Friday, June 4, 2021

Phật dạy: Nói năng không kiểm soát là nguyên nhân của khổ. Trong quá trình tu tập, ai cũng biết việc giữ chánh niệm để tịnh hóa khẩu nghiệp là điều rất khó. Tạp thoại (nói linh tinh, nói chuyện phiếm) là căn bệnh khó chữa mà lại dễ lây lan. Phật dạy: Vợ chồng sống với nhau phải nhớ hai chữ tu khẩu Nên dù bị người tu chủ động ngăn chặn và dập tắt nhưng nếu có cơ hội thì tạp thoại liền bùng phát, kể cả trong những hội chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn. Chánh ngữ hay nói năng như Chánh pháp là một pháp tu căn bản thuộc Bát chánh đạo. Chỉ cần mất chánh niệm thì mọi luận bàn, nói năng đều theo nghiệp mà biểu hiện, rơi vào tạp thoại. Nói ít thì sai ít, nói nhiều thì sai nhiều, nên “trước khi nói cần uốn lưỡi bảy lần” hay “muốn bàn luận nên bàn luận về mười việc công đức” mới không rơi vào tạp thoại. Hãy nghe Thế Tôn dạy về sự “vô ích”, “không dẫn đến pháp lành” của việc hay nói linh tinh: “Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc. Bấy giờ, phần đông các Tỳ-kheo, sau khi thọ trai xong đều tụ tập tại giảng đường Phổ Hội, cùng nhau bàn luận về nghĩa này: Bàn luận về chuyện y phục, trang sức, ăn uống; bàn luận về những chuyện chiến tranh, giặc cướp của nước lân bang; bàn luận về rượu chè, dâm dục, ngũ dục; bàn luận về ca vũ, kỹ nhạc. Những chuyện vô ích như thế nhiều không thể tính kể. Thực tập chánh ngữ, nói năng có chánh niệm Bấy giờ, Thế Tôn dùng thiên nhĩ nghe các Tỳ-kheo bàn luận những chuyện ấy, liền đi đến giảng đường Phổ Hội, hỏi các Tỳ-kheo: - Các Thầy nhóm họp ở đây bàn luận chuyện gì? Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật: - Chúng con nhóm họp ở đây cùng bàn luận những việc vô ích như thế. Ðức Phật bảo các Tỳ-kheo: - Thôi, thôi! Các Tỳ-kheo, chớ bàn luận việc ấy. Vì sao? Những điều luận bàn ấy không có ý nghĩa và cũng không dẫn đến pháp lành. Không do những điều luận bàn này mà được tu Phạm hạnh; không đến được chỗ tịch diệt, Niết-bàn; không được đạo Sa-môn bình đẳng. Ðó là những điều luận bàn của thế tục, không phải luận của đường chánh. Các Thầy đã lìa thế tục, xuất gia học đạo, không nên suy nghĩ về những luận bại hoại. Nếu các Thầy muốn bàn luận, nên bàn luận về mười việc công đức. Thế nào là mười? Là siêng năng tinh tấn; ít muốn biết đủ; có tâm dũng mãnh; đa văn, có thể thuyết pháp cho người; không sợ sệt kinh khủng; đầy đủ giới luật; thành tựu chánh định; thành tựu trí tuệ; thành tựu giải thoát; thành tựu giải thoát tri kiến. Nếu các Thầy muốn bàn luận thì nên bàn luận về mười điều này. Diệt trừ nghiệp ác do lời nói gây ra Vì sao? Vì chúng thấm nhuần tất cả, ích lợi nhiều, được tu Phạm hạnh, được đến chỗ tịch diệt, Niết-bàn. Hôm nay các Thầy là con nhà hào tộc, đã xuất gia học đạo, nên suy nghĩ về mười điều này. Luận này là luận của Chánh pháp, xa lìa đường ác. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này! Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”. Vì sao người tu phải tránh “những điều luận bàn của thế tục”? Thực ra luận bàn để trau dồi và nâng cao tri thức thế gian cũng rất tốt, cần thiết cho cuộc sống nhưng nó không dẫn người tu đến các pháp lành, không đi đến Phạm hạnh, không đến được chỗ tịch diệt. Đây là chỗ người tu hướng đến giải thoát, Niết-bàn cần hết sức lưu tâm. Người tu thì nên nói chuyện tu, không nói chuyện đời mà chỉ “bàn luận về mười việc công đức”, chính là lời căn dặn của Thế Tôn. Bởi lời nói, suy nghĩ và hành động luôn gắn bó mật thiết với nhau nên bàn luận nhiều về thế sự với vô vàn biến động sẽ khiến tâm tư ô nhiễm, nặng nề thêm. Thực tập chánh ngữ, nói năng có chánh niệm, tránh đi những câu chuyện phiếm không có ích cho tu học là điều mà người tu cần phải thành tựu để từng bước hướng đến thảnh thơi, an định và giải thoát.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
Practice is the cleansing and cleansing of the body and mind.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. People living in this world are precious in their hearts, in their hearts because "the other heart is equal to three words of talent". In practice, keeping the mind pure is even more important because "mind masters all things" or "necessarily only mind creates". Compassion in Buddhist practice Once the Blessed One was staying at Sàvatthi, at Jetavana, in Anathapindika's garden. At that time the Blessed One called to the bhikkhus: Monks, like a dirty, dusty cloth, the dyer dips it in blue, yellow, or red dyes... it will be dyed in a bad color, not clean. Why? Because the cloth is not clean, bhikkhus. In the same way, bhikkhus, the evil realm awaits a defiled mind. Monks, like a pure, clean cloth, the dyer dips that cloth in blue, yellow or red dyes... it will be dyed well and clean. Why? Because the cloth is clean, bhikkhus. In the same way, bhikkhus, the good realm awaits a mind that is not defiled. Discussion: In practice, it is very important to keep the mind pure. People living in this world are precious in their hearts, in their hearts because "the other heart is equal to three words of talent". In practice, keeping the mind pure is even more important because "mind masters all things" or "necessarily only mind creates". Therefore, watch our mind now as good or evil, good or bad, noble or low... to know for sure that we will accept a future suffering or pleasure in accordance with those types of consciousness. According to the Buddha's wisdom, our mind is like a cloth and we are also the dyer, dyeing our lives with many colors of right and wrong in the present life. Everyone wants their mind to be like a white canvas to paint pictures with the desired colors, but in reality, the harsh life has more or less stained people's hearts, covered with dust. When awakening, enlightened about the truth of life and people, vowing to return to cleanse the body and mind, only to see that our mind is really a dirty cloth, stained with greed, hatred... almost torn. Practicing good dharmas to keep the mind clean is always the duty and responsibility of every Buddhist child. Practicing Bodhisattva's Virtue However, no matter how dirty the cloth of the heart is, it was originally clean and no matter how heavily soiled dust is, it can still be washed. The question is, do we have the determination and effort to erase and clean the fabric of our mind? It is perseverance, single-mindedness in transforming the mind in a good direction that will make our mind pure and pure. Only when our mind is as pure as a clean cloth can we dye it with a good color, just like him, and at the same time a good future awaits us. On the contrary, if we do not make efforts to transform to purify our mind, then surely in the present and in the future, we cannot be as we wish because cause and effect are inherently inseparable. Practice is to erase and cleanse the body and mind. Each individual himself will color his life, no one can do it for him. Therefore, practicing good dharmas to keep the mind clean is always the duty and responsibility of every Buddha.END=NAMO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
Tu tập chính là tẩy xóa và gột rửa thân tâm. Con người sống trên đời quý ở tấm lòng, nơi cái tâm bởi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Trong tu tập thì việc giữ tâm trong sạch lại càng quan trọng hơn vì “Ý làm chủ các pháp” hay “Nhất thiết duy tâm tạo”. Lòng từ bi trong tu tập đạo Phật Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: Này các Tỷ kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào các thuốc nhuộm xanh, vàng hoặc đỏ… vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào các thuốc nhuộm xanh, vàng hoặc đỏ… vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế. Lời bàn: Trong tu tập thì việc giữ tâm trong sạch rất quan trọng. Con người sống trên đời quý ở tấm lòng, nơi cái tâm bởi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Trong tu tập thì việc giữ tâm trong sạch lại càng quan trọng hơn vì “Ý làm chủ các pháp” hay “Nhất thiết duy tâm tạo”. Do vậy, quán sát tâm của mình hiện tại là thiện hoặc ác, tốt hoặc xấu, cao thượng hay thấp hèn... để biết chắc mình sẽ đón nhận một tương lai khổ hoặc vui thích ứng với các loại tâm ấy. Theo tuệ giác của Thế Tôn, tâm ta giống như tấm vải và chính ta cũng là người thợ nhuộm, nhuộm cuộc đời mình với nhiều sắc màu chánh tà trong cuộc sống hiện tại. Ai cũng muốn tâm mình như tấm vải trắng để vẽ lên đó những bức tranh với các gam màu như ý nhưng thực tế thì cuộc mưu sinh nghiệt ngã đã ít nhiều làm tâm người hoen ố, dính đầy bụi trần. Khi bừng tỉnh, giác ngộ về lẽ thật của cuộc đời và con người, phát nguyện quay về gột rửa thân tâm, mới thấy tâm mình thực sự là tấm vải dơ, loang lổ màu tham lam, thù hận... và tang thương gần như rách nát. Thực hành các thiện pháp để tâm trong sạch luôn là phận sự, trọng trách của mỗi người con Phật. Tu tập hạnh lành của Bồ tát Tuy nhiên, dù tấm vải tâm có dơ bẩn đến mấy thì trước đây nó vốn trong sạch và dẫu bị nhuốm bụi trần đậm đặc đến thế nào thì vẫn có thể gột rửa được. Vấn đề là ta có quyết tâm và nỗ lực để tẩy xóa, làm trong sạch tấm vải tâm của mình hay không? Chính sự bền bỉ, chuyên nhất trong việc chuyển hóa tâm theo khuynh hướng thiện sẽ khiến tâm ta trở thành thanh tịnh và trong sạch. Chỉ khi nào tâm chúng ta thanh tịnh như tấm vải sạch thì lúc ấy mới có thể nhuộm được màu tốt đẹp, như y, đồng thời một tương lai tốt đẹp sẽ chờ đón chúng ta. Ngược lại, nếu không ra sức chuyển hóa để làm trong sạch tâm mình thì chắc chắn trong hiện tại và mai sau không thể như ý mình được vì nhân và quả vốn chẳng tách rời. Tu tập chính là tẩy xóa và gột rửa thân tâm. Tự thân mỗi cá nhân sẽ nhuộm màu cho cuộc đời mình, không ai có thể làm thay cho mình được. Do vậy, thực hành các thiện pháp để tâm trong sạch luôn là phận sự, trọng trách của mỗi người con Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
Seven kinds of worldly blessings.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. Only then do we know that we only need to respect and believe in the Three Jewels, take refuge in the heart and uphold the five precepts, and we will set our first step on the Noble Path. All the merits, blessings, and saints' results come from here. “Once upon a time, the Buddha traveled to Kosara, staying in the garden of Cusala. At that time, the venerable Maha Chau-na arose from his seat, lifted his right shoulder, his right knee was close to the ground, knelt long, folded his hands, and said: World-Honored One, is it possible to establish merit in the world? The Blessed One said: "It is possible, Chau-na, to have seven kinds of merit out of the world, with great merit, great retribution, great honor, and great merit. What are seven? Chau-na, whose ethnicity is male or female who has faith, hears that the Tathagata or a disciple of the Tathagata is residing somewhere. After listening, I immediately rejoiced, very excited in my heart. Chau-na, that is the first kind of worldly blessing, of great merit, great retribution, great honor, and great merit. "Again, Chau-na, having a male or female ethnicity who has faith, hearing that the Tathagata or a disciple of the Tathagata will come from over there, listen to it and be happy, with great excitement in his heart. Chau-na, that is the second kind of merit out of the world, of great merit, great retribution, great honor, and great merit. "Again, Chau-na, having a male or female ethnicity who has faith, hearing that the Tathagata or a disciple of the Tathagata will come from over there, listen to it and be happy, with great excitement in his heart. With a pure mind, personally visit, pay respects and make offerings. After making offerings, taking the three refuges, for the Buddha, the Dharma and the bhikkhus, they received the forbidden precepts. Chau-na, that is the seventh kind of worldly blessing, of great merit, great retribution, great honor, and great merit. - Chau-na, a male or female ethnic group with faith, if one can create seven kinds of blessings in this world and have seven kinds of blessings out of the world, then the other person's blessings cannot be counted, there are so many blessings, there are so many results of merit, there are so many blessings. It can only be said that it is impossible to limit, not to be quantified, and it is impossible to know the number of great blessings…”. This Dharma talk Venerable Maha Chau-na (Mahācunda) asked the Buddha how to create seven kinds of worldly merit. The World-Honored One has taught that good men and faithful women accomplish the following good dharmas: 1. Hearing the Buddha is somewhere, born joyful; 2. Listen to the Buddha or the Bhikkhu-stilts coming to his place, born with joy; 3. With pure mind, personally visit; 4. With a pure mind, come personally to pay respects; 5. With a pure mind, come personally to make offerings; 6. After making offerings, take refuge in the Three Jewels; 7. After taking refuge, vow to uphold the five precepts. Those who do so, the Buddha asserted, are the seven kinds of merit out of the world, "with great fortune, with great retribution, with great honor, with great merit," and "the blessings of others are not so great." countable, immeasurable, immeasurable, and unknowable the number of great blessings.” Only then do we know that we only need to respect and believe in the Three Jewels, take refuge in the heart and uphold the five precepts, and we will set our first step on the Noble Path. All the merits, blessings, and saints' results come from here. Although, after taking refuge, Buddhists still live in the world but have been oriented, laying the foundation for the path and fruition of the world. From here, Buddhists who continue to practice the Eightfold Path with their assistants will be firmly on the path to enlightenment and liberation.END=NAMO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
Bảy loại phước xuất thế gian. Thế mới biết, chỉ cần kính tin Tam bảo, phát tâm quy y, thọ trì năm giới là đã đặt bước chân đầu tiên lên Thánh đạo. Tất cả những công đức, phước báo và các Thánh quả xuất thế đều bắt đầu từ đây. “Một thời Phật du hóa Câu-xá-di, ở tại vườn Cù-sa-la. Bấy giờ, Tôn giả Ma-ha Châu-na từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối phải sát đất, quỳ dài, chắp tay, bạch rằng: Bạch Thế Tôn, có thể thi thiết phước xuất thế gian được chăng? Thế Tôn bảo rằng: - Có thể được, Châu-na, lại có bảy loại phước xuất thế gian, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. Những gì là bảy? Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai đang trú ở nơi nào đó. Sau khi nghe, liền hoan hỷ, trong lòng rất phấn khởi. Châu-na, đó là loại phước xuất thế gian thứ nhất, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. - Lại nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Châu-na, đó là loại phước xuất thế gian thứ hai, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. - Lại nữa, Châu-na, có tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây, nghe rồi vui vẻ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường. Sau khi cúng dường, thọ pháp ba quy y, đối với Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo mà thọ giới cấm. Châu-na, đó là loại phước xuất thế gian thứ bảy, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn. - Châu-na, tộc tánh nam hay tộc tánh nữ có tín tâm, nếu tạo được bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước xuất thế gian, thì phước của người kia không thế tính được, có chừng ấy phước, có chừng ấy kết quả của phước, có chừng ấy phước báo. Chỉ có thể nói là không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước…”. Pháp thoại này Tôn giả Ma-ha Châu-na (Mahācunda) đã hỏi Đức Phật về cách tạo bảy loại phước xuất thế gian. Thế Tôn đã chỉ dạy rằng, các thiện nam, tín nữ thành tựu những pháp lành sau: 1. Nghe Đức Phật đang ở nơi nào đó, sinh lòng hoan hỷ; 2. Nghe Đức Phật hoặc các Tỳ-kheo sắp đến chỗ của mình, sinh lòng hoan hỷ; 3. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới thăm viếng; 4. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới lễ kính; 5. Với tâm thanh tịnh, đích thân tới cúng dường; 6. Sau khi cúng dường, phát tâm quy y Tam bảo; 7. Sau khi quy y, phát nguyện thọ trì năm giới. Những ai làm được như vậy, Đức Phật khẳng định, đó là bảy loại phước xuất thế gian, “có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự lớn, có công đức lớn” và “phước của người kia không thế tính được, không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước”. Thế mới biết, chỉ cần kính tin Tam bảo, phát tâm quy y, thọ trì năm giới là đã đặt bước chân đầu tiên lên Thánh đạo. Tất cả những công đức, phước báo và các Thánh quả xuất thế đều bắt đầu từ đây. Tuy rằng, sau khi quy y, hàng Phật tử vẫn sống trong tục đế nhưng đã được định hướng, đã đặt nền tảng cho đạo quả xuất thế. Từ đây, người Phật tử tiếp tục tu tập Bát Chánh đạo cùng các trợ đạo sẽ vững tiến trên con đường giác ngộ, giải thoát.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
The beggar by the tree.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. "In spiritual practice, we still hang around the tree because we don't have the will to explore and learn to actively walk on our own path..." Beggars beg for food during the day, and sleep by the tree at night. Day by day, he lived on alms so he no longer thought about looking for a job to support himself. Sometimes he meets benefactors, some days he also asks for a lot of money but only knows how to wrap them up and put them in his belt, but he doesn't know what to use the money for. Five years, ten years later, people meet again, still see him beggar and still sleep by the tree at night. In this life, sometimes we are like that beggar, relying on the help of others, not wanting to improve ourselves. In spiritual practice , too, sometimes we just want to wait for help, but we don't think, explore and learn. Five years, ten years after meeting again, it's still the same, still no progress than before. The beggar lurks around the tree because he is disabled, so he has no motivation to strive. And me? In spiritual practice , we are still hanging around the tree because we do not have the will to explore and learn to actively walk on our own path.END=NAMO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.
Người ăn mày bên gốc cây. “Trong tu hành, ta vẫn lẩn quẩn bên gốc cây vì không có ý chí tìm tòi, học hỏi để tự mình chủ động bước đi trên con đường của chính mình…” Người ăn mày ban ngày xin ăn, tối về ngủ bên gốc cây. Ngày qua ngày, anh ta sống nhờ của bố thí nên không còn nghĩ gì đến tìm kiếm việc làm để nuôi thân. Đôi khi gặp các nhà hảo tâm, có ngày anh ta cũng xin được nhiều tiền nhưng chỉ biết gói chúng lại rồi cất vào thắt lưng chứ đâu biết sử dụng tiền đó để làm ăn gì. Năm năm rồi mười năm, người ta gặp lại, vẫn thấy anh ta còn ăn mày và tối đến vẫn ngủ bên gốc cây. Trong cuộc đời này, đôi lúc chúng ta cũng như người ăn mày đó, trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác chứ không muốn tự thân vươn lên. Trong tu hành cũng vậy, nhiều khi ta chỉ muốn chờ đợi giúp đỡ chứ bản thân không chịu tư duy, tìm tòi và học hỏi. Năm năm, mười năm gặp lại vẫn như thế, vẫn chưa tiến bộ được gì hơn xưa. Người ăn mày lẩn quẩn bên gốc cây vì anh ta tật nguyền nên không còn động lực phấn đấu. Còn ta? Trong tu hành, ta vẫn lẩn quẩn bên gốc cây vì không có ý chí tìm tòi, học hỏi để tự mình chủ động bước đi trên con đường của chính mình.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/6/2021.