DỨT PHIỀN NÃO-
.
Người Phật tử nào cũng có một số nguyện trong đó có những nguyện chung cho
mọi người theo đạo Phật và một vài nguyện riêng của người đó. Ở đây chúng ta
nhắc đến bốn nguyện lớn nhất, được gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện, còn gọi là tổng
nguyện, tức là nguyện chung của các nhà...
... tu
học:
Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận, thệ nguyện
đoạn,
Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng, thệ nguyện
thành.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu về câu “Phiền não vô biên, thệ nguyện
đoạn”. Có hai điểm cần phải đào sâu: phiền não là gì? và đoạn phiền não như thế
nào?
Phiền não là một tên chung để chỉ tất cả những sự ham muốn, say đắm, lo
lắng, buồn phiền, lầm lạc, xao xuyến, bất an, sợ hãi, khổ sở... của chúng sinh.
Theo đạo Phật thì tất cả các sự phiền não này đều bắt nguồn từ tam độc là tham,
sân và si. Trên thực tế, hầu như ngày nào, người Phật tử cũng nghe nhắc đến ba
chữ này.
Tham hay tham dục là ham muốn thái quá, muốn vơ về cho mình thật
nhiều tiền tài, danh vọng, sắc đẹp..., dù đã có nhiều rồi vẫn chưa hài lòng, cho
nên có câu “Lòng tham không đáy”. Từ cái tham này, nảy ra bao nhiêu nghiệp ác,
điều này chúng ta có thể hiểu dễ dàng, trong đời sống hàng ngày có rất nhiều thí
dụ để chứng minh.
Sân hay sân hận là giận dữ, bực bội, cáu kỉnh, oán thù...
Từ cái sân này chúng sinh gây ra các tội ác. Căm giận đến mức chỉ mong hại
người này, giết kẻ khác, dù chưa làm được, cũng sẽ gây ra ác nghiệp về ý. Bực
tức quá không nhịn được, chửi rủa người khác, dùng lời thô tục, sẽ gây ra ác
nghiệp về khẩu. Oán thù đến độ mất hết tự chủ cầm dao đâm người, cầm súng bắn
người hoặc sai người khác làm việc đó, sẽ gây ra ác nghiệp về thân.
Si hay
si mê là cái độc thứ ba. Si còn gọi là vô minh hay tà kiến. Đó là sự mê muội,
không sáng suốt, không nhìn thấy đường chánh, sa vào đường tà. Vô minh là nguồn
gốc của thập nhị nhân duyên, nguồn gốc của sinh tử luân hồi. Ngay cả những
người tu, dù đã phát tâm cầu đạo bồ đề cũng luôn luôn phải học hỏi để tránh vô
minh, tránh si mê, thí dụ như đã tu Phật mà lại mê sự bỏ lý, hoặc mê lý bỏ sự,
nghi ngờ chánh pháp, cũng là sai vậy.
Đó là nói về tam độc. Trong kinh
sách, còn nói nhiều đến phiền não. Thí dụ như “tứ phiền não” gồm có ngã si, ngã
kiến, ngã mạn, ngã ái, hay “lục đại phiền não” gồm có: tham, sân, si, mạn, nghi,
ác kiến hay “thập phiền não” gồm có: tham, sân, si, mạn, nghi, ngã kiến, biên
kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ.
Tóm lại, phiền não là cái gốc làm
cho chúng sinh gây nên tội lỗi, gây nên ác nghiệp và vì thế cứ trôi lăn mãi
trong vòng luân hồi sinh tử và chịu đựng những hậu quả xấu xa trong các kiếp
tới. Do đó, một trong bốn nguyện lớn của con Phật là phải dứt phiền não.
Nhưng vấn đề khó khăn là “dứt phiền não bằng cách nào?”. May mắn cho chúng
ta, trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Bổn Sư đã dạy rằng muốn tránh sự hại
của phiền não, cần phải tu thanh tịnh nghiệp tức là ba nền phước để đưa về cõi
Tịnh độ của Đức A-Di-Đà:
1. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, tu thập
thiện.
2. Thọ tam qui, ngũ giới cho đến cụ túc giới.
3. Phát tâm
bồ-đề, tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn kẻ tu hành đạo
Phật.
Suy nghĩ lại thì tu phước như vừa kể trên sẽ “tránh được sự hại của
phiền não”chứ chưa “dứt được phiền não”. Quả thật, nếu được về cõi Tịnh độ của
đức A-Di-Đà thì đó là một quốc độ trong ấy người ta “không nghe thấy danh từ
ác”, tuy vậy vẫn còn phải theo các “thượng thiện nhân” để tu tập đi đến chánh
quả bởi vì lên đến Tịnh Độ chưa phải là đã thành Phật, mới chỉ trông thấy Phật
thôi (hoa nở thấy Phật, hoa khai kiến Phật).
Trái nghĩa với phiền não là
bồ-đề tức là giác ngộ. Vậy thì muốn dứt phiền não thì phải tu tập cho được giác
ngộ. Giác ngộ điều gì? Giác ngộ những điều Phật đã dạy tức là giác ngộ các lý
vô thường, vô ngã, không; giác ngộ lý nhân quả; giác ngộ đời là bể khổ, cần phải
tu để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, vượt qua thập thiện, tứ đế, thập nhị
nhân duyên mà lên tới bồ-tát đạo, giác ngộ được thực tướng của vũ trụ, đạt được
Niết-bàn. Lúc đó là đã qua “bờ bên kia”, hết mê, thành ngộ, gặp cảnh mà lìa
cảnh chứ không mắc cảnh nữa.
Bấy giờ, ta mới hiểu tại sao Lục tổ Huệ năng
lại nói “phàm phu tức Phật, phiền não tức bồ-đề”. Hết mê là ngộ, phàm phu trở
thành Phật; hết phiền não là gặp bồ-đề. Mê và ngộ chỉ cách nhau có một sợi tóc,
phiền não và bồ-đề cũng chỉ cách nhau có một sợi tóc. Đó là dùng những danh từ
đối nhau trong thế gian của chúng ta, có trắng có đen, có sướng có khổ, có phải
có trái v.v... Khi đã thành Phật, đã chứng Niết-bàn, đã vào cảnh giới tuyệt đối
thì không còn phân biệt tốt xấu, thiện ác v.v... Vậy những lời phê bình rằng
đạo Phật không phân biệt thiện ác, chỉ là những lời phê bình nông cạn, chưa hiểu
đạo Phật nói những gì. Có những điều để nói cho thế gian, có những điều để nói
cho cõi tuyệt đối; ở một nơi mà không có ai đói cả chỉ toàn là người no thì còn
ai bàn no đói làm gì, cả danh từ no đói cũng không còn nữa.
Bàn như trên rồi
lại suy nghĩ về bản thân chúng ta đang sống ở xã hội này, còn lo toan trăm bề,
công ăn việc làm, con cái cháu chắt, nhà cửa xe cộ, bạn bè xa gần v.v... làm gì
đủ thì giờ để tu tập một phần chứ đừng nói cả các điều nêu trên. Vì thế chúng
ta cần tìm ra một cách nào đó tu tập hằng ngày cho thích ứng với hoàn cảnh chúng
ta.
Phương pháp đơn giản nhất là niệm Phật. Niệm Phật để thanh tịnh ba
nghiệp thân khẩu ý. Không phải một vài tháng một vài năm mà là suốt đời, phải
tinh tấn niệm Phật. Pháp môn này đã được nói đến nhiều rồi, ở đây chỉ xin nhắc
lại mà thôi.
Thứ nữa là để một vài lúc để quán về lý vô ngã của đạo Phật.
Muốn vậy phải đọc kinh sách nói về lý vô ngã, phải nghe giảng về lý vô ngã rồi
mới có “vốn liếng” để suy nghĩ, để quán. Không phải quán như thế rồi sẽ hết cái
Ta, nếu tu đến hết được cái Ta thì đã thành Bồ-tát rồi, thành Phật rồi. Thật
ra, cái Ta sẽ bớt dần đi, từ đó tham sân si cũng giảm dần đi, kết quả là phiền
não nhường bước cho bồ-đề. Khi cái Ta bớt dần thì quan niệm về Người lại rõ
hơn, bấy giờ ngã ái, ngã mạn, v.v... đã kém, ta sẽ chấp nhận người khác dễ dàng
hơn, chấp nhận rằng chúng sinh có thân khác nhau, ý khác nhau, khẩu khác nhau
không phải chỉ có Ta là hơn cả, ý của ta là hay hơn cả, lời của ta là đẹp hơn
cả, hành động của ta là phải hơn cả. Đầu óc rộng rãi hơn, thấy mình và người
gần nhau hơn, các thứ tham sân si giảm đi, phiền não nói chung giảm đi. Thế đã
là tốt lắm. Mong rằng công việc này cứ tiếp tục hoài hoài, một lúc nào đó không
còn “nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả” nữa thì bấy giờ là “thấy Như Lai” như Kinh
Kim Cương đã dạy. Quả là khó! Đã nói là Phật đạo, tức là có con đường thoát khổ,
đã có con đường thì phải đặt chân lên mà đi mới tới đích. Có Thường Bất Khinh
bồ tát đứng bên cạnh nói thầm rằng: “Ngài là Phật sẽ thành”. □
.....................................
24. NHẤT ĐẠI SỰ
1. Nhất đại sự của phàm nhân.“Chư Phật chỉ vì
nhân duyên một việc lớn mà xuất hiện ở đời”. Việc lớn này là việc gì? Là sự
nghiệp “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến”, tức là mở bày cho thấy mà vào Phật
tánh. Cái lớn là tri kiến Phật, là Phật tánh, là thực tướng, hay không
tướng.
Đối với con người thì nhất đại sự là chuyện sinh tử. Người tu Phật
nhằm tự giải thoát ra khỏi cái nghiệp sinh tử luân hồi. Đức Phật chỉ cho ta con
đường giải thoát, được hay không là do chúng ta.
Phàm phu chúng ta lúc nào
cũng bị vấn đề sinh tử ám ảnh, nói rõ ra ai cũng tham sống sợ chết. Các vị đắc
đạo hiểu rõ “đủ duyên thì sanh, hết duyên thì tử”, cuộc đời chỉ là huyễn hóa, ảo
mộng. “Sinh như đắp chăn bông, tử như cởi áo hạ”.
2. Chúng ta từ đâu tới?Nhờ kinh Khởi Thế Nhân
Bản (kinh Trường Bộ, tập 4, kinh số 4), chúng ta biết rằng con người gốc gác từ
những chúng sinh từ cõi trời Quang Âm Thiên thác sanh qua trái đất này. Mới đầu
do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang ... Dần dần, sống bằng đất, vị
như mật ong thuần tịnh, rồi bằng nấm. Thiện ác nẩy ra. Có cỏ, cây leo, lúa mọc
ra, bị cắt nhiều quá không lớn được. Rồi tham lam, nói láo, đánh cắp, tức giận
... xuất hiện. Phải chọn người cầm đầu, khởi lên giới vực xã hội ...
Tóm
lại, tổ tiên chúng ta đến từ một thế giới khác. Nếu hỏi “Ai sinh ra các chúng
sinh đó?” thì không có câu trả lời. Phật giáo không đề cập đến một “nguyên nhân
đầu tiên” vì nếu nói đến điều ấy thì một câu hỏi khác bật ra ngay: “Trước cái
nguyên nhân đó là cái gì?”. Vì đạo Phật không nói đến một Đấng Sáng Tạo nên có
người cho rằng đạo Phật là “vô thần”, về điều này chúng ta sẽ thảo luận trong
một bài khác.
3. Khoa học nói gì về trái đất
và con người?▪ 15 tỉ năm trước đây, có “tiếng nổ lớn” big bang.
▪
4.7 tỉ năm trước: Trái đất mới đầu là một quả cầu lửa, nguội dần, vỏ đặc lại.
Hơi gặp lạnh đọng lại, rơi xuống thành mưa. Chỉ có một đại châu và một đại
dương duy nhất, tình trạng này kéo dài 4.5 tỉ năm. Có mưa, có sông ngòi, có soi
mòn và lắng đọng.
▪ 3 tỉ năm trước: có sinh vật đơn bào (1 tế bào,
unicellulaire).
▪ 1 tỉ năm trước: có sinh vật đa bào, đa bào có đuôi.
▪
500 triệu năm trước: có loài bò sát khổng lồ, rêu biển, cây, loài lưỡng thể
(amphibie), các loài bò sát biết bay.
▪ 200 triệu năm trước: loài có vú.
▪
Khoảng 70 đến 25 triệu năm trước: con proconsul.
▪ 15 triệu năm trước, con
proconsul cho ra hai nhánh: dryopithecus ( xuống đến khỉ) và ramapithecus (xuống
đến người). Sau đây, nói tiếp về ramapithecus:
▪ Khoảng 2 đến 1 triệu năm
trước: Homo habilis. [khéo] (homo = “ngợm”!)
▪ 700 ngàn năm trước
Homo erectus. [đứng]
▪ 100 ngàn năm trước Homo sapiens.
[khôn]
▪ 60 ngàn năm trước Homo sapiens sapiens [khôn
khôn]
▪ 10 ngàn năm trước Người.
▪ 10.000 – 60.000
năm trước canh nông.
▪ 5000 năm trước chữ
viết.
▪ 2000 năm trước đồ đồng.
▪ 1000 năm trước Tây
lịch đồ sắt.
4.
Sinh.Phật giáo quan niệm có 4 cách sinh: 1/ thai sinh, sinh bằng bào
thai từ dạ của mẹ (người, trâu, bò,...) 2/ noãn sinh, sinh bằng trứng ( chim,
rắn, rùa, ...) 3/ thấp sinh, sinh ở nơi ẩm thấp (cá, muỗi, ruồi...) 4/ hóa
sinh, sinh do biến hóa, hoàn toàn do nghiệp lực (chư thiên, ngạ quỷ, tội đồ địa
ngục, hoặc chúng sinh của một thế giới tân tạo).
Một câu hỏi: Lập trường
của Phật giáo đối với vấn đề phá thai ra sao? - Không tán thành phá thai vì phá
thai là sát sinh, phạm giới cấm thứ nhất của đạo Phật. Nhưng ngừa thai thì
được.
Khoa học nay nói thêm đến các cách sinh sau đây:
1/ sự thụ thai nhờ
tinh trùng của người khác (IAD: insémination avec donneur).
2/ tạo bào
thai trong ống nghiệm (FIV: fécondation in vitro).
3/ tạo bào thai trong
ống nghiệm với sự chuyển phôi châu tức embryon (FIVATE: fécondation in vitro
avec transfert d’embryon).
4/ cloning, clonage, tạo ra một sinh vật từ một
sinh vật khác không do thụ thai. Người ta dùng chữ nhân bản để dịch chữ
cloning.
Đây là mấy vấn đề lớn, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận. Một vấn
nạn: thần thức nhập vào thai lúc nào? Cách đây 25, 26 thế kỷ, không có những
vấn đề này!
5. Không có Ta (vô
ngã).Thân và tâm tức là sắc và danh là hai thành phần của con người,
nói rõ hơn, con người là hợp thể của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức).
Thân do duyên hợp của tứ đại là đất nước gió lửa, là một hợp thể, nó
không có tự thể vì phải dựa vào những cái khác mà thành. Thân lại không thường
hằng, làm sao có thể bảo nó là cái Ta thực sự được! Tâm thay đổi từng phút,
từng giây, từng sát-na, nên cũng không thể gọi nó là cái Ta thực sự được. Vì
thế, Phật giáo đưa ra lý thuyết vô ngã, không có Ta. Trên đời này, không có cái
Ta thật sự, chỉ có cái Ta quy ước, nghĩa là cái Ta tạm gọi trong đời sống gia
đình, cộng đồng và xã hội mà thôi. Đạo Phật không hề phủ nhận cái Ta đó. Cái
Ta đó có đấy, nhưng mà là giả có, nó là huyễn. Đừng phá hủy nó, mà cũng đừng
nuông chiều nó, nó chính là phương tiện để tu. Sáu căn là gốc của tội lỗi
nhưng cũng là phương tiện để tu. Đời như huyễn, tu cũng như huyễn.
Trên thực
tế, người tu Phật phải quán chiếu tính cách vô ngã của mình, từ đó bớt dần tham
sân si mạn và mở rộng lòng đối với muôn loài.
6. Chết.Ta vẫn nghe nói “sinh ký tử quy”
nghĩa là “sống gửi chết về”. Sống là ở tạm cõi này, chết là về. Nhưng về đâu?
Đạo Phật trả lời: Có sinh là phải có tử, tử rồi tái sinh. Sinh tử, tử sinh, cứ
thế mãi, y hệt như sóng nhô lên rồi hụp xuống rồi lại nhô lên ... Tuy vậy, có
thể chấm dứt luân hồi nhờ tu giải thoát, giải thoát khỏi cái nghiệp sinh tử luân
hồi. Lúc đó trở thành bậc thánh: thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật. Vậy thì
chuỗi sinh tử tuy “vô thủy” mà có thể “hữu chung”. Luân hồi thì qua một trong
sáu đường: 3 đường lành là thiên, nhân, a-tu-la, 3 đường ác là địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh.
Cái gì gây ra luân hồi? Cái nghiệp. Thân, khẩu, ý gây ra
nghiệp. Nghiệp vô hình chứa trong kho vô hình, gọi là tạng thức hay a-lại-da.
Nghiệp vô hình nhưng sức rất mạnh gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực thúc đẩy đi tái
sinh (thường gọi là đi đầu thai). Trong cái lực này có hai yếu tố mạnh là ái
dục và ý chí muốn sống. Cái gì đi tái sinh? Tạng thức chứa cái nghiệp đi tái
sinh, được gọi là thần thức. Lúc chết rồi, người ta hay gọi là vong linh hay
hương linh. Rất ít khi dùng chữ hồn, linh hồn, e hiểu lầm rằng hồn là thứ
thường hằng bất biến. Những vị đã đến hàng thánh thì lúc chết sẽ đi ngay.
Những kẻ tội nặng phải đọa địa ngục cũng đi ngay. Các trường hợp khác phải mang
thân trung ấm, đợi tối đa 49 ngày sẽ tùy nghiệp mà đi tái sinh.
(Gọi là thân
trung ấm nhưng nó vô hình. Trước khi chết, có thân tiền ấm. Tái sinh rồi, có
thân hậu ấm. Thân tiền ấm và thân hậu ấm thì hữu hình).
Các bậc thánh đi về
đâu? Không thể nói “tái sinh làm thánh” vì phiền não hết rồi thì làm gì còn điều
kiện tái sinh. Không thể nói “trở thành hư vô” vì có cái gì đâu để mà xóa cho
thành hư vô. Các bậc thánh chứng ngộ Niết-bàn nghĩa là hết tham sân si, hết cái
ta, hết luân hồi. Niết-Bàn là một trạng thái của tâm, không phải là một nơi
chốn. Có thể nói: Nhập Niết-bàn là hòa vào bản thể vũ trụ! Đó là nói vậy thôi
chứ chúng ta đâu đã vào cõi tuyệt đối.
Vấn đề tự tử. Đạo Phật không tán
thành tự tử. Đành rằng đời là bể khổ nhưng không thể chấm dứt đau khổ bằng cách
tự tử. Tại sao? Vì cái nghiệp còn y nguyên đó, tự tử không xóa được. Vừa tự
tử xong là chuẩn bị tái sinh, không thể tránh được. Đã thế cái cận tử nghiệp
lại nặng chĩu những chán chường, oán hận, đau buồn, lo lắng ... đẩy thần thức
vào những nẻo ác.
Vấn đề trợ tử. Ít lâu nay, chúng ta nghe nói đến trợ tử,
nghĩa là giúp cho những người bị bệnh quá hiểm nghèo, sống không ra sống, chết
không ra chết, được chết bình an. Lập trường của đạo Phật thế nào? Đau đớn là
do cái nghiệp, con người không thể tránh cái nghiệp được, cắt nó lúc này thì
kiếp sau nó lại còn đó. Vì thế đạo Phật dạy nên giúp người bệnh nặng bằng sự
săn sóc, sự an ủi, giảng kinh, dạy niệm Phật, đồng thời tụng kinh hồi hướng công
đức đến người bệnh. Sức mạnh tinh thần có thể làm cho bệnh nhân bớt đau đớn.
Khổ một nỗi, người bệnh còn biết gì đâu. Vì thế gia đình phải chuẩn bị
sớm.
7. Kết luận.
1/ Ta là gì? là hợp thể danh và sắc. Ta có, nhưng là
giả có. Cái “ta xã hội” vẫn có, “cái ta để tu hành” vẫn có.
2/ Ta từ đâu
tới? Từ cha, mẹ và nghiệp lực của mọi đời trước.
3/ Có bắt buộc cắn răng
chịu đựng nghiệp dữ không? Không! Tạo nghiệp lành và chí thành sám hối để ngăn
nghiệp dữ, như đắp đê ngăn lụt vậy.
4/ Chết rồi đi đâu? Đi tái sinh. Các
bậc thánh “lên” Niết-bàn.
5/ Có thể thoát sinh tử luân hồi không? Có. Một
là tu thành thánh, hai là theo pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh về cõi Tịnh độ
của đức Phật A-Di-Đà, lên đấy để tu.
6/ Tu giải thoát thế nào? Phước và huệ,
phải đầy đủ cả hai.
7/ Khó quá, tu không nổi! Cần có tự tín và kiên nhẫn,
Phật tánh có sẵn ngay trong ta. Long Nữ, thân gái, thân rồng, 8 tuổi, đã thành
Phật trong nháy mắt! HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/10/2014.
No comments:
Post a Comment