LƯỢC LUẬN VỀ CÁCH THỨC GIÁO HÓA CỦA ĐỨC PHẬT.
Thánh, phàm, chúng sinh, Phật đều cùng chung một chân tâm như nhau, nhưng vì mê ngộ có khác, nên mới có thăng và trầm xa cách.
Đức Đại Giác Thế Tôn vì xót thương cảnh huống đọa đày thống khổ của chúng sinh, nên thị hiện ra đời, xuất gia, tu hành, thành đạo và thuyết pháp hóa độ. Giáo pháp của Ngài nguyên chỉ có một vị giải thoát, cũng như đề hồ chỉ thuần ngon ngọt, nhưng vì căn tánh chúng sanh có muôn ngàn sai khác, do đó, Ngài cũng phải xử dụng nhiều phương pháp để tùy duyên giáo hóa, từ đó pháp môn tu trì mới dần dần dị biệt hóa. Cung cách hóa độ của Đức Phật cũng hết sức đầu cơ: đối với hàng đại căn đại trí Ngài liền nói ĐỐN PHÁP, khiến họ mau chứng Phật thừa. Đối với hàng tiểu trí, tiểu cơ, Ngài lại nói TIỆM PHÁP để tuần tự khuyên dỗ họ hướng thiện, từng bước từng bước một ra khỏi cảnh trần lao. Như chỉ bày Ngũ giới, Thập thiện là cốt để xây đắp một con đường bằng phẳng tiến đến hai cõi Trời và Người. Thuyết minh đạo lý nhân quả để chỉ cho thế nhân phương cách bỏ dữ làm lành hầu gặt hái lấy kết quả an vui trong kiếp sống hiện tại và mai sau. - Ngũ giới của Phật giáo tương tự như Ngũ thường của Nho gia như:
(1) không sát sanh tức Nhân.
(2) Không trộm cắp tức Nghĩa.
(3) Không tà dâm tức Lễ.
(4) Không vọng ngữ tức Tín.
(5) Không ẩm tửu thì tâm thanh tĩnh, ý chí tập trung, tinh thần sáng suốt, lý trí rõ ràng, tức Trí.
Ai giữ tròn 5 giới thì nhất định đời sau không sa đọa vào tam đồ và chắc chắn sẽ được sinh làm người tương đối hạnh phúc. - Thập thiện gồm có: không giết hại sinh mạng, không trộm cắp, không tà dâm (đây là 3 nghiệp thuộc về thân). Không tham dục, không sân hận, không mê mờ phải trái, đạo lý (đây là 3 nghiệp lành của ý). Không nói dối gạt, không nói trau chuốt thêm bớt, không nói ly gián gây ra oán thù xích mích, không nói lời độc ác (đây là 4 nghiệp lành của miệng).
- Thập thiện và Ngũ giới phần lớn giống nhau, song, Ngũ giới thiên về sự ước thúc của Thân, Thập thiện thiên về sự ước thúc của Tâm hơn. Nếu ai thực hành đúng Thập thiện, chắc chắn đời sau sẽ được sanh về các cõi Trời. Ngoài ra, Phật giáo cũng bao gồm các luân lý của thế gian, như khuyên bảo bậc làm cha mẹ nên có lòng thương con cái, bổn phận làm con, nên kính hiếu cha mẹ, làm anh nên nhường nhịn, che chở cho em, làm em nên kính mến anh, vợ chồng phải biết thương yêu kính trọng lẫn nhau... Sở dĩ vậy, là vì Đức Phật muốn cho mọi người biết rằng trước phải tròn nhân cách, sau mới tiến lên Phật cách, nghĩa là Nhân đạo tròn, Phật đạo mới có thể tiến tu.
Nhân quả báo ứng là một định luật trọng yếu trong Phật giáo. Định luật ấy tuy dựa trên nguyên tắc tuy Biến Chuyển nhưng Đẳng Lưu, vì Đẳng Lưu nên không bao giờ sai chạy, dù chỉ một mảy may. Cũng vì tính chất trung thực của nguyên lý nhân quả, nên Thiên đường, Địa ngục, sang hèn, giàu nghèo... tất cả đều do chúng ta gây tạo ra. Tự tác tự thọ là một nguyên tắc dùng để trình bày một cách khách quan về đạo lý nhân quả.
Kinh dạy: "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả". Câu này có nghĩa là sao? Các vị Bồ Tát biết trước và tin chắc rằng, gây ác nhân sẽ chịu quả khổ, tạo thiện nhân sẽ được quả an vui, tu nhân vô lậu sẽ hưởng quả giải thoát. Vì thế, các Ngài sợ lỡ gây nhân ác, nhân hữu lậu sẽ bị khổ não luân hồi. Nên trong mọi trường hợp Bồ Tát luôn luôn canh cánh bên lòng, hết sức thận trọng trong vấn đề tạo nhân. Trái lại, chúng sinh vì tham vọng, kiêu căng, si mê, lầm lạc, họ tha hồ tạo các ác nhân, nhưng đến khi phải chịu khổ quả, lại oán than, khẩn cầu bâng quơ, lo sợ và tìm cách trốn thoát một cách vô vọng, giống như người sợ thấy bóng mình rồi cứ chạy trốn dưới ánh mặt trời, kẽ đứng cong lưng nhưng lại muốn có bóng hình thẳng thắn! Thật đáng thương hơn đáng trách! Họ quên rằng, nếu muốn không có khổ quả thì đừng gây ác nhân, muốn hưởng quả vui thì phải trồng thiện nghiệp.
Kinh thư của Nho gia cũng bảo: "Gây nhân lành sẽ gặp 100 điều tốt, làm việc không lành sẽ gặp 100 điều hoạn nạn (Tác thiện giáng chi bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương). Hay như kinh dịch: "Làm điều thiện, phước có thừa - Chứa điều bất thiện, phước thưa họa dày" (Tích thiện tất hữu dư khách, tích bất thiện tất hữu dư ương).
Nhưng Nho gia chỉ nói nhân quả trong thời hiện tại, Phật giáo chỉ bày vòng nhân quả vô cùng tận trong ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Người đời không chịu suy nghĩ kỹ vội cho nhân quả là việc mơ hồ không đáng tin. Tình trạng đó không khác gì người mù không nghe lời người dắt đường, tự ý đi vào đường hiểm, lại muốn không bị rơi vào vực thẳm hố sâu, phỏng có được chăng? Nhiều người mới làm được một vài điều lành đã cầu mong phước báo lớn lao, nên khi gặp phải nghịch cảnh họ liền cho rằng, không có nhân quả, vì làm lành mang họa. Họ đâu biết lý nhân quả thông cả 3 đời, tâm mình có thể đổi thay hoàn cảnh. Sao gọi là "nhân quả 3 đời?". Như đời này làm lành hay dữ, ngay đời này được hưởng phước hoặc mang hoa, đó là Hiện báo. Đời này làm lành hay dữ, đời sau được phước hay mang họa, đó là Sanh báo. Đời này làm lành hay dữ, đợi tới đời thứ 3 thứ 4... cho đến vô lượng kiếp sau mới được phước hay mang họa, đó là Hậu báo. "Tâm mình có thể thay đổi hoàn cảnh là sao?". Giả như có người gây nghiệp ác, đáng lẽ sẽ bị đọa đọa ngục, nhưng người ấy đột nhiên sanh tâm sợ hãi, ăn năn bỏ dữ làm lành, biết tu và khuyên người khác tu niệm, cầu nguyện sanh về Tây Phương... Nhờ sự chí thành hối cải ấy, nghiệp ác trước kia liền tiêu diệt và đổi ra quả khổ nhẹ ngay trong đời này như: bị người khinh chê nhục mạ, vu khống, ốm đau, nghèo thiếu hoặc thường gặp những việc rắc rối, phiền não. Chịu những khinh báo như thế xong, người ấy có thể siêu phàm nhập thánh, thoát ly sanh tử luân hồi khi thâ người kết thúc. Tâm ta có thể cải tạo hoàn cảnh là vậy.
Phật giáo bao trùm và thích hợp với căn cơ của 10 pháp giới (6 cõi phàm và 4 cõi Thánh). Nếu chỉ đứng về loài người mà nói, thật sự không một ai mà không đủ sức lãnh thọ, cũng không một người nào không thể không lãnh thọ được Phật pháp, nghĩa là Phật pháp hoàn toàn thích hợp với mọi giai tầng trong xã hội. Vì thế, giả sử mọi người đều giữ Ngũ giới, tu Thập thiện, quyết chắc phong tục sẽ thuần mỹ, người người hòa thuận, tin yêu, nhà yên, nước trị thì lo gì cảnh thăng bình thạnh thế đời Nghiêu Thuấn không trùng hiện giữa chốn trần ai? Chính vì lẽ đó tuy Phật giáo phát nguyên từ Ấn Độ, nhưng dần dần lan rộng khắp nơi, nhất là Trung Hoa, từ vua tới dân, đời này qua đời khác đều hết lòng sùng phụng, hộ trì. Sở dĩ được vậy vì bản thân Phật giáo tự nó có một giá trị vừa phổ biến vừa bất biến, một chân lý vượt thời không, có công năng tiềm di mặc hóa, ích lợi cho thế đạo nhân tâm, đủ sức tồi phục những mầm ác chưa khởi phát, tiêu diệt mộng họa loạn sắp manh nha... Đó là nguyên động lực làm cho Phật giáo tồn tại, mặc dù Phật giáo không thế, không quyền, cũng không luôn cả cái hình thức ồn ào, háo nhoáng mà xưa nay đa số thế nhân thường ưa chuộng.
Còn xuất gia làm Tăng là vấn đề đặc biệt dành cho một giới đủ căn duyên và có chí hướng nối gót Phật Đà, cầm giữ sự nghiệp của Đạo Pháp, chứ không phải chỉ có hàng Tăng già mới có thể tu trì theo Phật Pháp.
Những lời thô thiển về Nhân thừa và Thiên thừa trên đây là do Đức Phật tùy thuận thế gian mà nói ra, nhưng các hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát đều cũng phải lấy đó làm nền tảng, để rồi bước lên những nấc cao hơn. Riêng những bậc đại trí lợi căn có thể triệt để chứng nhập Phật tính sẳn có trong tâm, thông suốt mục đích ra đời của Phật, tiến thẳng lên ngôi Diệu Giác, trường hợp này thuộc về cảnh giới bất khả tư nghị, không còn nằm trong phạm trù suy tư thì làm sao có thể phu diễn bằng ngôn ngữ? (Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.5/10/2014.
No comments:
Post a Comment