Friday, January 19, 2018

TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ
Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -
(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)



Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Ngài là bậc Ứng Cúng, Ðấng Chánh Biến Tri.

Quyển thứ nhất

--- ooOoo ---
Bốn mươi quyển Tạp sự này có tám môn. Một tụng đại môn bao trùm cương lĩnh cả bộ. Có tám tụng tổng nhiếp cho tám môn, trong mỗi môn lại có biệt môn. Mỗi biệt môn có mười tụng. Tổng cộng là tám mươi chín tụng. Trong mỗi nhiếp tụng có ngàn hàng. Người nào thọ trì thông thuộc, có thể nắm được toàn bộ ý nghĩa cả bộ.
Tụng đại môn tổng nhiếp:
Chuyên thạch cập ngưu mao,
Tam y tinh thượng tòa,
Xá lợi mãnh thú cân,
Cấp đa ny trừ tháp.
Tụng tổng nhiếp biệt môn thứ nhất:
Chuyên khai tiễn trảo bát,
Cảnh sanh chi đạp y,
Thủy la sinh đậu châu,
Tẩy túc quần ưng kết.
Tụng nhiếp một trong biệt môn thứ nhất:
Chuyên khai thạch tự thổ,
Ngưu hoàng hương ích,
Nhãn Ðã trụ đẳng chư tuyến,
Anh lạc ấn ưng tri.
* Một thời, đức Thế Tôn ở giảng đường Cao Các, bên bờ hồ Di Hầu, thành Quảng Nghiêm.
Vào sáng sớm, Lục chúng Bí-sô mặc y mang bát sắp vào thành Quảng Nghiêm để khất thực. Cách thành không xa, có vườn của Lật Cô Tỳ Tử, phong cảnh thanh nhàn, hoa trái xum xuê, suối mát chảy quanh, chim đẹp đua hót như trong vườn Hoan Hỷ của trời Ðế Thích. Trong vườn lại có các dụng cụ giải lao, những nhạc khí với âm thanh tuyệt hảo, cùng các vật để tắm rửa, hương thơm để thoa.
Lục chúng bàn nhau:
- Này Nan Ðà, Ô Ba Nan Ðà, từng nghe vườn này rất khả ái. Thế Tôn cũng thường tán thán như cõi trời Ba mươi ba. Chúng ta thử vào xem có những gì đặc biệt không.
Sau khi bàn bạc, Lục chúng vào vườn, thấy các loại chày gỗ dài ngắn, các vồ to nhỏ và các cục đá lớn bé. Những vật này phục vụ cho việc vui đùa, làm cho thân thể được vận động, máu huyết lưu thông, trừ bệnh, làm tiêu hoá ăn uống. Họ lại thấy các loại nhạc cụ đặc biệt như sáo, đàn, trống ...
Lại có các loại bột tắm thơm, các loại gạch nổi nhẹ, tháo đậu, cỏ thơm, dư cam (hạt dư cam có ở Quảng Châu dùng để gội tóc, phương Tây gọi là trái Am-ma-lạc-ca) dùng kỳ cọ thân thể và xức tóc, có thể làm cho tóc trắng trở thành đen.
Lục chúng thấy vậy, bàn với nhau:
- Các nhạc cụ này diễn tả được đủ các tình cảm, chúng ta cố gắng xử dụng cho hết; vậy nên ca múa hay tắm rửa trước?
Một người bảo:
- Ðã lâu chúng ta chưa tắm, vậy nên tắm trước.
Sau khi bàn luận, họ cùng nhau xuống ao, cầm gạch nổi để kỳ cọ thân thể. Lục chúng có nhiều kỹ xảo, biết hết các kỹ thuật, khi tắm rửa dùng gạch nổi kỳ cọ thân thể làm vang ra âm thanh của năm loại nhạc, như người có kỹ thuật thổi kèn gẩy đàn vỗ tay. Những người đi qua nơi này, ngờ nơi đây có tấu nhạc nên cùng lắng tai nghe. Họ nói với nhau:
- Vườn Lật Cô Tỳ có biểu diễn ca vũ, chúng ta hãy dừng lại xem.
Mọi người hưởng ứng đồng ý và chen nhau vào vườn.
Khi mọi người vào vườn thì Lục chúng lại đi ra. Họ hỏi Lục chúng:
- Thánh giả, người tấu âm nhạc ở đâu?
Ðáp:
- Các người là kẻ ngu, có tai nghe tiếng mà tâm không biết hay dở. Làm gì có nhạc sĩ nào tấu được những âm thanh kỳ diệu như vậy.
Hỏi:
- Thánh giả, vậy âm thanh vừa rồi là của ai tấu?
Ðáp:
- Hiền thủ, âm thanh các người nghe là khi chúng ta tắm rửa, dùng gạch kỳ cọ thân thể phát ra âm điệu ấy.
Những người kia nói:
- Sa-môn quý ngài còn có năm dục não loạn thân tâm hay sao?
Ðáp:
- Này kẻ ngu si, chúng ta không não loạn người khác, tự hưởng thụ dục lạc nhưng không bỏ phế việc tu tập thì có lỗi gì? Ngươi có phải là thầy ta đâu mà nói ra những lời chê bai này, hãy im lặng đi chớ rước lấy tai họa.
Những người kia nghe nói, sợ hãi, im lặng bỏ đi. Họ vào thành Quảng Nghiêm, đến ngã tư đường bàn luận chê bai. Các Bí-sô nghe vậy, bạch Phật:
Phật suy nghĩ: "Bí-sô tắm rửa dùng gạch kỳ cọ thân thể, có những lỗi như vậy". Vì vậy, Ngài dạy:
- Khi tắm rửa, các Bí-sô không nên dùng gạch kỳ cọ thân thể , ai dùng gạch kỳ cọ thân thể, bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật không cho phép dùng gạch kỳ cọ thân thể, chân các Bí-sô có cấu bẩn nên bị nứt. Khi họ đi khất thực, mọi người trông thấy, hỏi:
- Thánh giả! Chân ngài bị nứt có nhiều cấu bẩn, tại sao không kỳ cọ sạch sẽ mà để bẩn thỉu như vậy?
Ðáp:
- Thế Tôn không cho phép.
Họ nói:
- Thân quý ngài nhơ bẩn, sao gọi là thanh tịnh?
Bí-sô im lặng, sau khi nhận thực phẩm, trở về trú xứ, đem sự việc bạch Phật. Phật bảo các Bí-sô:
- Trước đây chế định, nay tùy khai. Ta cho phép các Bí-sô dùng gạch kỳ cọ chân, nhưng không kỳ cọ nơi khác trên thân. Ai kỳ cọ chỗ khác bị tội vượt pháp.
Khi ấy, Lục chúng thấy Phật không cho dùng gạch, nên dùng đá nổi.
Phật dạy:
- Cũng bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Vào sáng sớm, các Bí-sô mặc y mang bát vào thành khất thực. Họ thấy các vị Bàlamôn dùng tay vạch ba vạch bằng đất trắng hay tro trắng lên trán, nên cầu xin gì cũng được tốt đẹp. Thấy vậy, Lục chúng nói với nhau:
- Ðây là phương pháp tốt, chúng ta nên làm theo.
Hôm khác, họ vạch ba vạch trên trán rồi vào thành khất thực. Những người không tin, cười nói:
- Ta xin bái lạy.
Lục chúng bảo:
- Này kẻ ngu không hiểu biết lễ nghi, ai hợp với quỳ lạy, ai đáng được kính lễ?
Họ đáp:
- Chúng tôi chỉ biết thấy bà la môn già thì nói quỳ lạy, thấy Bí-sô nên thưa lễ kính.
Lục chúng nói:
- Như vậy, tại sao các ngươi thấy ta là Bí-sô lại không lễ kính mà nói quỳ lạy?
Ðáp:
- Thánh giả! Tôi thấy mặt quý ngài có ba vạch, vậy là Bàlamôn nào phải Bí-sô. Chúng tôi không biết là Bí-sô, xin thứ lỗi.
Lục chúng đành im lặng. Các Bí-sô nghe sự việc, bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Nếu Bí-sô vẽ ba vạch trên mặt sẽ có những lỗi lầm như vậy". Do đó, Ngài quy định:
- Bí-sô nào vẽ ba vạch như vậy, bị tội vượt pháp.
Phật dạy:
- Bí-sô không được dùng đất trắng vẽ ba vạch trên mặt như vậy.
Có Bí-sô bệnh, y sĩ cho đơn thuốc dùng đất trắng bôi lên thân. Bí-sô không dám, đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Trước là chế định, nay là tùy khai. Nếu y sĩ bảo bôi đất trên thân, được làm theo, không phạm.
Phật ở thành Thất La Phiệt. Vào sáng sớm, Lục chúng mặc y mang bát vào thành khất thực, thấy các vị Bàlamôn bôi ngưu hoàng trên trán nên mong cầu những thức ăn ngon; đều đạt được. Thấy vậy, Lục chúng nói với nhau:
- Ðây là phương pháp tốt, chúng ta nên làm theo.
Hôm khác, họ bôi ngưu hoàng trên trán, đi khất thực. Những người không tin, thấy dấu trên trán, khinh thường cười nói:
- Ta xin quỳ bái ... như đoạn trên ... Tôi thấy quý vị trang sức trên mặt bằng ngưu hoàng, đó là Bàlamôn chứ nào phải Bí-sô. Chúng tôi không biết, xin thứ lỗi.
Lục chúng đành im lặng. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật nghĩ: "Nếu Bí-sô trang sức trên trán bằng ngưu hoàng, nên sẽ gây ra lỗi như vậy". Do đó, Ngài quy định:
- Bí-sô không được bôi ngưu hoàng trên trán. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật chế không được bôi ngưu hoàng trên trán, có Bí-sô bị mụt dữ trên trán, đến hỏi y sĩ:
- Hiền thủ, hãy trị bệnh cho tôi.
Y sĩ nói:
- Thánh giả hãy dùng ngưu hoàng bôi quanh mụt ghẻ thì sẽ hết bệnh.
Bí-sô nói:
- Thế Tôn chế giới không được dùng ngưu hoàng bôi trên trán.
Y sĩ nói:
- Thánh giả! Thầy ngài đại từ bi, nếu có bệnh tất cho phép.
Họ đem việc này bạch Phật. Phật bảo các Bí-sô:
- Trước đây chế định, nay tùy khai, trừ trường hợp bệnh và y sĩ bảo làm được phép dùng ngưu hoàng. Không bệnh, cố ý dùng, bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước. Lục chúng Bí-sô thoa chất thơm, đi vào trong nhóm thanh thiếu niên, bảo với họ:
- Các ngươi hãy ngửi mùi thơm của ta xem thế nào?
Những người kia đáp:
- Lẽ nào Thượng tọa thoa chất thơm?
Ðáp:
- Ðúng vậy.
Họ nói:
- Thoa mùi thơm là trang sức thế tục, nào hợp với Thượng tọa.
Ðáp:
- Hợp hay không, ta cũng đã làm.
Họ cùng nhau bất mãn khinh khi. Các Bí-sô đem việc này bạch Phật. Phật nghĩ: "Bí-sô thoa mùi thơm, có lỗi lầm như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không được thoa mùi thơm. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Như Phật đã chế không được thoa chất thơm, có Bí-sô bị bệnh, đến gặp y sĩ, hỏi:
- Xin khám bệnh cho tôi và điều trị.
- Thánh giả, hãy thoa chất thơm thì hết bệnh ngay.
Ðáp:
- Hiền thủ, lẽ nào bảo tôi ưa thích dục lạc hay sao?
- Thánh giả! Ðấy là thuốc trị bệnh, dùng loại khác không hết được.
Bí-sô bạch Phật .
Phật dạy:
- Nay Ta cho phép nếu y sĩ cho toa như vậy, thoa chất thơm không phạm.
Khi Bí-sô thoa chất thơm vào ngồi trong chúng, thuyết pháp cho các Bàlamôn cư sĩ, hoặc vào nhà thế tục, mọi người biết vậy nên chê bai. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Ta sẽ quy định những pháp cho Bí-sô thoa mùi thơm. Những Bí-sô nào thoa mùi thơm không được vào ngồi giữa mọi người, cũng không được thuyết pháp cho Bà-la-môn cư sĩ, không được đi đến nhà thế tục. Sau khi hết bệnh, Bí-sô phải tắm sạch hết mùi, mới được tùy ý vào giữa mọi người và được thuyết pháp cho mọi người. Ai không làm theo pháp này, bị tội vượt pháp.
Khi ấy, có tín tâm Bà-la-môn cư sĩ đem hương thoa đến cúng dường các Bí-sô.
Bí-sô không nhận, các cư sĩ nói:
- Thánh giả! Khi Phật chưa ra đời, chúng con nhờ vào ngoại đạo để làm phước. Nay, Phật ra đời, chúng con lấy các Ngài làm phước điền lớn. Vì sao không nhận vật cúng dường của các con mang đến? Lẽ nào làm cho chúng con không có hành trang tốt đẹp để đi qua đời sau? Xin từ bi nhận của cúng dường nhỏ mọn của chúng con.
Bí-sô đáp:
- Hãy chờ tôi thưa hỏi Phật .
Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật.Phật dạy:
- Nên nhận.
Sau khi nhận, Bí-sô vứt ngay xuống đất trước người cho.
Thí chủ nói:
- Thánh giả! Chúng con mua vật quý giá đem đến, vì sao vứt bỏ đi.
Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật.Phật dạy:
- Nhận xong, không nên xem thường vứt bỏ trước thí chủ, nên đem thoa trên đất trước tháp Phật đề cúng dường.
Như lời Phật dạy:
- Nên thoa hương trên đất trước tháp Phật để cúng dường.
Các Bí-sô sau khi nhận hương ấy, dùng tay bôi trước tháp tóc móng tay của Phật để cúng dường. Thấy vậy, thí chủ nói:
- Thánh giả! Con không biết có tháp để cúng dường hay sao? Ý chúng con là cúng cho các ngài. Trước tháp Phật, chúng con đã cúng dường rồi.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Nhận được chất thơm nên thoa trong phòng.
Bí-sô được hương thơm, bôi lên cánh cửa phòng. Những người khác cho là điện Phật nên lễ bái.
Phật dạy:
- Không nên làm vậy, nên bôi lên cửa ngoài ... họ lại bị lỗi như trước.
Phật dạy:
- Nên thoa trên đầu, bờ của tường vách, mũi luôn được ngửi. Khi ngửi vật thơm, làm cho mắt sáng, chớ nghi ngại.
* Một thời, Thế Tôn ở vườn Thi-Lộc, rừng Khủng Úy, núi Thất Thu Ma La. Vương tử Bồ Ðề xây cất lầu Ðiểu Minh vừa xong nên tổ chức khánh thành, thỉnh Phật và Tăng đến để cúng dường. Thế Tôn đến nơi, cùng chúng Tăng an tọa dưới lầu thọ trai. Trong khi thọ trai, Ô Ba Nan Ðà lấy tay đánh vào trụ lầu, làm cho lầu bị chấn động. Người cúng dường báo:
- Thánh giả! Vương tử Bồ Ðề mới tạo lầu này, dùng cả trăm màu sắc để tô vẽ điêu khắc, ý gì mà ngài muốn phá hoại?
Ô Ba Nan Ðà đáp:
- Kẻ bần hàn Bồ Ðề có tâm tham ái nơi này, sau khi chết sẽ đọa vào nơi nào? Ngươi cũng có tâm tham ái nơi này, sau khi chết sẽ đọa vào loài quỷ bứu to.
Người kia nghe xong, rất bất mãn chê trách. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật .Phật suy nghĩ: "Bí-sô đánh vào cột, có những lỗi như vậy".
Ngài chế:
- Bí-sô không được lấy tay đánh vào cột, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật chế không được dùng tay đánh vào cột, Lục chúng Bí-sô dùng đấm tay, vai, lưng, gối và gạch đá đánh làm lay động ... lại gây bất mãn chê trách bị lỗi như trước.
Phật dạy:
- Không được đánh bằng bất kỳ vật gì?
Khi ấy, Lục chúng đánh vào tường, vào đất. Phật dạy:
- Không được đánh vật khác, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước... Vào sáng sớm, Lục chúng Bí-sô mặc y mang bát vào thành khất thực, thấy các Bàlamôn mang dây phạm tuyến nên khất thực được nhiều thức ăn ngon. Họ bàn nhau:
- Nan Ðà, Ô Ba Nan Ðà! Ta có phương pháp tốt là mang dây phạm tuyến.
Vào ngày khác, họ mang dây này vào thành khất thực. Có những người không tin thấy dây phạm tuyến, nên khinh khi nói:
- Ta xin quỳ bái ... hỏi đáp như trước ... cho đến các Bí-sô đem sự việc bạch Phật.
Phật suy nghĩ: "Bí-sô mang dây phạm tuyến có những lỗi như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không được mang dây, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước... Lục chúng khất thực thấy các Bàlamôn dùng hoa thơm đẹp trang sức thân thể, tay đeo dây ngũ sắc, được nhiều thức ăn no đủ, sau khi ăn no thân hình sung mãn đi ra khỏi nhà.
Lục chúng bảo nhau:
- Nan Ðà, Ô Ba Nan Ðà! Ðây là phương pháp tốt, chúng ta nên làm theo.
Vào ngày khác, họ cột dây ngũ sắc trên tay, đi vào thành khất thực. Các Bà-la-môn thấy vậy nên khinh thường, nói:- Ta xin quỳ bái. Lục chúng nổi lên bất mãn.. nói rộng như trước ... cho đến các Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Bí-sô mang dây ngũ sắc có những lỗi lầm như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không được mang dây ngũ sắc nơi tay, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật không cho mang dây ngũ sắc nơi tay, có Bí-sô bị bệnh, đến gặp y sĩ hỏi:
- Hiền thủ! Tôi bị bệnh xin ngài điều trị.
Ðáp:
- Thánh giả! Ngài dùng dây ngũ sắc, chú nguyện mang nơi tay thì hết bệnh.
- Thế Tôn không cho phép làm.
Y sĩ nói:
- Ðại sư của ngài lấy từ bi làm gốc, bị bệnh tất cho phép không ngờ gì cả.
Các Bí-sô bạch Phật .Phật dạy:
- Nay Ta cho phép các Bí-sô vì bệnh, y sĩ bảo làm, mang dây không phạm.
Sau khi Phật cho cột dây nơi tay, Bí-sô lại mang dây trước khuỷu tay phải, lại bị chê có lỗi. Phật dạy:
- Không được.
Họ lại mang sau khuỷu. Phật dạy:
- Không được.
Họ lại mang trước khuỷu tay trái.Phật dạy:
- Không được.
Họ lại mang sau khuỷu tay trái.
Bí-sô nhờ mang dây được hết bệnh, sau đó vứt bỏ dây ấy bừa bãi. Phi nhân thấy vậy nên hiềm khích, nói:
- Thánh giả! Dây này do có kết tên họ của tôi, nhờ chú ấy nên làm cho hết bệnh, nay ngài lại khinh thường.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Không được vứt bỏ bừa bãi. Ai chưa hết bệnh thì cột nơi góc y, khi bình phục rồi nên an trí nơi hốc tường cột.
* Duyên xứ như trước... Lục chúng khất thực, thấy những người thế tục trang sức bằng các loại chuỗi anh lạc, nên dùng vòng anh lạc đeo tay chân trang sức nơi thân, rồi nói với nhau rằng trang sức đẹp không. Những người thế tục nói đùa:
- Thánh giả, trên đầu tóc cạo sạch , dưới nách lông dài, có chỗ nào trang sức cho đẹp đâu, chẳng phải là các vị bị dục nhiễm trói buộc hay sao?
Lục chúng đành im lặng. Bí-sô bạch Phật.Phật suy nghĩ: "Bí-sô mang anh lạc có những lỗi như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không được dùng chuỗi anh lạc trang sức nơi tay chân, ai cố ý mang bị tội vượt pháp.
* Duyên xứ như trước... Có giặc đến, trộm kho tàng của Tăng và các vật riêng tư. Vì không ghi chép chính xác nên Bí-sô không biết mất vật vào lúc nào. Phật dạy:
- Bí-sô nên làm con dấu.
Lục chúng Bí-sô dùng vàng bạc lưu ly thủy tinh ngọc thạch mà làm con dấu, trang sức bằng vật quý trên nhẫn (con dấu) đeo tay . Khi gặp mgười thế tục, họ xòe tay ra khoe nhẫn quý và chú nguyện: "Mong quý vị không bệnh sống lâu".
Người thế tục hỏi:
- Trên nhẫn có gì vậy?
Ðáp:
- Hiền thủ, đây là nhẫn con dấu, Phật cho phép dùng.
Người đời chê bai cười nói:
- Sa-môn Thích tử còn làm việc kiêu mạn, dùng các vật báu trang sức để làm nhẫn con dấu, chẳng phải thật Sa-môn, cũng chẳng phải Bà-la-môn.
Các Bí-sô nghe vậy, bạch Phật . Phật dạy:
- Bí-sô không nên mang nhẫn và vật trang sức quý báu, nên dùng năm loại là thâu thạch, đồng đỏ, đồng trắng, ngà và sừng để làm con dấu.
Trên con dấu của Lục chúng lại khắc hình tượng nam nữ làm việc phi pháp. Những người thế tục thấy vậy chê:
- Quý vị là Sa-môn còn có tâm ô nhiễm hay sao?
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Con dấu có hai loại, một cho đại chúng, một cho cá nhân. Nếu con dấu của đại chúng, nên khắc tượng chuyển pháp luân, hai bên bố trí hình nai quỳ chầu vào , bên dưới ghi căn nguyên làm chùa, tên họ thí chủ. Nếu là con dấu cá nhân, nên khắc tượng bộ xương, hoặc hình đầu lâu, để khi nhìn thấy sinh tâm nhàm chán.

Nhiếp tụng thứ hai trong biệt môn thứ nhất
Tiễn qua phát khai quang,
Xuân thời thực tiểu quả,
Khát thính ngũ chủng dược,
Quảng thuyết Hỏa Sinh duyên.
* Duyên xứ như trước... Trưởng giả Cấp Cô Ðộc xây dựng trú xứ Thệ Ða Lâm cúng dường cho Phật và Tăng.
Một hôm, trưởng giả bảo người thợ cạo:
- Người hãy đến rừng Thệ Ða, cạo râu tóc cho Thánh chúng.
Người kia vâng lệnh, đi đến chùa. Khi ấy, Lục chúng Bí-sô tụ tập trước cửa chùa nhìn ngắm không ngừng. Ô Ba Nan Ðà đang kinh hành qua lại trước chùa, thấy người thợ cạo đến, bảo:
- Xin chào, hiền thủ đến đây! Cũng như trăng đầu tháng thật khó gặp được.
Người thợ nói:
- Trưởng giả sai tôi đến cạo tóc cho chúng Tăng.
Hỏi:
- Người biết cắt móng tay không?
Ðáp:
- Thánh giả! Ðấy là nghề của tôi.
- Người hãy đến đây, thử trổ nghề giỏi xem!
Người thợ ra trước, Tôn giả xoè tay ra.
Người thợ nói:
- Thánh giả muốn cắt như thế nào?
- Hiền thủ! Hãy cắt như hình hạt lúa.
Thợ cạo làm đúng theo yêu cầu. Sau đó, Ô Ba Nan Ðà lại bảo cắt hình đầu người, rồi hình dao cạo, hình lưỡi búa, hình bán nguyệt ... người kia vẫn làm đúng theo. Cuối cùng, Tôn giả bảo:
- Người là kẻ ngu si, nói dối có nghề giỏi, mà chẳng biết gì cả, hãy cắt bằng hết, mau bỏ hình cũ đi.
Mãi đến chiều , Tôn giả mới cho người thợ về.
Chiều tối, người thợ mới về chỗ Trưởng giả. Trưởng giả hỏi:
- Người đã cạo râu tóc cho bao nhiêu vị?
Ðáp:
- Tôi nào có rảnh để cạo tóc cho đại chúng, quan trưởng Bí-sô Ô Ba Nan Ðà sai tôi cắt móng tay với các loại hình dạng ... nói đủ như trước ... cho đến chiều mới cho về, còn muốn làm gì nữa!
Trưởng giả nghe nói, có ý chê trách:
- Tuy đã xuất gia trong pháp luật thiện thuyết mà tâm không tịch tịnh.
Bí-sô nghe nói, bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Bí-sô cắt móng tay có những lỗi như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không nên cắt móng tay, ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật không cho cắt móng tay, các Bí-sô để móng tay dài.
Người thế tục thấy vậy hỏi:
- Tại sao móng tay dài vậy?
Ðáp:
- Thế Tôn không cho cắt.
- Ðể móng tay chân dài vậy là sạch hay sao?
Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Trước là quy định, nay tùy khai. Ðể móng tay có hai cách: một như hình dao cạo, hai như lưỡi búa.
* Duyên xứ như trước... Trưởng giả Cấp cô độc sai thợ cạo vào chùa cạo râu tóc cho chúng Tăng ... như trước ... cho đến hỏi:
- Ngươi hiểu cách đánh móng tay chân không?
Ðáp:
- Thánh giả, đấy là nghề của tôi.
- Ngươi hãy đến đây làm thử xem .
Bí-sô sai họ làm màu vàng trước, rồi đến màu đỏ, màu trắng, màu vàng kim ... Họ đều làm theo lời sai bảo. Bí-sô lại bảo họ:
- Ngươi là kẻ ngu si, dối nói có nghề giỏi nhưng không biết gì cả, hãy chùi cho bình thường bỏ hết cái cũ đi. Khi người kia về gặp Trưởng giả ... cho đến ... còn muốn làm gì nữa. Trưởng giả nghe nói nên có ý hiềm trách nói như trước. Bí-sô nghe vậy, bạch Phật.
Phật nghĩ: "Bí-sô đánh móng tay có những lỗi như vậy ". Do đó, Ngài chế:
- Bí-sô không được chùi móng tay, ai vi phạm, bị tội vượt pháp.
Sau khi Phật không cho Bí-sô chùi móng tay, Bí-sô nhuộm y hay đốt bát, móng tay bị cấu bẩn màu sắc nhớp nhúa. Khi họ mang bát khất thực, người thế tục hỏi:
- Thánh giả, vì sao móng tay ngài bẩn vậy?
Bí-sô trình bày sự việc.
- Tại sao thánh giả không chùi sạch?
Ðáp:
- Thế Tôn không cho phép.
- Vậy mang đất trên móng tay là thanh tịnh hay sao?
Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Khi chùi cấu bẩn, có thể lau móng tay, không nên vì đẹp mà chùi cho sáng bóng.
* Phật ở thành Vương Xá. Vua Ảnh Thắng suy nghĩ: "Khi thời tiết thay đổi đến Xuân Thu, có lúa mới và trái đầu mùa nên đem dâng lên Phật và các Thánh chúng, sau đó mới dùng riêng". Khi ấy, có đại thần dâng trái Am-một-la mới chín lên vua (trái này lớn như trái đào, sống chín khó biết, có bốn loại khác nhau không đồng. Am-ma-lạc-ca lớn như trái táo chua, chỉ dùng làm thuốc). Nhà vua bảo:
- Hãy mang quả này dâng lên Phật và Tăng.
Vị đại thần cười mỉm. Vua nói:
- Vì sao khanh cười?
Ðáp:
- Ðại vương cho rằng thần chưa dâng lên Phật và Tăng, nhưng thần đã dâng lên trước rồi.
Vua nói:
- Sợ khanh không biết việc này, vì vậy, ta dâng lên Thánh chúng vườn cây ăn trái có ngàn gốc.
Ðại thần tâu:
- Ðây thật là việc tốt, thần rất tùy hỷ.
Nhà vua liền đem vườn cây ăn trái có ngàn gốc dâng lên tứ phương Thánh tăng, và tổ chức đại hội khánh tạ phước điền. Trước đây, rừng cây này kết trái rất nhiều, giả sử nhân dân nước Ma yết đà tụ họp lại hết cũng đủ trái để ăn. Sau khi nhà vua dâng khu rừng này cho Tăng già, các Bí-sô thấy trái còn nhỏ nhưng đã thơm ngon nên cùng hái ăn cho đến hết sạch. Có vua nước khác cần loại trái này, sai sứ giả đến gặp vua Ảnh Thắng xin trái Am-một-la.
Nhà vua nói:
- Rừng trái cây này, ta đã cúng Tăng chúng rồi. Người hãy đến đó xin với chúng Tăng. Sứ giả đến vườn Trúc lâm.
Khi ấy, Lục chúng đang tụ tập trước chùa trông ngóng chẳng sót việc gì. Ô Ba Nan Ðà đang kinh hành trước chùa. Sứ giả đến nơi lạy sát chân Tôn giả, bạch:
- Thánh giả! Con là sứ giả của quốc vương ... ngài sai con đến đây cầu xin trái Am-một-la. Nếu quý ngài có, xin chia cho. Ô Ba Nan Ðà bảo sứ giả:
- Người hãy đến rừng trái, tùy ý muốn, lấy nhiều ít đem đi.
Sứ giả đến vườn, quan sát khắp nơi, chỉ thấy cành không chẳng có trái nào cả, nên trở về thưa lại là rừng trống không có trái. Ô Ba Nan Ðà cùng sứ giả đi vào vườn, sau khi quan sát, bảo:
- Người hãy leo lên cây cao này. Sứ giả liền leo lên nhưng vẫn không thấy trái. Ô Ba Nan Ðà lại bảo:
- Hãy leo lên cành phía Ðông.
Cho đến bảo leo lên cánh phía Nam, Tây, Bắc. Người kia leo khắp nhưng chẳng được gì nên tụt xuống khỏi cây, hỏi:
- Thánh giả, hay là năm nay rừng cây này chẳng có trái?
Ðáp:
- Hiền thủ, năm nay cũng kết trái như năm trước.
- Như vậy, hay là năm nay bị gió mưa nên trái rụng phải không?
Ðáp:
- Không phải.
- Vì sao không có trái nào?
Ðáp:
- Chúng tôi đã ăn hết khi trái còn nhỏ.
Sứ giả trở lại tâu sự việc lên vua. Vua phán:
- Lành thay! Tâm nguyện của ta là muốn cho Thánh chúng được ăn.
Sứ giả buồn bã trở về nước mình. Khi ấy, nước Ma-yết-đà có đại hội, mọi người đều tụ tập. Họ hỏi Bí-sô:
- Thánh giả! Vì sao năm nay cả rừng cây không kết trái?
Ðáp:
- Hiền thủ! Chẳng phải không kết trái chỉ vì chúng tôi đã ăn hết.
- Thánh giả! Tính ra, khi rừng trái cây này chín, nhân dân cả nước Ma-yết-đà ăn cũng đủ, chỉ vì các vị ăn hết khi chúng còn nhỏ, nên không còn trái nào cả, đây thật không tốt.
Bí-sô đáp:
- Rừng trái này, nhà vua không cho những người trong nước, chỉ cúng Tăng chúng.Vậy chúng ta cùng ăn, có lỗi gì?
Khi mọi người nghe nói vậy, cùng nhau không vừa lòng chê trách:
- Sa-môn Thích tử còn không biết tri túc, huống chi bọn thế tục chúng ta.
Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do ăn trái ấy còn nhỏ nên có lỗi như vậy". Do đó, Ngài chế:
- Các Bí-sô không được ăn trái ấy còn nhỏ, ai ăn bị tội vượt pháp.
Như Phật chế, không được ăn trái ấy, có Trưởng giả với tín tâm đem trái Am-một-la nhỏ nhưng thơm ngon dâng lên Bí-sô. Bí-sô nói:
- Phật không cho ăn. Các Trưởng giả nói:
- Khi Phật chưa ra đời, những người chúng con đều lấy ngoại đạo làm phước điền ... như trên... cho đến từ bi nhận vật cúng dường nhỏ mọn của con.
Các Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Khi chúng có hạt ăn không phạm.
Lại có Trưởng giả với tín tâm đem trái Am-một-la-chín dâng lên Bí-sô ... như trước ... cho đến nhận vật cúng nhỏ mọn của con. Các Bí-sô không dám nhận, đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:
- Sau khi có hạt cho đến khi chín đều được ăn, chớ nghi ngại.
* Duyên khởi ở thành Thất la phiệt. Có Bí-sô bị bệnh, đến y sĩ nói:
- Tôi có bệnh như vậy, xin điều trị. Y sĩ nói:
- Nên dùng bơ cho thân thể nhuận tốt, tôi sẽ cho thuốc xổ.
Vị ấy dùng bơ, lại sinh bệnh tiêu khát. Y sĩ đến hỏi:
- Thánh giả khoẻ không?
Ðáp:
- Hiền thủ, tôi lại sinh bệnh khát.
Y sĩ nói:
- Hãy cầm lấy dư cam tử.
Bí-sô giữ mãi dư cam tử nơi tay, y sĩ thấy hỏi:
- Ngài đã hết khát chưa?
Ðáp:
- Chưa hết.
Y sĩ nói:
- Thánh giả, hay là ngài không cầm đến dư cam tử?
Ðáp:
- Ðang cầm trong tay.
Y sĩ:
- Nên cho vào miệng.
Bí-sô ngậm vào miệng. Ngày khác, y sĩ đến hỏi:
- Ngài hết khát chưa?
Ðáp:
- Vẫn chưa hết khát.
Y sĩ:
- Hay là ngài không ngậm dư cam tử trong miệng?
Ðáp:
- Ðang ngậm trong miệng.
- Hãy nhai đi.
Ðáp:
- Thế Tôn không cho.
Y sĩ nói:
- Thế Tôn đại từ bi chắc chắn cho phép.
Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:
- Nên nhai.
Sau khi nhai, lại nhả ra ngoài, không dám nuốt xuống, nên không hết bệnh khát.Y sĩ nói:
- Tại sao không nuốt?
Ðáp:
- Thế Tôn không cho ăn phi thời.
Bí-sô đem sự việc bạch Phật . Phật dạy:
- Nay Ta cho phép, có năm loại trái, bệnh hay không bệnh, thời hay phi thời đều được ăn, không phạm.
Như Phật dạy có năm loại trái cây, bệnh hay không bệnh, thời hay phi thời đều được ăn, không phạm, Bí-sô không biết năm loại nào. Phật dạy:
- Ðó là dư cam tử (Phạn ngữ Am-ma-lạc-ca, dịch là Dư cam tử cùng với Am-một-la ở trên khác nhau, chỉ giống về tiếng gọi, mọi người nhầm lẫn nên chú ra; đây đã trực tiếp xem rõ) Ha-lê-lặc, Tỳ-ê-lặc, Tất-bát-lê, Hồ-tiêu. Năm loại thuốc này, có bệnh không bệnh, thời hay phi thời, tùy ý ăn, chớ ngại.
CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ NẠI DA TẠP SỰ.
Quyển thứ nhất hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.20/1/2018.

Wednesday, January 10, 2018

What is the Dharma?


  
What is the Dharma? Buddhism is divided into three periods: the Dharma, the Dharma, and the Dharma. The French periods of Shakyamuni Buddha are recorded in the scriptures are not uniform, but most of the ancient virtues are according to the Dhamma period is 500 years, the statue of the Buddha is 1,000 years, and the Mat Mat is 10,000 years old. During the Proper Dharma, even though the Buddha had passed away, the Dharma remained unchanged. There is a dharma, there is practice, and there are people who attain enlightenment - that is called the Dharma Age, and is also called the period of "meditation."During the statue of dharma (statue means symbol), although there are still dhamma, there is practice, but the number of witnesses is very little; This period is also known as the "solid temple". In the Dharma Ending Period, the Buddhadharma becomes weakened, there is only Dhamma, no practice, and the less the attainer the better. This period is also known as the "solid struggle". This is the usual explanation of the three periods of "Buddha, Statue and Dress" of the Buddha Dharma.
However, the Venerable Master defines Dharma as follows: 
"You sincerely cultivate, do not despise the fake, do not engage in offerings - that is the main Dharma. If all the monks can keep the precepts do not touch the money, can sit meditation. , may eat a meal at noon, can always wear the yoga and strict precepts, that is the right Dharma!
Even the Master simply explained: 
"If you can not fight, no greed, no bride, no selfishness, no self-interest, and no lying, then that is the true Dharma."
So, what is the Dharma Ending Age? In Book 5 of the Lotus Sutra, it says, "When [Fa] becomes attentive, it is called the Dharma Ending Age." In Book 6, Nghia Lam chapter of the Great Taoist Uyen said: "Only the Dhamma is nothing else is called Dharma Dharma."However, the rightful portrayal of the Dharma Dharma appears in the Mahāyāna Sūtra, the Vinaya, and in the Sutra. Later on, the Dharma Dharma appeared under the reign of the North Qi (550-377 AD), in the text of the vows of Zen Master Huệ Tư in Nam Nhac. Hui noted that he was born in the 82nd year of the Dharma Ending Age and copied the entire Prajñā Sutra and many other texts. He vowed to spread the Fa until the Maitreya Bodhisattva came to this world. The Sui Dynasty (589-618 AD)
During the Tang dynasty (618-905 AD), Grand Master Traco and the Great Teacher said that the time was in the Dharma Ending Age, and advocated "the common teachings" (agreement with the teachings of the times) , encourages people to practice Buddhist meditation. In general, even though the period of Dharma Ending occurs, in the 49th Book of the Law, the Buddha also cites five things that can cause the Dharma to not be destroyed.
These five things are:
1.  Respect for Righteousness . This means that the Bhikkhus relying solely on the right teachings evolve away from the prejudiced view of the Hinayana and other pagan theories;Therefore, the Dharma can not be destroyed.
2.  Justification of Evil  (suspension of anger and evil). This means that the Bhikkhus always practice the patience, not angry, the reputation of the spread far and wide people come back to respect; Thus, the Dharma can not be destroyed.
3.  Sublime Glass  (reverently serving the elders). This means that the Bhikkhus revered and repented the great virtues at the top and diligently studied the Dharma from them;Thus, the Dharma can not be destroyed.
4.  Ai Lanh Chanh Phap  (Ch'an Dharma). This means that the bhikkhus cherish the dharma heard from the elders, elders, and happy to follow; Thus, the Dharma can not be destroyed.
5.  Compassion-Forbearance  (carefully explained for beginners). This means that the Bhikkhu's means of speaking teach Mahayana skillfully, making the beginners of the Dharma can rely on to progress on the path; Therefore, the Dharma can not be destroyed.
In the Dharma Endings, beings can not continually distinguish themselves from righteousness, so many people want to enter the Buddha's door but have mistaken the door to practice. That's because they lack "French label." Although in the Dharma Ending Age, the phenomenon of "fish eye interspersed with pearls" in the door of the Buddha is not a little, but the Master's dedication is very clear:
"I definitely want to revive the Dharma, I only allow Buddhism to have Dharma, not Dharma, wherever I go, there will be blessings, wisdom and relief." Therefore, without control of my limited ability, I go everywhere to preach the Proper Dharma and practice the Dharma. "
Although the Buddha repeatedly mentioned the destruction of Buddhism, however, the Buddha also attempted to overcome the destruction of the Dharma. As in the Nirvana Sutra it says: "During the Dharma Ending there will be twelve thousand (120,000) great Bodhisattvas who keep the Fa, making them immortal." From which can be learned that the Master's willingness to "do not allow the Dharma Reich" is not the great compassionate mind of the Tathagata?
The Venerable Master felt that:
Buddha Dharma Removal, Increase Self Destruction,
Ethics, cultivate,
He is sincere,
The puppets are good activity.
Consent of the five bar even.
Beings in the provinces,
Need to sign up,
Revival of Buddhism in Bhikkhu.
Translation:
Buddha's teachings are not destroyed,
Ethical practice, no one cultivated,
To be honest, ridiculed,
Outspoken cheeky, lauded.
Wanting to be happy,
Delivered three times,
I need to remind young monks and nuns:
Revive the Buddha Bhikkhu!
In Buddhism there can be no 99% - if only a small part of Buddhism is false, then that is no longer the "Righteous Fa" anymore! So we have to distinguish clearly, because in temples there are both "evil and pagan". It is better to have a thousand years without rebirth, more than one day in the path of evil. If we lack the Dharma Stickers of the "Four Pureblood Prayers" (in the Surangama Sutra) we are afraid that we may become the relatives of the evil that we ourselves do not know or do not know!
By the way, the writer introduces seven very important points in distinguishing the righteous:
1. The teacher takes the exchange of husband and wife, male and female wilderness, indulge indulgently, as bait to attract their belongings, and as a means to save the world; that is evil.
2. The teacher inspires their greed by saying that they can use talismans, tales, and talents to help them become rich; that is evil.
3. The teacher encourages directly or indirectly the killing of two living beings and the eating of living beings, and says that one can use the spell to save the spirits of the eaten beings;that is evil.
4. The teacher practices peculiar asceticism, injures himself to influence beings, and calls it suffering for beings; that is evil.
5. Master uses supernatural powers and strange things as "tools" to attract curious beings;that is evil.
6. The teacher arbitrarily adds, modifies the Buddhist monks in Buddhism and explains the deviation of the meaning of "faith, resolution, tu, testimony," also considered himself a teacher; that is evil.
7. The teacher himself founded the sect and declared himself a patriarch without having a genuine basis in Buddhist ethics; that is evil.

Part 1: Righteousness and Dharma
One time, a Buddhist asked, 
"The Venerable Master often said,
Truthfully acknowledge my mistake,
Do not bother others,
The error of his fault,
Dong Dai Bi.
But why does the Venerable Master often publicly criticize, discuss the non-Buddhas about others, and publish them in the Vajra Bodhi Sea (Vajra Bodhi Sea)? Is that a road, a path? "
The Venerable replied: 
"The person who will go to hell is me, not you." If what I say is true, it's not a lie, if it's not true, then I'm sure to be hell. Those who say that the great practitioners do not suffer from karmic consequences, the result is 500 life as the fox (lake).
If I deny cause and effect - call black is white, call white is black, say right wrong, wrong to say true - say things that are not true, then I will be damned Hell hell (withdraw the tongue). If I do not say wrong, then I'm not guilty.
Mencius said: 'I have to like the argument! I am also reluctant! If the teachings of the Yangtze and the Maccabees did not go away, the religion of Confucius would not be so bright! (first)
Why do I like to say 'marketing', 'phi' (right and wrong)? Because there is so much 'in the world, no'!
There are black (black sect), white (white sect), papal (yellow sect), pagan (red sect) ... all turn into different colors, to flowers all eyes Even black people do not know whether they are black, white or white. So, I want to say things that others do not dare to say; If you are not satisfied with anybody, I do not mind.I am a specialist who breaks the wrong view of others. "
From the above paragraph, we can understand the vast compassion of heart not to see the suffering beings of the Master. It is called "great compassion, almost cruel", and is the skillful means to educate beings of the Bodhisattva. The Venerable Thich Nhat Hanh wrote a poem to express his determination:
"I want to say the truth,
Not afraid of being beaten, cursed.
Kill me, I'm not afraid,
Liberation, what is afraid?
Master Hsu Yun said: 
"Confucius is a Confessor of Confucius; monks are sinners of the Buddha." He also emphasized: "The destroyer of Buddhism is the Buddha, not the other religions. Qin is the Qin Dynasty, not China. "
It is said in the sutras that the manifestations of the Dharma-ending period can be seen everywhere - as monks marry, nuns marry, medical men are replaced by secular, laity sitting on the high court, etc. Have a lay practitioner Ouyen Canh Vo used his own knowledge that wrote Surangama Wei Shui theory to protest the Surangama.
There is the Venerable Master says that the Flower Adornment, the Enlightenment, the Lotus Sutra, and many other sutras, as well as the Mahayana Sacraments, are fake. These are the phenomena of the Dharma Ending Age.
The Venerable Master has repeatedly repeated his instructions for the protection and maintenance of the Dharma:
"In Buddhism, all scriptures are very important, but the Surangama Sutra is even more important." Wherever there is the Shurangama Sutra, there is a rectangular Dharma where the Shurangama Sutra is lost, When teaching the Shurangama, I said: 'At the Dhamma Stage, the Shurangama Sutra will be destroyed first, and gradually the other Sutras will be destroyed as well.'Shurangama are true embodiment of Buddha, the relics of the Buddha, the stupa of a Buddhist shrine. If Shurangama is fabricated, then I am willing to hell unintermittent, permanently in place e ị a chest, Never again be able to come back to the world to meet others! Anyone who can study the Shurangama Sutra, memorize the Shurangama, he is the true disciple of the Buddha! "
In the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha Shakyamuni said to Sun Gautama, 
"In the past when I was the king of Germany, in order to preserve the Dharma, I fought with those who wanted to destroy the Dharma, and died.After death, I was born to the realm of Buddha A It is the highest disciples of the Buddha. Strict and achieved the dharmakaya body indestructible. "
"France" itself does not have "Chief, Statue, Dress"; But the human mind has the distinction of "Chief, Statue, Dress". According to the Venerable Master, whenever there is a person cultivating the Dharma, then the righteous Dharma is at the center.
If there is no one to practice, no one will read, recite, and memorize the Shurangama Sutra, it is the Dharma Ending Age. In the Surangama Sutra, there is a "Four Pureblood Prayers" lecture about killing, stealing, lewd, lying; With the "Five Thousand Knees" preaching about the heavenly, pagan doctrine to the bone marrow, and both of these are very clear that when there is no preceptor, then it is the Dharma Ending Age. About, that is, the Buddha also!
In 1990, during a lecture at the Kaohsiung Labor Center in Taiwan, the Venerable Master urgently said: "The Dharma Ending Age is held by lay people who ordain a single monk that makes up! ". Why?
The Venerable Master explained that:
"The monk living alone in a pagoda, proclaimed himself king, one king." In the time of the Dharma, all the masses live together in one of the great parts of the pagoda and join in the practice of the Tao, but in the Dharma Ending Age, people do not like the life style of the great Buddha. At a private temple - he followed his way, I followed my way - causing the householder to become confused and confused, and they found him to look good and protect him, build his own temple. Let him abbot.And then see another monk is not bad too, they built a temple for him again.Home to back up, eventually to make the fish.i ordained born mercenary greed that list to be defrocked! "
The Venerable Master did not object to the construction of the pagoda, but only because the people of today enjoy so much, do not know how to use the Dharma and education to convert the beings. They only use "big pagoda" to beings, to show how to be famous and become rich.
The Master's view of temple construction is as follows: 
"Creating a pagoda is not as good as creating a human being, not creating a Buddha, I want to be a sculptor, I want to make living Buddhas, living Bodhisattvas, living Patriarchs. All living beings in the whole world are transformed into living Buddhas, living Bodhisattvas, living Patriarchs! I am breaking down these are not big pagodas, but shrines, When people in small pagodas move to large pagodas, they can all practice together, thus they are the life-forms of a great martial arts. Because there is no restraint, there is no need to "self-indulge," which can eat freely, wear freely, walk freely, so dforget about cultivation. Every day just know phan coast,
I hope that Buddhism will inscribe these words and do not continue to "steal the bell," to deceive mankind. At present, the signs of chaos in Buddhism in Taiwan have been so severe that it can be said to alarm; But no one dares to stand up for the call; Everybody just blindly watching the Buddhist scene is gradually going toward destruction.
Three steps is a monastery, go five steps to meet a large temple - everyone is trying to organize the Fa conference, super spirits, the empowerment, the Dharma, temple construction ..., but Or know about the propagation of the teachings, guide beings how to end birth and death! (2)
The basic teaching of the Buddha is to educate, to make all beings have wisdom, to have the Dharma, to know the fruit, to improve the evil; Not a focus on the construction of the temple, the Fa conference! Have we ever wondered behind the harsh teachings of the Master hidden hides how much bloody mercy?
As the meaning in the verse, "the omnipotence of the body," the Master wants the light from the torch in his hand to illuminate as far away as possible, without regard to his being burned! "Even if I meet many difficulties, I still hold my will." This is the most honest description of the Master.

Note from the Vietnamese translation:
(1) - Mencius (Manh Kha), landowner (372-289 BC), is a sage who has great merit in clarifying the Grace.
- Yang Zi (Yang Zhou), the Wei (about 440-360 before the West); was a wartime philosopher; The theory of "self-ego" -ch concern about his own without counting down the galaxy, decided to leave the matter of people.
Mặc Mặc ((,,,,,,,,, - - - - -. the policy of censorship and peace; Set up the School of matrimony, take caste as the purpose.

(2) Quang Kham Venerable Thich Nhat Hanh once declared, "There are real people in the world today, so they are only planning to expand their temples to follow their followers. They do not allow believers to believe the Buddhas in other temples (only believe the Buddha in their temple only!), and believers are only They alone do not honor the other monks. The noble tribe, self-respect, is not still rolling in the circle of fame like ordinary people, living in abundance. In the suffering of the past month, the Buddha Dharma is not reckoned, it is the heart of the people are falling down! " END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.11/1/2018.
Chánh Pháp Là Gì ?


  
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp. Các thời kỳ Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất, nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết định thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và thời kỳ Mat Pháp là 10.000 năm. Trong thời Chánh Pháp (chánh có nghĩa là chứng), mặc dầu Đức Phật đã diệt độ, nhưng Pháp nghi vẫn không thay đổi. Có giáo pháp, có sự hành trì, và có người chứng đắc quả vị--đó gọi là thời kỳ Chánh Pháp, và còn được mệnh danh là thời kỳ "Thiền Định kiến cố". Trong thời Tượng Pháp (tượng có nghĩa là biểu tượng), tuy vẫn có giáo pháp, có sự hành trì, nhưng số người chứng đắc quả vị thì rất ít; thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ "tự miếu kiên cố". Trong thời Mạt Pháp (mạt có nghĩa là suy vi, yếu kém), Phật Pháp trở nên suy tàn, chỉ có giáo pháp chứ không có sự hành trì, và càng không có người chứng đắc quả vị. Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ "đấu tranh kiên cố". Đây là lời giải thích thông thường về ba thời kỳ "Chánh, Tượng và Mạt" của Phật Pháp.
Thế nhưng, Hòa Thượng định nghĩa về Chánh Pháp như sau: 
"Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh giả lợi, không tham của cúng dường — đó chính là Chánh Pháp trụ thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng đến tiền bạc, đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!"
Thậm chí Hòa Thượng còn giảng nghĩa một cách đơn giản hơn nữa: 
"Nếu quý vị có thể không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!".
Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép: "Khi [Pháp] trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp." Trong quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói: "Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt Pháp." Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết Mạt Pháp được xuất hiện trong Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, phần Nguyệt Tạng, và trong Kinh Pháp Diệt Tận. Về sau, thuyết Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN), trong bài văn phát nguyện của Thiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (Nam Nhạc Tư Thiền Sư Lập Thệ Nguyện Văn). Thiền Sư Huệ Tư đã tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác. Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến thế gian này. Đời nhà Tùy (589-618 SCN), Thiền Sư Tín Hành đề xướng "giáo pháp ba giai đoạn" (tam giai giáo) với Nhất Thừa là giai đoạn đầu tiên, Tam Thừa là giai đoạn thứ nhì, và Phổ Pháp (toàn bộ lời dạy của Đức Phật) là giai đoạn thứ ba.
Trong đời nhà Đường (618-905 SCN), Đại Sư Đạo Trác và Đại Sư Thiện Đạo có nói rằng đương thời là đã vào thời Mạt Pháp, và chủ trương "thời giáo tương ưng" (khế hợp giáo pháp với thời đại), khuyến khích người đời tu pháp môn Niệm Phật. Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của Thập Tụng Luật, Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
Năm điều này là:
1. Tôn Trọng Chánh Giáo. Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh mà tiến tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
2. Chỉ Tức Sân Ác (đình chỉ nóng giận và ác độc). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo luôn luôn thực hành hạnh nhẫn nhục, không nóng giận, danh tiếng về đức độ lan xa làm cho mọi người đều quay về và dốc lòng kính ngưỡng; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
3. Kính Sự Thượng Tòa (tôn kính phụng sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
4. Ái Lạc Chánh Pháp (trân quý Chánh Pháp). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo trân quý thâm sâu những điều pháp nghe được từ các bậc thượng tọa, trưởng lão kỳ cựu, và vui mừng thực hành theo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
5. Thiện Hối Sơ Tập (giải thích kỹ càng cho kẻ sơ học). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo phương tiện diễn nói pháp Đại Thừa một cách khéo léo, làm cho những kẻ mới bắt đầu học Phật Pháp có thể dựa vào để tiến tu trên đường Đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
Vào thời Mạt Pháp chúng sanh không thể liên tục phân biệt đuợc chánh tà, đến nỗi nhiều người muốn vào cửa Phật nhưng đã vào lầm cửa mà tu hành. Đó là do họ thiếu "Trạch Pháp Nhãn." Mặc dầu trong thời Mạt Pháp, hiện tượng "mắt cá xen lẫn ngọc trai" [vàng thau lẫn lộn] trong cửa Phật không phải là ít, song nguyện lực của Hòa Thượng rất rõ ràng:
"Tôi nhất định phục hưng Chánh Pháp. Tôi chỉ cho phép Phật Giáo có Chánh Pháp chứ không có Mạt Pháp! Bất cứ nơi nào tôi đến, nơi đó sẽ có phước đức, trí huệ và được giảm bớt tai ương. Đây là nguyện lực của tôi. Do đó, không quản khả năng giới hạn của mình, tôi đi khắp nơi tuyên thuyết Chánh Pháp và hành trì Chánh Pháp."
Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong Kinh Niết Bàn có chép: "Trong thời Mạt Pháp sẽ có mười hai vạn (120.000) vị Đại Bồ Tát trì Pháp, khiến cho bất diệt." Từ đó có thể biết được rằng nguyện lực "không cho phép có Mạt Pháp" của Hòa Thượng há chẳng phải chính là tâm đại từ đại bi của chư Như Lai hay sao?
Hòa Thượng đã cảm khái rằng:
Phật Pháp vị diệt, Tăng tự diệt,
Đạo đức ưng tu, nhân bất tu,
Lão thật chân thành chiêu vật cơ,
Hư ngụy giảo hoạt thọ bao ưu.
Cử thế ngũ trược thanh thậm tiễn.
Chúng sanh tam túy tỉnh vô thu,
Ân cần ký ngữ Tăng thanh bối,
Chấn hưng Phật Pháp tại Tỳ Kheo.
Tạm dịch:
Phật Pháp chưa diệt, Tăng tự diệt,
Đạo đức cần tu, chẳng ai tu,
Thành thật chân chánh, bị chế giễu,
Gian ngoa xảo trá, được tán dương.
Muốn đời Ngũ Trựơc nên tươi sáng,
Chúng sanh tỉnh hẳn ba lần mê,
Ân cần nhắn nhủ Tăng Ni trẻ:
Chấn hưng Phật Giáo cậy Tỳ Kheo!
Trong Phật Giáo không thể có 99%--nếu chỉ một phần nhỏ trong Phật Giáo là giả dối, thì đó không còn là "Chánh Pháp" nữa! Do đó chúng ta phải phân biệt thật rõ ràng, bởi vì trong các chùa chiền đều có cả "tà pháp và ngoại đạo". Phật Giáo có câu: "Thà cả ngàn năm chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo". Nếu chúng ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" (trong Kinh Lăng Nghiêm) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến thuộc của loài ma mà chính mình lại không hay không biết!
Nhân đây, người viết xin giới thiệu bảy điểm rất quan trọng trong việc phân biệt chánh tà:
1. Vị Thầy lấy việc trao đổi chồng vợ, nam nữ hoang dâm, buông thả vô độ, làm mồi nhử để thu hút đồ chúng, và xem như là phương tiện để cứu thế gian; đó là tà.
2. Vị Thầy khơi dậy lòng tham của đồ chúng bằng cách nói rằng mình có thể dùng bùa, chú, và thần tài để giúp họ trở nên giàu có; đó là tà.
3. Vị Thầy khuyến khích trực tiếp hay gián tiếp việc giết hai chúng sanh và ăn thịt chúng sanh, còn nói rằng mình có thể dùng bùa chú để cứu độ vong linh của những chúng sanh bị ăn thịt; đó là tà.
4. Vị Thầy thực hành các loại khổ hạnh kỳ dị, tự làm thương tổn để tác động chúng sanh, và gọi đó là chịu khổ thay cho chúng sanh; đó là tà.
5. Vị Thầy dùng thần thông và các điều kỳ dị làm "công cụ" để thu hút những chúng sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.
6. Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý nghĩa của "tín, giải, tu, chứng," còn tự cho mình là giáo chủ; đó là tà.
7. Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà.

Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Một lần nọ, có một Phật tử hỏi: 
"Hòa Thượng thường nói rằng:
Chân thật nhận lỗi mình,
Không bàn lỗi người khác,
Lỗi người tức lỗi mình,
Đồng thể tức Đại Bi.
Thế nhưng tại sao Hòa Thượng lại thường công khai phê bình, bàn luận thị phi về người khác và đăng trong Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea - nguyệt san của Vạn Phật Thánh Thành)? Như vậy phải chăng là nói một đường, làm một nẻo?"
Hòa Thượng trả lời: 
"Người sẽ bị đọa địa ngục là tôi chứ không phải ông. Nếu những gì tôi nói là đúng sự thật, thì đó không phải là thị phi; nếu không đúng sự thật, thì tôi chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục. Nếu có kẻ nói rằng bậc đại tu hành không bị nhân quả, thì quả báo là 500 đời làm thân chồn (hồ ly).
Nếu tôi chối bỏ nhân quả--gọi đen là trắng, gọi trắng là đen, nói đúng thành sai, nói sai thành đúng - nói những điều không đúng thật, thì tôi sẽ bị đọa địa ngục Bạt Thiệt (rút lưỡi). Nếu tôi không nói sai, thì tôi không có tội.
Mạnh Tử có nói: ‘Ta há phải thích biện luận đâu! Ta cũng bất đắc dĩ đó thôi! Nếu cái đạo của Dương Tử và Mặc Tử không tắt đi, thì cái đạo của Khổng Tử chẳng được sáng rỡ vậy!’ (1)
Tại sao tôi thích nói 'thị, phi’ (điều đúng và điều sai)? Vì trong Phật Giáo có quá nhiều 'thị, phi’!
Lại còn nào là hắc giáo (giáo phái đen), bạch giáo (giáo phái trắng), hoàng giáo (giáo phái vàng), hồng giáo (giáo phái đỏ) ... thảy đều biến thành nhiều màu sắc khác nhau, đến hoa cả mắt. Ngay cả đen cũng không biết mình là đen, trắng cũng chẳng hay mình là trắng. Cho nên, tôi muốn nói ra những điều mà người khác không dám nói; nếu quý vì có ai không hài lòng thì cũng không sao, tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi là kẻ chuyên môn đả phá tà tri tà kiến của người khác!"
Từ đoạn nói chuyện trên, chúng ta có thể thấu rõ được tâm từ bi bao la không đành lòng thấy chúng sanh bị đau khổ của Hòa Thượng. Đó gọi là "đại từ đại bi, gần như tàn nhẫn", và chính là thiện xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh của bậc Bồ Tát. Hòa Thượng có lần viết bài thơ nói lên quyết tâm của Ngài:
"Tôi muốn nói lời thật,
Không sợ bị đánh, chửi.
Giết tôi, tôi chẳng sợ,
Giải thoát, có gì ngại?"
Hòa Thượng Hư Vân đã nói: 
"Nho sĩ là tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật." Ngài còn nhấn mạnh: "Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không phải Lục Quốc vậy."
Trong kinh có nói rằng những biểu hiện suy tàn của thời kỳ Mạt Pháp có thể nhận thấy ở khắp nơi - như việc Tăng sĩ cưới vợ, ni cô lấy chồng, giới y cà-sa được thay bằng y phục thế tục, cư sĩ ngồi trên tòa cao, v.v ... Có cư sĩ Âu Dương Cánh Vô đã dùng tri kiến riêng của mình mà viết ra Lăng Nghiêm Bách Ngụy Thuyết để phản đối Lăng Nghiêm.
Lại có Pháp Sư Viễn Tham nói rằng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Hoa và nhiều kinh khác, cũng như Đại Thừa Khởi Tín Luận đều là giả mạo. Đây chính là những hiện tượng của Thời Kỳ Mạt Pháp.
Hòa Thượng đã nhiều lần lập đi lập lại lời huấn thị về việc bảo vệ và duy trì Chánh Pháp:
"Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng, nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Phàm hễ nơi nào có Kinh Lăng Nghiêm, thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của Thời Kỳ Mạt Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi có nói rằng: 'Vào thời kỳ Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần dần các kinh khác cũng bị diệt theo.' Kinh Lăng Nghiêm là chân thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật. Nếu Kinh Lăng Nghiệm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn đa nguc, không bao giờ được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc Chú Lăng Nghiêm, thì người đó mới là đệ tử chân chánh của Phật!"
Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả Ca Diếp rằng: 
"Trong quá khứ khi Ta là vị vua tên Hữu Đức, để hộ trì Chánh Pháp, Ta đã chiến đấu với những kẻ muốn hủy hoại Chánh Pháp, và đã thiệt mạng. Sau khi chết, Ta được sanh về cõi nước của Phật A Súc Bệ và trở thành đệ tử thượng thủ của Đức Phật đó. Này Ca Diếp! Những người hộ trì Chánh Pháp được quả báo công đức vô lượng như thế. Do nhân duyên hộ trì Chánh Pháp này, mà nay Ta được tướng hảo trang nghiêm và thành tựu được Pháp thân kim cang bất hoại."
"Pháp" tự nó vốn không có "Chánh, Tượng, Mạt"; nhưng tâm con người thì có sự phân biệt về "Chánh, Tượng, Mạt". Theo Hòa Thượng, bất cứ khi nào còn có người dụng công tu hành, thì khi đó là Chánh Pháp còn đang trụ thế.
Nếu không còn ai tu hành, không có người nào đọc, tụng, và học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, thì đó là Thời Kỳ Mạt Pháp. Bởi trong Kinh Lăng Nghiêm, có phần "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối" giảng về sát sanh (sát), trộm cắp (đạo), dâm dục (dâm), dối trá (vọng); với phần "Ngũ Thập Ấm Ma” giảng về thiên ma, ngoại đạo cặn kẽ đến tận xương tuỷ; và cả hai phần này đều nói rất rõ ràng rằng khi nào không còn người giữ giới, thì khi đó là Thời Kỳ Mạt Pháp. Giới còn, tức là Phật Pháp còn vậy!
Vào năm 1990, trong một lần thuyết giảng tại Trung Tâm Lao Công ở Cao Hùng, Đài Loan, Hòa Thượng đã khẩn thiết nói rằng: "Thời Kỳ Mạt Pháp là do những người tại gia chỉ hộ trì cho một người xuất gia riêng lẻ mà tạo thành!". Vì sao lại như thế?
Hòa Thượng giải thích rằng:
"Người xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một cõi. Người tại gia do thiếu Trạch Pháp Nhãn' nên đi theo hộ Pháp cho họ, hộ tới hộ lui, và hộ luôn xuống địa ngục! Vào Thời Kỳ Chánh Pháp, tất cả đại chúng đều sống chung trong một đại tùng lâm của chùa và cùng nhau dụng công tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người ở một chùa riêng - ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi - khiến cho người tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư nầy tướng mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một vị sư khác cũng không tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc là làm cho những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải hoàn tục!"
Hòa Thượng hoàn toàn không phản đối việc xây chùa, nhưng chỉ vì con người ngày nay quá hưởng thụ, không biết lấy Pháp nghĩa và giáo dục (nghĩa lý Phật Pháp và đạo lý giáo dục) để hóa độ chúng sanh. Họ chỉ biết dùng "chùa lớn" để độ chúng sanh, cùng bày ra phương cách để được nổi tiếng và trở nên giàu có.
Cái nhìn của Hòa Thượng về việc xây chùa như sau: 
"Tạo chùa không bằng tạo người, tạo người không bằng tạo Phật. Tôi muốn làm một người thợ đúc tượng. Tôi muốn đúc nên những vị Phật sống, những vị Bồ Tát sống, những vị Tổ Sư sống. Tôi còn muốn làm cho tất cả chúng sanh trên toàn thế giới này đều biến thành những vị Phật sống, Bồ Tát sống, Tổ Sư sống luôn nữa! Tôi đả phá đây không phải là những ngôi chùa lớn, mà là các miếu thờ Thổ Địa, miếu thờ Thành Hoàng, miếu thờ của gia tộc. Khi những người ở chùa nhỏ dọn sang chùa lớn, thì tất cả có thể cùng nhau tu hành, như thế mới là nếp sinh hoạt của một đại tùng lâm. Vì sao ở chùa nhỏ thì không được tốt? Bởi vì ở đó thiếu sự gò bó, câu thúc; không cần phải "quán tự tại", mà có thể ăn tự tại, mặc tự tại, đi đứng tự tại, nên rất dễ quên đi việc tu Đạo. Hàng ngày chỉ biết phan duyên, mà tập khí nầy chính là vết thương trí mạng làm băng hoại Phật Giáo!"
Tôi hy vọng Phật Giáo sẽ ghi lòng tạc dạ những lời này và đừng tiếp tục "bịt tai ăn cắp chuông," dối gạt nhân loại nữa. Hiện nay, các dấu hiệu hỗn loạn trong Phật Giáo tại Đài Loan đã vô cùng nghiêm trọng, có thể nói là đến mức phải báo động rồi; thế nhưng, chẳng có người nào dám đứng ra lên tiếng kêu gọi; mà ai nấy chỉ trố mắt ngồi nhìn cảnh Phật Giáo đang đi dần về hướng diệt vong.
Cách ba bước là có một tịnh xá, đi năm bước là gặp một ngôi chùa lớn – mọi người đều ra sức tổ chức Pháp hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền Pháp, xây chùa..., mà chẳng hay biết gì về việc hoằng dương giáo nghĩa, hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt sanh tử! (2)
Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là giáo dục, làm cho tất cả chúng sanh đều có trí huệ, có Trạch Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng phải một mực chú trọng về việc xây chùa dựng miếu, tổ chức Pháp hội! Chúng ta có bao giờ tự hỏi rằng đằng sau những lời giáo huấn nghiêm khắc này của Hòa Thượng ẩn giấu biết bao máu lệ xót xa?
Như ý nghĩa trong câu “đản năng quang chiếu viễn, bất tích tự phần thân”, Hòa Thượng chỉ muốn ánh sáng từ ngọn đuốc trên tay Ngài soi sáng đuợc càng xa càng tốt, mà chẳng quan tâm đến việc mình bị phỏng! "Dầu gặp muôn vàn khó khăn, tôi vẫn giữ vững ý chí của mình." Đây là lời mô tả chân thật nhất về Hòa Thượng.

Ghi chú của Ban Việt Dịch:
(1) - Mạnh Tử (Mạnh Kha), người đất Châu (372-289 trước Tây lịch), là một nhà hiền triết có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ đạo Nho.
- Dương Tử (Dương Chu), người nước Vệ (khoảng 440-360 trước Tây lich); là một triết gia thời Chiến Quốc; chủ trương thuyết "vị ngã"—chi lo riêng về việc mình mà không hề đếm xỉa đến thiên hạ sự, quyết gạt bỏ ngoài tại chuyện của người.
- Mặc Tử (Mặc Địch), người nước Sở, là một đại học giả thời Chiến Quốc, làm Đại Phu cho nước Tống; chủ trương thuyết kiêm ái và hòa bình; lập ra học phái Mặc Gia, lấy kiêm ái làm chủ đích.

(2) Lão Hòa Thượng Quảng Khâm đã từng khai thị rằng: "Trên thế gian hiện nay, đích thực có những người xuất gia như thế. Họ chỉ mưu tính khuếch trương ngôi chùa của mình cho lớn, chiêu dụ tín đồ theo mình cho đông, để khoe là có khả năng trước mặt mọi người! Họ không cho phép tín đồ kính tin các vị Phật ở những chùa khác (chỉ được tin vị Phật ở chùa của họ mà thôi!); và tín đồ cũng chỉ được tin một mình họ thôi, không được tôn kính những người xuất gia khác. Hạng người cống cao ngã mạn, tự tôn tự đại này, chẳng phải vẫn còn lăn lóc trong vòng danh lợi giống như người tại gia bình thường, sống lây lất trong khổ não qua ngày đoạn tháng sao? Phật Pháp vốn chưa suy vi, chính là lòng người đang suy vi vậy!" HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.11/1/2018.