Tuesday, August 18, 2015


Là con người, ai ai cũng mang trong lòng một ước mơ, một lý tưởng tìm kiếm an lạc và hài hòa, bởi vì đây là điều chúng ta thiếu trong cuộc sống. Nhưng làm sao chúng ta sống an lạc được? Làm sao duy trì được sự hài hòa trong tâm, duy trì sự an lạc hài hòa xung quanh chúng ta, để người khác cũng được sống an lạc, hài hòa?  Để đạt được điều ấy chúng ta cần phải có nghệ thuật sống.


 

         Phật giáo theo ngôn ngữ Pali là “buddhasāsana”, tiếng Anh dịch là “Buddhism”. Từ tiếng Anh này hiện nay không còn được thịnh hành ở phương Tây nữa, mà được dịch lại bằng “The art of  living”, tiếng Việt gọi là “nghệ thuật sống”. Tại sao đạo Phật được Tây phương gọi với danh từ như vậy? Trả lời: Phật giáo không phải là một tôn giáo như tên gọi của bất kỳ tôn giáo nào khác. Đạo Phật đơn thuần chỉ là một nghệ thuật sống, đưa con người đến an lạc và hạnh phúc. Đức Phật, người đã trải nghiệm và đưa chất nghệ thuật tuyệt vời ấy vào trong Tăng đoàn, nơi có những vị Tỳ kheo sống thanh tịnh và giải thoát.
         Nếp sống Tăng đoàn thời Phật với những đặc trưng riêng biệt, nơi đó những con người bằng da bằng thịt sống với nhau bằng tình đạo hữu, hòa hợp, bình đẳng và tinh thần vị tha, sẵn sàng quên đi những lỗi lầm, những sai trái mà người khác lỡ gây ra. Phật giáo với hình ảnh những vị Tăng đầu trần, chân đất thảnh thơi bước những bước điềm đạm, đi vào lòng  người, cảm hóa từ nội tâm, khiến giá trị đạo đức được nhân rộng và cuộc sống con người ngày càng hoàn thiện, hạnh phúc hơn.
        Chúng ta hãy thử nghĩ xem, giá trị nào đem đến cho con người hạnh phúc và an lạc, có phải là lòng vị tha, sự hòa hợp, tình thương yêu bình đẳng giữa con người với con người? Vậy mà đã gần 2600 năm, những nhà lãnh đạo quốc gia trên khắp hành tinh vẫn đang lần tìm một mô hình trọn vẹn có thể đem lại hạnh phúc cho dân chúng nước họ, tại sao vậy? Tại vì với cái trí hữu lậu của người thường, đầy tham, sân, si làm sao có được cái hoàn mỹ, lí tưởng như đức Phật của chúng ta, bậc đại trí, vô lậu. Chính vì lẽ đó, thời nay, khi nhu cầu hạnh phúc được đặt ra và giá trị đạo đức Phật giáo được nhân rộng, các nhà lãnh đạo đã bắt gặp nơi Phật giáo sự đóng góp vĩ đại trong việc xây dựng thế giới hòa bình, hạnh phúc.


 

        Đức Phật nhập Niết Bàn cách đây khá lâu, và hình ảnh Tăng già, những người kế thừa gương mẫu của nếp sống đạo đức tâm linh đã giữ được truyền thống mô hình tuyệt đẹp ấy. Mô hình Tăng đoàn với những đặc tính hòa hợp, bình đẳng, dân chủ, vị tha. Đó là mô hình lí tưởng của xã hội ngày nay.
        “Trong đạo Phật, xã hội lý tưởng là một xã hội trong đó sự bình đẳng, dân chủ và quyền con người được tôn trọng, tiến bộ đạo đức và tâm linh được khuyến khích và người dân quan tâm đến đời sống đạo đức. Đó là một xã hội giúp đỡ cho người thiếu thốn, làm mạnh mẽ những kẻ yếu đuối, đem hoà hợp lại cho những người không hoà hợp, mang hạnh phúc và ánh sáng lại cho những kẻ đau khổ và tăm tối”[1]. Đó là những tiêu chuẩn mà một xã hội cần áp dụng để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Từ những tiêu chuẩn này, chúng ta thấy rằng trong đó ta bắt gặp sự tương đồng với mô hình của Tăng đoàn thời Phật, tuy nó không thể giống tuyệt đối, thế nhưng, đó cũng là những tiêu chuẩn chung khi đặt vấn đề giá trị lí tưởng. Trong kinh Tăng Chi III, phẩm Bảy Pháp, trang 77, tính hòa hợp của Tăng đoàn được thể hiện qua Sáu pháp:
a)           Hãy chung sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn áp nhau. 
b)          Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong ôn hòa, lễ độ. 
c)           Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau. 
d)          Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn tại được. 
e)           Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình cho người chung quanh. Người thông hiểu nhiều phải có bổn phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình. 
f)            Hãy chia đồng đều tài lợi thu thập được cho những người cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa mãn, vui vầy. 
        Trong kinh Trường A-hàm có kể: Một ngày nọ, nhìn thấy những hoa sen hoặc đã có nụ, hoặc gần nở, hoặc nở tròn, đức Thế Tôn liền nói: “Tất cả hoa sen nở ra tròn trịa thơm tho, đều phát xuất từ bùn sình hôi hám”. Chúng ta cũng thấy rõ có đoá hoa sen nào nở ở chỗ sạch không? Hoa sen nào cũng phát xuất từ bùn nhơ rồi từ từ vượt ra khỏi bùn, khỏi nước để sau đó trổ hoa thơm ngát. Hoa trổ rồi và hoa chưa trổ đều như nhau, mầm sen cũng phát xuất từ bùn. Câu nói ấy của đức Phật cho chúng ta thấy rằng tính chất bình đẳng trong Phật giáo vượt ra khỏi phạm vi của bình đẳng thế gian, và Ngài đã tuyên bố với nhân loại rằng “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn”. Đức Phật đã mở ra một trang sử mới cho nhân loại, nó như một tiếng chuông cảnh tỉnh, chặt đứt mọi xiềng xích bất công trong xã hội.
      Theo sử liệu ghi chép, Tăng đoàn thời Phật đã thâu nhận tất cả những ai có nguyện vọng giải thoát dù bần tiện hạ liệt, giàu sang quan vị, dầu nam hay nữ, vì mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, “Tăng đoàn thời Phật là tổ chức hòa hợp bình đẳng đầu tiên trong lịch sử loài người, chấp nhận tất cả thành viên thuộc bốn giai cấp mà không có sự kỳ thị nào”[2]. Lí do chính của nhận định trên có thể được minh định từ kinh Tập (Sutta-Nipata) rằng: “Không phải do sinh ra người ta trở thành Bà la môn, không phải do sinh ra người ta trở thành kẻ hạ tiện. Do hành động người ta trở thành Bà la môn, do hành động người ta trở thành kẻ hạ tiện”.[3]
 

         Đức Phật là người đầu tiên trong nhân loại đã phản kháng chế độ giai cấp và phá đổ thành trì chia cách dân tộc Ấn Độ ra làm bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế ly, Tỳ xá già và Chiên đà la. Chính đức Thích Ca trong khi tìm đạo, đã nói với một người chăn cừu như thế nầy: “Mỗi người sinh ra không mang sẵn dấu ‘Tin Ca’ (dấu riêng của hạng quí phái) trên trán, không mang sẵn giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và trong nước mắt cùng mặn”[4]. Một minh định lịch sử ấn tượng nhất là Tăng đoàn đức Phật có mặt đầy đủ 7 chúng ( tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni, thức xoa ma na, nam cư sĩ, nữ cư sĩ ).
      Trong đó, nét đẹp Tăng đoàn chính là tinh thần vị tha, khoan dung được thể hiện một cách tích cực nhất khi mỗi thành viên Tăng đoàn chấp nhận đời sống giải thoát, được học và thực tập vô ngã. Vô ngã đặt trên hạnh khoan dung, hạnh vị tha là sự từ bỏ các phiền não do người nào đó gây ra đối với mình, những lỗi lầm mà người khác gây ra, sẽ mau chóng được quên đi, và thay vào đó là tình yêu thương và sự quan tâm hòa hợp. Cũng vì đó tinh thần vô ngã vị tha có mặt tạo nên nét đẹp tâm hồn của Tăng đoàn.
      Thời nay, dù được kế thừa truyền thống xưa, nhưng hoàn cảnh thay đổi, sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm chuyển đổi đời sống con người, trong đó có giới tu sĩ Phật giáo, và vấn đề thích ứng của Tăng đoàn Phật giáo được đánh giá là khá chậm, và cần nhiều thời gian. Trong bất kỳ một tổ chức nào, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng bậc nhất cho sự phát triển. Phật giáo nói chung và Tăng đoàn nói riêng, tuy có sự phát triển nguồn nhân lực sử dụng nhưng so với yêu cầu của quần chúng đau khổ trên khắp hành tinh thì còn thiếu. Chính vì thế, nguồn nhân lực là một vấn đề thách thức đối với Tăng đoàn thời hiện đại trong công cuộc truyền bá giá trị giải thoát của Như Lai.
        Xu hướng gần đây, sự phát triển và ngự trị của chủ nghĩa vật chất ảnh hưởng lớn đến nếp sống truyền thống của Tăng đoàn, đặc biệt là sự tha hóa nhân cách của giới tu sĩ trẻ. Đây là một vấn nạn lớn, một thách thức lớn cho Tăng già thời hiện đại. Đối trước tình hình đó, theo chúng tôi Tăng già cần vận dụng những đặc thù truyền thống vốn có để làm rõ hai giá trị nhập thế và thế tục hóa. Sự khác biệt này đôi khi còn rất mơ hồ trong tư tưởng của giới tu sĩ trẻ khi thực hiện dấn thân hành đạo. Bên cạnh đó là yêu cầu cấp thiết cần có những biện pháp hữu hiệu thích hợp để chấn chỉnh Tăng đoàn.
Trong xã hội ngày nay, bạo lực đang diễn ra gay gắt giữa các tộc người, giữa các tôn giáo khác nhau. Họ luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực. Thế nhưng, đời sống Tăng già đặt trên nền tảng phi bạo lực, lấy việc khuyến khích mọi người biết nhẫn nhịn, trao đổi và thỏa hiệp làm cứu cánh để sống hòa hợp với nhau. Như thế, Tăng già luôn động viên con người tìm con đường giải quyết mọi vấn đề xã hội thông qua sự hiểu biết, lòng khoan dung và từ bi.


 

Hiện nay, do nhu cầu tiêu dùng tăng cao, con người xem việc thỏa mãn là hạnh phúc. Do đó, lòng tham có mặt điều khiển lí trí của con người, con người lao vào việc kiếm tiền mà không hề nghĩ đến hậu quả. Kết cuộc, môi trường bị tổn thương đến mức báo động. Nạn phá rừng lấy gỗ, khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên, xu thế phát triển công nghiệp hóa, thải ra một lượng lớn chất thải độc hại, xuất hiện hàng loạt những bệnh dịch không có thuốc chữa. Gần đây, lại xuất hiện hiện tượng nhà kín, hâm nóng trái đất, và vô số những cuộc động đất thiên tai bão lụt, mà không ai khác chính con người là tác nhân. Hình ảnh tăng đoàn được xem như  tiếng nói sống động nhất cho nhân loại với đời sống giản dị, hòa lẫn, thân thiện với thiên nhiên, được biết đến thông qua cuộc đời của đức Phật khi Ngài đản sinh, thành đạo và nhập Niết bàn. 
Một đặc điểm nữa thể hiện tinh thần từ bi thân thiện với thiên nhiên trong đời sống Tăng đoàn chính là: Tăng đoàn có truyền thống an cư ba tháng mùa mưa. Mục đích để tập trung tu học và tránh dẫm đạp những chồi non, côn trùng sinh sôi nảy nở dưới lớp đất ẩm thấp. Đây là lời giải thích về tính “tương quan” giữa con người với thiên nhiên, con người không thể sống đơn độc, khi xung quanh con người, thiên nhiên đang chết dần.
        Đây là một nhiệm vụ chính yếu khác mà Tăng già phải đối diện trong thế giới ngày nay: Làm thế nào khơi dậy lương tâm, ý thức và trách nhiệm của con người, khi hành động họ tạo ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc đời của hàng triệu con người và đe dọa gây thiệt hại cho vô số kẻ khác. Trong đó, vấn đề lớn nhất là sự xung đột tộc người và những cuộc chiến tranh hủy diệt. Hậu quả của nó luôn trút lên đầu những công dân vô tội, mà phụ nữ và trẻ em là những người phải gánh chịu một cách nặng nề nhất.
    Tăng già trong ý nghĩa đầy đủ của ngôi Tam Bảo như một cây cổ thụ thân to, tàng rộng, dù đã bao lần thay lá đổi cành vẫn xum xuê tươi tốt. Đó chính là nhờ nhựa sống mãnh liệt (thanh tịnh và hòa hợp) giúp cây tiếp tục tồn tại bằng cách truyền dẫn các dưỡng tố khắp thân cây. Nhựa sống ấy lại được nuôi dưỡng từ những đặc tính truyền thống mà thuở sơ khai đức Từ Phụ xây dựng. Hòa hợp, bình đẳng, yêu thương và khoan dung là những tố chất không thể thiếu khi trắc nghiệm giá trị lí tưởng của một xã hội.
      Tăng đoàn hiện đại thừa kế gia sản truyền thống đã vững bước hòa cùng nhịp sống sôi nổi như loài sen huyền thoại vươn mình khỏi bùn nhơ của đầm lầy, tỏ hương thơm ngát bốn phương. Hình ảnh Tăng đoàn với nếp sống giản đơn, biết đủ, đang là bài thuyết trình sống cho việc giải quyết các vấn nạn toàn cầu hiện nay. Mô hình ấn tượng của Tăng đoàn được xã hội hiện đại bắt gặp một cách muộn màng, tuy nhiên vấn đề vẫn không phải là vô phương khi ngay bây giờ, giá trị ấy nếu được ứng dụng một cách rộng rãi trên khắp các xã hội.


 

       Theo chiều dài lịch sử, chúng ta đã từng bắt gặp mô hình này khi đại đế Asoka, sau cuộc chiến đẫm máu tại Kalinga, đã “hồi đầu bỉ ngạn”. Trần Nhân Tông, vị vua Phật tử, đã bao lần dẹp yên xâm lăng Nguyên Mông, xây dựng đời sống đạo đức, phồn thịnh, hạnh phúc nhất trong lịch sử Việt Nam. Có thể khẳng định với thế giới rằng: Mô hình lí tưởng chỉ có mặt trong Phật giáo với nếp sống đầy nghệ thuật mà đức Phật, bậc đại trí vô lậu, đã xây dựng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,NEWCASTLE,SYDNEY.18/8/2015.
 

No comments:

Post a Comment