật nghe, lỗ mũi như Phật thở, miệng như Phật nói, tâm như Phật biết.  Ngũ căn thường hiện ngũ Phật, thần thông trồng giống căn lành thành hạt giống trí của Phật; Nếu có người giữ đặng như vậy chắc chắn, làm chủ đặng cái tâm của mình, y theo Phật tu hành. Phật nói người ấy chắc chắn thành Phật.


 


            THANH TỊNH PHÁP THÂN

            BỒ-Tát Văn Thù hỏi Phật : Sao kêu là Thanh Tịnh Pháp Thân?

            Thế Tôn nói : Thanh Tịnh Pháp Thân ấy là chơn tánh thanh tịnh . Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy Pháp thân xưa nay thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành,. Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, Tại nơi Thánh Hiền gọi là Thánh tánh, Trong trời đất gọi là Thiên tánh, Tại chỗ Bồ-Tát gọi là Phật tánh. Tại chỗ chư Phật gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục . Nếu người muốn được giác ngộ mà không cầu thầy chứng minh cho, nhận giả làm thiệt, lâu ngày sẽ thành tà ma, ngoại đạo, thành yêu thành quái phỉnh gạt chúng sinh . Hiện đời sẽ bị pháp luật nhà vua hành phạt, chết rồi đọa vào ác đạo. Một khi mất thân người muôn kiếp khó được lại.


 


            VÔ DƯ NIẾT BÀN

            BỒ-Tát Văn Thù hỏi Phật: Sao gọi là Vô Dư Niết Bàn ?

            Thế Tôn nói : Cứ tâm mình lặng yên không lay động là Niết Bàn. Các Đức Phật trong ba đời đều theo con đường này đi đến chỗ tâm bất động nên được thọ hưởng chỗ “ không vui mà vui, lại không có cái vui nào hơn cái vui này”  nên gọi là Vô Dư Niết Bàn.


 


            BỐN TƯỚNG  


            Văn Thù Bồ Tát hỏi phật : Những người thế nào gọi là có ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng?

            Thế Tôn nói :

1)     Người phàm phu nhận sắc thân tứ đại này cho là ta, tham sống, sợ chết  gọi là có Ngã Tướng

2)     Tâm còn phân biệt đẹp xấu, tốt xấu, yêu ghét chẳng đồng. Chẳng được bình đẳng là có Nhân tướng

3)     Không cầu giải thoát, chạy theo ham muốn của phàm phu gọi là có chúng sanh tướng.

4)     Tâm thức chưa trừ, nghiệp chướng thường phát động, chẳng ngộ được pháp vô sanh, chân không, thực tướng. Thường bị tâm cảnh, ý thức dẫn dắt gọi là có thọ giả tướng.


 


            Còn như Bồ-Tát biết cái thân phàm là giả, ngộ cái cuộc đời không bền chắc. Thân mình còn không tiếc, huống chi là gia tài. Chỉ tiếc việc Phật, dạy pháp đại thừa là không ngã tướng.

            Xem hết thảy chúng sanh bình đẳng như con đỏ, không lựa chọn kẻ sơ người thân, đều bình đẳng tế độ , gọi là không nhân tướng

            Còn như người nào, tâm đối với đời một phen dứt rồi là dứt luôn, không nối lại nữa , gọi là không chúng sanh tướng.

            Còn người biết tỏ chỗ vô sanh Phật tánh, chẳng theo phàm tình, ý thức dẫn dắt, nương theo phương tiện nguyện lực hành trì  là không có thọ giả tướng.

            Nếu còn bốn tướng gọi là phàm phu, bốn tướng hết rồi gọi là Bồ-Tát.


 



 


SÁU PHÁP BA-LA-MẬT

            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật : Tu làm sao đặng chứng sáu pháp Ba-La-Mật ?

            Thế Tôn nói ; Bằng có chúng sanh bỏ đặng rượu thịt chẳng ăn, bỏ tài lợi chẳng tham, bỏ đặng ái an chẳng mến, bỏ đặng việc ác chẳng làm, bỏ đặng nhân ngã chẳng tranh thì đặng thứ nhứt :BỐ THÍ BA-LA-MẬT.

            Có chúng sanh giữ đặng giới Phật, tập đặng uy nghi của Phật,  hàng phục lục tặc, dứt đặng việc tà mị thì đặng thứ hai :TRÌ GIỚI BA-LA-MẬT.

            Có chúng sanh nào hay chịu đặng người chê nhơ nhớp , hay nhịn đặng người mắng chửi, người nói lời chẳng phải lấy lời khuyên giải,  việc nghịch đến đem lòng thuận chịu, không oán hận, trở lại còn tìm phương độ thoát thì đặng thứ ba : NHẪN NHỤC BA-LA-MẬT.

            Có chúng sanh nào học đặng 12 bộ kinh của Như Lai , thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói. Chưa thông học cho thông, chưa chứng tu cho chứng thì đặng thứ tư : TINH TẤN BA-LA-MẬT.

            Có chúng sanh nào đoạn đặng trần duyên, dứt đặng vọng niệm, trừ đặng mê muội tán loạn , tập đặng thiền định, sức thiền định như núi Tu Di , Ma Vương khuấy phá không rối loạn thì đặng thứ năm :THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT.

            Lại có chúng sinh phá được vô minh, không còn các tướng, lý pháp đều không, thị phi dẹp hết, lời nói đứng đắn, mỗi chữ rành rẽ thì đặng thứ sáu : TRÍ TUỆ BA-LA-MẬT;

            Nếu người đặng sáu pháp Ba-La-Mật thì người ấy đặng ra khỏi sinh tử, đặng đến bỉ ngạn, đặng siêu tam giới, đặng lên Thập Địa, đặng thành Phật.


 


THIỆN TRI THỨC

            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Hành trì làm sao tên là Thiện Tri Thức?

            Đức Phật nói : Thiện Tri Thức tánh tình mềm mỏng, hòa nhã, giới hạnh tinh chuyên, lòng không tham lam tật đố, không luyến ái vật chất . Tâm thường bình đẳng, ý không thương ghét, có đại phương tiện độ mình, độ người, tùy theo căn tánh của mỗi người mà giáo hóa, đủ pháp tổng trì.  Lòng tốt đối với người, làm ơn cho người chẳng cần trả, tu hành trong sạch, không có lỗi lầm, thuyết pháp luận nghĩa đều hiệp ý kinh. Người nào đầy đủ mấy việc này là Thiện-Tri-Thức

            Nếu có trí tuệ hơn người, phước đức siêu quần, không chỗ nào chẳng lành. Không pháp nào chẳng biết, làm tai mắt cho cõi trời, cõi người, là rường cột trong Phật pháp, cầm cái cân thay Phật  tổ, làm lãnh đạo trong pháp môn , mở cửa chánh đạo, ngăn dẹp đường tà, nối thành dòng Phật, trồng trí tuệ thơm khắp, lấy tâm ấn tâm, lưu truyền chẳng dứt. Căn cơ lớn, hạnh nguyện lớn, diệu dụng lớn, uy lực lớn . Đây gọi là Đại Thiện-Tri-Thức chân chánh.


 


Minh sư khẩu thuyết  


            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là Minh sư khẩu thuyết?

            Đức Phật nói: Khi Như Lai diệt độ rồi có dậy các vị Bồ-Tát truyền Phật tâm ấn tiếp nối huệ mạng của Phật , mỗi vị giáo hóa mỗi phương, dẫn dắt những người chưa ngộ. Nếu chúng sanh nào có nhân duyên, đặng nhân quả chơn chánh, chánh kiến, chánh tu, hàng phục tà ma ngoại đạo, phá trừ tà kiến, tu công hạnh chánh, trước sau trong sạch, biết người chẳng có căn lành chẳng độ, người không phước đức chẳng truyền, nếu có thiện nam, tín nữ chơn chất, trí tuệ sáng suốt hết sức tầm cầu đạo giải thoát, thường thường thân cận cúng dàng lâu ngày, hạ tâm tham cầu học hỏi, thầy với trò được biết với nhau rồi, chừng đó mới lấy tâm ấn tâm, lấy đạo truyền đạo. Tâm truyền cho tâm in như các vị tổ trước sau tiếp nối lưu truyền chẳng dứt. Đây tên là Minh-Sư Khẩu-Thuyết , nếu người có duyên gặp đặng, không luận căn lớn hay nhỏ cũng thành đạo Phật.

            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Hoặc có người trai hay gái, gần thầy nghe pháp thường thường mà nửa tin, nửa không, dường như qui y mà chẳng y theo, cái thân tuy lạy Phật mà lòng nghi hoặc đã nhiều. Cái tâm mình chẳng ngộ trở lại trách thầy chẳng chịu chỉ dạy, những người như thế làm thế nào hóa độ?

            Đức Thế Tôn nói: Đây là những người ít phước, trí huệ cũng không, nên không biết phép vô vi, chấp trước hình tướng , tà kiến kiêu mạn che lấp trong tâm, chẳng đặng chánh kiến. Cớ sao vậy ? Nếu như người tu hành biết trọng thầy thời mới trọng pháp, còn như tu hành khi dể thầy thì trong lòng cũng khi dể pháp. Hễ trọng thầy, trọng pháp thì học mới đặng , còn khinh thầy thì pháp không học. Nếu khinh thầy, chê pháp thì là người tăng thượng mạn. Tuy đồng đi với thầy mà lòng cách xa như ngàn muôn dặm, đến chừng mạng chung vào trong địa ngục A-Tỳ ngàn muôn Phật ra đời cứu độ chẳng đặng. Hễ một phen mất thân người, muôn kiếp khó trở lại.


 


LỤC SƯ NGOẠI ĐẠO

            Văn Thù Bồ-Tát hỏi Phật: Sao kêu là lục sư ngoại đạo?

            Thế Tôn nói : Khi ta nhập diệt rồi có nhiều thứ ma ba tuần xen vào trong pháp của ta, ở chùa, cạo đầu, mặc áo Phật, xưng là đệ tử của Phật , chung lộn với người đời ăn thịt, uống rượu làm nhơ bẩn Đức Phật là NGOẠI ĐẠO THỨ NHẤT.

            Còn có người dắt vợ, đem con vào trong chùa học theo tà thuật , cho là để truyền lại cho đệ tử , ăn thịt, uống rượu, cũng đi làm chay tụng kinh cho người, không phải người tục là NGOẠI ĐẠO THỨ HAI

            Lại có những người trên thời không có thầy truyền, dưới thời không có thầy chứng bị ma quỷ ám ảnh mê muội tâm trí, biết bậy bạ cho là thông minh, chẳng có công tu tự xưng thành đạo, bên ngoài làm giống theo Phật, trong tâm làm việc tà mị, phỉnh gạt người đời theo vào đường tà, diệt hột giống trí của Phật là NGOẠI ĐẠO THỨ BA.

            Lại có người vẽ bùa, thỉnh chú, đuổi quỷ sai thần, phỉnh gạt người đời. Ác kiến càng nhiều thì chánh kiến của Phật càng tiêu diệt, đây là NGOẠI ĐẠO THỨ TƯ

            Còn có người y theo việc tốt xấu, học theo chiếm quẻ, bàn việc kiết hung, coi bói xem tướng, nói trước những điều họa phước, dối chúng gạt người, tiêu diệt chánh pháp của Phật Đây là NGOẠI ĐẠO THỨ NĂM.

            Lại có người sửa sang hình tướng, bụng trống lòng cao, mình không có tài năng mà tự cao cho mình là giỏi, chưa chứng ngộ cũng cho là mình chứng ngộ, học đặng vài lời cho là mình thấu đặng lý màu. Lại có người chẳng ăn dầu, muối, trà, quả, tương, dấm , chấp theo tướng tà ,dối gạt người không trí: chẳng cần xem kinh niệm Phật, chẳng cần làm phước, tham thiền, chẳng cần xuất gia thọ giới, chẳng cần tầm sư học đạo, dám đem cái sắc thân giả dối này mà cho là cùng Phật không khác. Dối gạt người không biết đồng vào chỗ hắc ám, dứt đoạn căn lành, tiêu diệt giống trí tuệ, hay chấp trước những sự khờ khạo ngu si. Đây là NGOẠI ĐẠO THỨ SÁU.

            Sáu hạng ngoại đạo này là ma Ba-Tuần , đến thời mạt pháp xenvaof giáo pháp của ta, phá hoại già lam, phỉ báng chánh pháp của Phật, chê bai những giáo tướng nghi thức tụng niệm. Nên Phật dạy những vị Bồ-Tát Đại Thừa phải đem nguyện lực tùy chỗ ứng hiện, hoặc làm vị đế vương, hoặc làm vị tể quan, hoặc làm vị trưởng giả, đều ở mỗi chỗ làm vị đàn việt, đặng diệt trừ tà đạo, ủng hộ chánh pháp, không cho ngoại ma tự tiện khuấy phá y theo lời Phật dạy, đây mới thật là đệ tử của Phật. Còn như thuận theo tà, là đồng với ma Ba-Tuần ngoại đạo, hủy báng pháp Đại Thừa, sa đọa vào địa ngục A-Tỳ như tên bắn. hễ mất thân người rồi thì muôn kiếp khó đặng lại. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.6/10/2015.


No comments:

Post a Comment