GIỮ TÂM KHÔNG PHÓNG DẬT.
TRONG KINH TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ - PHẨM TỪ BỎ THẾ TÔN ĐÃ CHỈ RÕ THẾ NÀO LÀ PHÓNG DẬT VÀ KHÔNG PHÓNG DẬT.
Trong kinh Pháp Cú, Thế Tôn có dạy rằng:
"Chúng ngu si thiếu trí
Chuyên sống đời phóng dật
Người trí không phóng dật
Như giữ tài sản quý!"
Chuyên sống đời phóng dật
Người trí không phóng dật
Như giữ tài sản quý!"
Như vậy, giữ được tâm an trú chánh niệm không phóng dật là điều mà người Phật Tử cần thực hành, rèn luyện.
Hôm nay, thầy sẽ nói về cái hại của phóng dật và vì sao hành giả phải cần từ bỏ phóng dật!
Hôm nay, thầy sẽ nói về cái hại của phóng dật và vì sao hành giả phải cần từ bỏ phóng dật!
TRONG KINH TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ - PHẨM TỪ BỎ THẾ TÔN ĐÃ CHỈ RÕ THẾ NÀO LÀ PHÓNG DẬT VÀ KHÔNG PHÓNG DẬT.
Sống Phóng Dật
{—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô, đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật … nhĩ căn … tỷ căn … thiệt căn … thân căn …
Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật … nhĩ căn … tỷ căn… thiệt căn … thân căn …
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.}
NHƯ VẬY, trước tiên để hiểu vì sao nên từ bỏ phóng dật ta nên hiểu phóng dật nghĩa là gì?
Phóng - Tức thị là phóng túng, phóng khoáng.
Dật - Tức thị là dư thừa, dư dã.
Vậy Phóng Dật có thể hiểu là những gì ta nhìn thấy từ nhãn căn (mắt thấy), hoặc ý căn (ý nghĩ) gợi lên trong tâm những mơ màng, ảo tưởng, mông lung, bất định, hoặc bất thiện, hoặc lạc thú, sắc dục.
Thầy thí dụ thế này cho mọi người dễ hình dung:
Thí dụ ta nhìn thấy một cô gái đẹp đi ngang qua cửa chùa chẳng hạn. Như vậy thì mắt ta có nhìn thấy cô gái không!? Tất nhiên có nhìn thấy, vậy nhìn thấy cô gái có đẹp không?
Tất nhiên ta cũng nhìn thấy! Và nếu như thế thì không gọi là tâm phóng dật, tâm an trú không phóng dật tức là chỉ nhìn thấy điều cần nhìn, nên nhìn, chỉ nghĩ đến chánh niệm, chánh ý. Đó là ta nhiếp hộ được nhãn căn, ý căn như lời Thế Tôn đã dạy!
Nhưng mà có người không như thế!
Tức là nhìn thấy cô gái rồi, tâm lại khởi lên (cô gái đó đẹp quá!)
Vậy còn chưa dừng lại chỗ đó, tâm lại khởi lên (cô gái đó đi đâu vậy ta?) Như vậy rồi cũng chưa chịu dừng lại, tâm lại khởi lên (cô gái đó có từng đến chùa này chưa nhỉ), như vậy rồi tâm lại khởi lên (phải chi đến chùa này mình hỏi chuyện nhỉ), và rồi tâm lại khởi lên (nếu lời nói, cử chỉ cô ấy cũng dịu dàng, nhỏ nhẹ như dáng dấp thì còn hoàn hảo hơn nữa!)......v....v...
Tâm mông lung chạy loạn xạ như con ngựa bất kham.
Như vậy thay vì chỉ nghĩ đến điều cần kíp, nên nghĩ, cần nghĩ thì tâm lại Phóng Dật (tức là nghĩ đến mức dư thừa, nghĩ đến mức mất kiểm soát, không còn khống chế được nữa thì trở thành tai hại vô cùng nguy hiểm!)
Cái gì dư quá cũng thành thừa, mà thừa thì lại trở thành hại. Chính vì lẽ đó mà Thế Tôn mới răn dạy cho người Phật Tử nên biết tiết độ, kiềm chế, nhiếp hộ các căn, làm chủ chánh niệm như một người làm chủ dây cương, yên ngựa, phải biết kìm cương, dừng lại đúng lúc, đúng nơi, nếu buông cương, buông dây thì ngựa chạy mông lung bất định, có khi rơi vào đường hiểm, vực sâu thì khó mà quay đầu trở lại cho được.
Vì vậy với người Phật Tử, việc nhiếp hộ các căn mà nhất là (nhãn căn, nhĩ căn, ý căn) là vô cùng quan trọng.
Mới tu được một chút (giống như mới dành dụm được một đồng) để tâm phóng dật một lát (giống như tiêu pha 10 đồng) rồi. Tu hoài, tu mãi mà không có tiến lên, có khi còn ngày càng thụt lùi nữa!
Cái lẽ này rất là phổ biến nhất là với nhiều thiện nữ. Tuy là tâm không có ác ý, nhưng mà có khi nói về một việc nào đó lại suy luận mênh mang, bất tận. Nói về chuyện hai người kia giận hờn nhau thôi mà có thể nói cả buổi sáng chưa xong. Cái này chính là sự phóng dật khẩu ý, nói nghĩ những điều không đưa đến chánh niệm trụ xứ, không đưa đến an lạc tâm trí. Đây là sự phóng dật vô ý mà ta cần tỉnh thức!
Cũng như vậy, cho nên trong các giới của Tỳ Kheo, Thế Tôn có giới không được xem kịch, hát, không xem các trò giải trí, (cái này là để giữ cho tâm hành giả không bị phóng dật khi tâm lao theo câu chuyện, sự việc hư cấu giả tạo không thật. Làm cho người tu bị cuốn theo đó mà không nhiếp hộ được lục căn).
Nhìn bông hoa đẹp, ta vẫn thấy một bông hoa đẹp nhưng tâm không khởi lên sự sở hữu, cầu chiếm, sử dụng. Đó là chánh niệm không phóng dật.
Nhìn một việc làm ác, tâm nhận ra đó là điều ác nên tránh phạm vào, nhưng tâm không khởi lên ý niệm trừng phạt hay làm hại kẻ khác, hoặc nghĩ đến cảnh kẻ ác bị đọa đày, giết chóc đó chính là nhiếp hộ các căn, giữ tâm an trú hỷ lạc không phóng dật!
Ngay cả việc ăn uống, ngủ nghỉ, cười cợt, đùa vui, u sầu, bi thảm điều gì nếu dư thừa, quá trớn đều là cội mầm của sự Phóng Dật cần nên kiểm soát, tiết độ!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.5/6/2015.
Phóng - Tức thị là phóng túng, phóng khoáng.
Dật - Tức thị là dư thừa, dư dã.
Vậy Phóng Dật có thể hiểu là những gì ta nhìn thấy từ nhãn căn (mắt thấy), hoặc ý căn (ý nghĩ) gợi lên trong tâm những mơ màng, ảo tưởng, mông lung, bất định, hoặc bất thiện, hoặc lạc thú, sắc dục.
Thầy thí dụ thế này cho mọi người dễ hình dung:
Thí dụ ta nhìn thấy một cô gái đẹp đi ngang qua cửa chùa chẳng hạn. Như vậy thì mắt ta có nhìn thấy cô gái không!? Tất nhiên có nhìn thấy, vậy nhìn thấy cô gái có đẹp không?
Tất nhiên ta cũng nhìn thấy! Và nếu như thế thì không gọi là tâm phóng dật, tâm an trú không phóng dật tức là chỉ nhìn thấy điều cần nhìn, nên nhìn, chỉ nghĩ đến chánh niệm, chánh ý. Đó là ta nhiếp hộ được nhãn căn, ý căn như lời Thế Tôn đã dạy!
Nhưng mà có người không như thế!
Tức là nhìn thấy cô gái rồi, tâm lại khởi lên (cô gái đó đẹp quá!)
Vậy còn chưa dừng lại chỗ đó, tâm lại khởi lên (cô gái đó đi đâu vậy ta?) Như vậy rồi cũng chưa chịu dừng lại, tâm lại khởi lên (cô gái đó có từng đến chùa này chưa nhỉ), như vậy rồi tâm lại khởi lên (phải chi đến chùa này mình hỏi chuyện nhỉ), và rồi tâm lại khởi lên (nếu lời nói, cử chỉ cô ấy cũng dịu dàng, nhỏ nhẹ như dáng dấp thì còn hoàn hảo hơn nữa!)......v....v...
Tâm mông lung chạy loạn xạ như con ngựa bất kham.
Như vậy thay vì chỉ nghĩ đến điều cần kíp, nên nghĩ, cần nghĩ thì tâm lại Phóng Dật (tức là nghĩ đến mức dư thừa, nghĩ đến mức mất kiểm soát, không còn khống chế được nữa thì trở thành tai hại vô cùng nguy hiểm!)
Cái gì dư quá cũng thành thừa, mà thừa thì lại trở thành hại. Chính vì lẽ đó mà Thế Tôn mới răn dạy cho người Phật Tử nên biết tiết độ, kiềm chế, nhiếp hộ các căn, làm chủ chánh niệm như một người làm chủ dây cương, yên ngựa, phải biết kìm cương, dừng lại đúng lúc, đúng nơi, nếu buông cương, buông dây thì ngựa chạy mông lung bất định, có khi rơi vào đường hiểm, vực sâu thì khó mà quay đầu trở lại cho được.
Vì vậy với người Phật Tử, việc nhiếp hộ các căn mà nhất là (nhãn căn, nhĩ căn, ý căn) là vô cùng quan trọng.
Mới tu được một chút (giống như mới dành dụm được một đồng) để tâm phóng dật một lát (giống như tiêu pha 10 đồng) rồi. Tu hoài, tu mãi mà không có tiến lên, có khi còn ngày càng thụt lùi nữa!
Cái lẽ này rất là phổ biến nhất là với nhiều thiện nữ. Tuy là tâm không có ác ý, nhưng mà có khi nói về một việc nào đó lại suy luận mênh mang, bất tận. Nói về chuyện hai người kia giận hờn nhau thôi mà có thể nói cả buổi sáng chưa xong. Cái này chính là sự phóng dật khẩu ý, nói nghĩ những điều không đưa đến chánh niệm trụ xứ, không đưa đến an lạc tâm trí. Đây là sự phóng dật vô ý mà ta cần tỉnh thức!
Cũng như vậy, cho nên trong các giới của Tỳ Kheo, Thế Tôn có giới không được xem kịch, hát, không xem các trò giải trí, (cái này là để giữ cho tâm hành giả không bị phóng dật khi tâm lao theo câu chuyện, sự việc hư cấu giả tạo không thật. Làm cho người tu bị cuốn theo đó mà không nhiếp hộ được lục căn).
Nhìn bông hoa đẹp, ta vẫn thấy một bông hoa đẹp nhưng tâm không khởi lên sự sở hữu, cầu chiếm, sử dụng. Đó là chánh niệm không phóng dật.
Nhìn một việc làm ác, tâm nhận ra đó là điều ác nên tránh phạm vào, nhưng tâm không khởi lên ý niệm trừng phạt hay làm hại kẻ khác, hoặc nghĩ đến cảnh kẻ ác bị đọa đày, giết chóc đó chính là nhiếp hộ các căn, giữ tâm an trú hỷ lạc không phóng dật!
Ngay cả việc ăn uống, ngủ nghỉ, cười cợt, đùa vui, u sầu, bi thảm điều gì nếu dư thừa, quá trớn đều là cội mầm của sự Phóng Dật cần nên kiểm soát, tiết độ!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.5/6/2015.
No comments:
Post a Comment