Ðại Ðức Ànanda sanh trưởng từ một gia đình thuộc dòng chiến sĩ (kshatriya). Vào thời bấy giờ, những người
Xuất gia với Ðức Phật và gia nhập vào Giáo Hội Tăng Già, không bao lâu
Khi Ngài Ðại Ðức Ànanda xin phụng sự Ðức Phật, e rằng có người nói: "Ðược những ân huệ, những thiên vị và những quyền lợi do Ðức Phật đặc biệt dành cho, thì ai mà không muốn làm thị giả Phật?" Ngài tình nguyện làm thị giả cho Ðức Bổn Sư với điều kiện là được
2. Ðức Phật không ban cho Ngài vật thực do thiện tín dâng đến Ðức Phật.
3. Ðức Phật không cho phép Ngài cùng ở trong một tịnh thất với Ðức Phật.
4. Ðức Phật sẽ không dắt Ngài đi
5. Ðức Phật sẽ hoan hỷ cùng đi với Ngài đến nơi nào mà Ngài (Ànanda) được thỉnh.
6. Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép Ngài được tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến yết kiến Ðức Phật.
7. Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép Ngài đến bạch hỏi Ðức Phật mỗi khi có hoài nghi phát sanh.
8. Ðức Phật sẽ hoan hỷ lặp lại cho Ngài nghe những bài Pháp mà Ðức Phật thuyết giảng lúc không có mặt Ngài tại đó.
Ngài không phải chỉ là thị giả trung thành và thường xuyên cần mẫn chuyên cần mà cũng là vị "bí thơ" thân cận và kiên gan bền chí, đáng tin cậy. Công việc của Ngài bao gồm nhiều phận sự; Ngài thương yêu chăm sóc Ðức Phật như một bà hiền mẫu. Không bao giờ có ai, trong hàng xuất gia hay tại gia, mà gần gũi với Ðức Phật thân mật như Ngài. Trong tất cả những bài kinh do Ðức Phật giảng, tên của Ngài Ànanda được nhắc đến nhiều hơn tất cả các vị đệ tử khác. Những lời để tán dương Ngài đã được đọc tụng trong nhiều đoạn kinh điển Pali.
Theo lời của chính Ðức Phật, Ngài Ànanda đứng hàng đầu, cần mẫn chăm lo cho Ðức Phật hơn tất cả các vị thị giả. Hãy lắng nghe những lời sau đây của vị Trưởng Lão Ànanda:
phụng sự Ngài với những hành động đầy kỉnh mộ,
và cũng như cái bóng của Ngài, theo dính liền.
Trong hai mươi lăm năm ta hầu cận Ðức Thế Tôn,
phụng sự Ngài với những tư tưởng đầy kỉnh mộ,
và cũng như cái bóng của Ngài, theo dính liền.
Khi đi lên đi xuống, Ðức Phật thiền hành,
Sau lưng Ngài, ta đứng cách không xa;
và khi Giáo Pháp được thuyết giảng,
bên trong ta kiến thức và tri kiến tăng trưởng."
-- Psalms of the Brethen (Trưởng Lão Tăng kệ), 1841-44
Vài vị tỳ khưu ni và tín nữ còn là phàm nhân nuôi dưỡng những cảm tình nồng hậu và tình thương tha thiết đối với Ngài. Dầu sao, kinh điển ghi nhận rằng, không bao giờ Ngài quan tâm đến những tình thương tương tợ hay những cảm tình mềm dịu ấy. Mặc dầu chỉ chứng đắc Tu Ðà Huờn (sotàpatti), tầng Thánh thứ nhất, và như vậy chỉ ở vào hạng sekha, hữu học (trong ý nghĩa còn phải học nữa), những tư tưởng ái dục không tìm được chỗ dung thân trong tim Ngài. Ngài đã đứng vững trên hai chân và sức quyến rũ mê say của nhục dục ngũ trần không thể làm lay chuyển. Không bao giờ Ngài làm điều gì hèn mọn hay thấp kém hơn phẩm giá mình. Ðại Ðức Ànanda nhất quyết khẳng định rằng trong hai mươi lăm năm phục vụ Ðức Phật với tư cách là thị giả, không bao giờ Ngài có những ý tưởng tham dục.
Tôi không bao giờ có ý nghĩ về tình dục.
Hãy xem đó, nền trật tự đoan chính của Giáo Pháp."
-- Psalms of the Brethen, 1039
Không thấy Ðại Ðức Ànanda, Ðức Phật cho người triệu đến và nói: "Không nên than khóc, này Ànanda, không nên phiền muộn; Như Lai đã từng dạy rằng mọi kết hợp đều chấm dứt trong cảnh biệt ly phân cách và tất cả mọi sự vật, hữu tri hữu giác cũng như vô giác vô tri, đều là vô thường và phải biến chuyển. Ðã từ lâu, này Ànanda, con đã tận tình hầu cận Như Lai với tâm quý mến kỉnh mộ. Hãy gia công tinh tấn nhằm thành tựu Ðạo Quả A La Hán, tầng Thánh cao nhất."
Rồi Ðức Phật quay về phía chư tăng, tán dương Ðức Ànanda với những lời lẽ như sau: "Này chư tỳ khưu, nơi Ànanda có bốn đức tánh đặc biệt. Bốn ấy là gì? Các vị tỳ khưu đến yết kiến Như Lai thì gặp Ànanda trước. Vừa khi đối diện với Ànanda thì tác phong của Ànanda làm cho họ rất cảm kích; khi Ànanda mở lời nói chuyện với họ, họ càng cảm kích hơn; khi Ànanda thuyết giảng một thời Pháp ngắn thì họ rất hoan hỷ và muốn được nghe thêm; khi Ànanda nín thinh, những vị tỳ khưu ấy vô cùng thích thú nhìn Ànanda im lặng."
Ðức Ànanda cũng được liệt vào hàng ưu tú nhất. Ngài được tôn trọng đặc biệt. Ðức Phật xếp Ngài vào hàng đại đệ tử vì năm lý do:
- Trí nhớ trung thực và bền lâu (satimantànam),
- Tác phong cao cả và trí hiểu biết lanh lẹ (gatimantànam),
- Ý chí kiên trì cương quyết (dhitimantànam), và
- Chuyên chú cần mẫn (upatthakànam).
(Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, ii, 24.)
Ðức Ànanda sống đến một trăm hai mươi tuổi. Trước khi nhập diệt, sau đây là lời của Ngài:
Những gì Ðức Phật cần được phụng sự đã được hoàn mãn.
Ðã đặt xuống, gánh nặng mà tôi đã mang,
Nguyên nhân của tái sanh ở bên trong tôi, không còn nữa," HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.10/12/2014.
No comments:
Post a Comment