Wednesday, December 2, 2015

Nếu nêu lên câu hỏi tâm điểm của Phật Giáo là gì thì một số người sẽ bảo rằng đấy là Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế), một số người khác thì lại cho đấy là aniccamdukkhamanatta (tức là Ba Dấu Ấn hay Ba Nguyên Lý Căn Bản của Phật Giáo là aniccam: vô thường, dukkha: khổ đau hay bất toại nguyên, manatta: vô ngã. Tuy nhiên cũng xin ghi nhận thêm là nhiều kinh sách còn đề nghị thêm một dấu ấn thứ tư là nibbanâ hay niết-bàn) và một số người khác nữa thì lại đọc lên vanh vách các câu sau đây:
Sabba pipassa akaranam
Kusalassupasampada
Sacitta Pariyodapanam
Etam Buddhanasasanam
(có nghĩa là : "không nên làm điều xấu, chỉ nên làm điều tốt, tinh khiết tâm thức mình, đấy là cốt lõi giáo huấn của Đức Phật")
Tất cả các câu trả lời trên đây đều đúng, thế nhưng chỉ đúng được một phần, chẳng qua bởi vì mọi người chỉ trả lời một cách thuộc lòng mà quên mất đi là phải tự kiểm chứng bằng kinh nghiệm của chính mình xem có đúng thật như thế hay không.
Để nêu lên cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo tôi chỉ xin nhắc lại với quý vị một câu phát biểu vô cùng đơn giản của Đức Phật: "Không được bám víu vào bất cứ gì cả"Trong kinh Majjhima Nikaya (Trung A Hàm) có thuật lại rằng một hôm có một người bước đến đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu Ngài hãy tóm lược giáo huấn của Ngài bằng một câu thật ngắn gọn, và nếu được thì câu ấy sẽ là gì. Đức Phật đáp lại rằng Ngài có thể làm được việc ấy và đã nói lên câu trên đây: "Sabbe dhamma nalam abhinivesaya" tức là "Không được bám víu vào bất cứ gì cả" ("Sabbe dhamma" có nghĩa là bất cứ gì, "nalam" không được phép, "abhinivesaya" bám víu vào). Đức Phật còn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của câu này bằng cách nói thêm rằng nếu ai được nghe những lời cốt tủy ấy thì cũng có nghĩa là nghe được tất cả giáo huấn, và nếu ai tiếp nhận được quả của việc tu tập ấy (không bám víu vào bất cứ gì) thì cũng có nghĩa là tiếp nhận được tất cả các quả do giáo huấn của Ngài mang lại.
Nếu ai nắm vững được sự thật trong những lời giáo huấn ấy một cách hoàn hảo - tuyệt đối không được bám víu vào bất cứ gì cả - thì người ấy cũng sẽ không còn bị những con vi khuẩn gây ra các thứ bệnh thèm muốn, ghét bỏ và vô minh thâm nhập, đấy là các thứ bệnh đưa đến những hành động sai lầm, dù là trên thân xác, bằng ngôn từ hay trong tâm thức. Chính vì thế, cứ mỗi khi có một hình tướng, một âm thanh, một mùi, một vị, một sự va chạm hay một hiện tượng tâm thần phát hiện, thì kháng thể "không được bám víu vào bất cứ gì cả" sẽ giúp chận đứng ngay được sự lây nhiễm. Vi khuẩn không thể thâm nhập được, hoặc cũng có thể cứ để cho chúng thâm nhập nhằm để dễ tiêu diệt chúng hơn. Dù sao thì vi khuẩn cũng sẽ không thể nào sinh sôi nẩy nở và gây ra bệnh được, bởi vì kháng thể trong người luôn tìm cách tiêu diệt chúng. Thật vậy kháng thể đó có hiệu lực vô song và vĩnh viễn. Và đấy là cốt lõi của giáo huấn Phật Giáo, của tất cả Dhamma. Không được bám víu vào bất cứ gì cả!
Bất cứ ai đã thực hiện được sự thật đó thì cũng có thể xem như đã tạo được cho mình kháng thể giúp hóa giải mọi sự tác hại của căn bệnh tâm linh và khiến cho nó phải chấm dứt. Người ấy sẽ không còn bị căn bệnh làm cho mình phải khổ sở với nó nữa. Thế nhưng đối với trường hợp của một người bình dị không thấu triệt được cốt lõi của giáo huấn của Đức Phật là gì thì hoàn toàn khác hẳn: người này không có một sức đề kháng nào cả.
Đến đây có lẽ quý vị cũng đã nắm vững được ý nghĩa của "căn bệnh tâm linh" là gì và ai là vị lương y chữa khỏi được căn bệnh ấy. Thế nhưng chỉ khi nào ý thức được là mình đang bệnh thì khi ấy mình mới thật sự nghĩ đến việc chữa chạy và sử dụng liều thuốc thích nghi. Nếu chưa ý thức được là mình đang bệnh thì mình vẫn cứ sống nhởn nhơ và đua đòi những gì mình thích. Đấy chẳng khác gì như một người bị lao phổi hay bị ung thư mà cứ lo vui đùa không quan tâm đến việc chữa chạy cho đến một lúc nào đó thì mọi sự đã muộn, người ấy sẽ không sao tránh khỏi cái chết do căn bệnh của mình gây ra.
Không nên vướng vào những chuyện ngu xuẩn đại loại như thế! Phải luôn tuân theo những lời chỉ dạy của Đức Phật: "Không được chểnh mãng. Phải luôn chú tâm thật mạnh". Biết chú tâm thật mạnh thì chúng ta mới nhận ra được là mình đang bị căn bệnh tâm linh hành hạ và từ đó mình mới khám phá ra được đám "vi khuẩn" gây bệnh cho mình. Nếu áp dụng được những điều chỉ bảo trên đây một cách đúng đắn và kiên trì thì nhất định quý vị cũng sẽ tiếp nhận được ngay trong cuộc sống này những điều tốt đẹp nhất mà con người có thể có được.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.

Tuesday, December 1, 2015

The Flower.( THE LOTUS FLOWER ).

While the Buddha gave many spoken sermons after he became enlightened, during one sermon in particular he did nothing but hold up a flower. It is said that upon seeing it, his disciple Mahakasyapa was immediately enlightened. Why did the simple display of a flower have such a profound effect upon Mahakasyapa, and what can we learn from this lesson?
FORM AND FORMLESS
Historical records show that the flower the Buddha held up at the sermon was a lotus flower, which is associated with Buddhism to this day. The lotus is known for its great beauty, but it is also unique in that it requires thick mud and muck in which to extend its roots so that it can grow and eventually yield flowers. It is because of this thick mud and muck - not in spite of it - that the beautiful lotus blooms.
The Flower Sermon was held near a pond during Buddha's later years. When he held up the freshly-picked lotus flower - roots and all, dripping mud - the assembled crowd was silent, not understanding its significance. But after a moment or two, Buddha's disciple Mahakasyapa smiled. He was the only attendee to receive the Buddha's message that day, but the account of The Flower Sermon is remembered and revered in Zen Buddhism even now.
A WORDLESS TRANSMISSION
It is said that when the Buddha saw Mahakasyapa smile, he told the crowd that since he, the Buddha, possessed the true and marvelous mind of Nirvana, the Dharma eye, and the form of the formless, a subtle Dharma Gate that needs no forms or language but is a special energy transmission, he was now entrusting it to Mahakasyapa. Since the Buddha was getting on in years, Mahakasyapa became his successor from that day forward.
What did Mahakasyapa see and experience? What can we learn from a flower? Besides the hope of peace and beauty arising out of suffering (mud and muck), flowers embody both form and the formless at once. They are a wonderful reminder that while all forms can be appreciated, they are fleeting. The formless Oneness of All That Is is ever-present, a field from which everything arises and to which everything returns; the flower and this field are one and the same.
THE ROOTS OF ZEN BUDDHISM
This story is a pillar of the Zen school of Buddhism, which focuses on direct experience rather than dogma or intellectual analysis. Meditation to reach the formless consciousness of Oneness is favored over dwelling too much on doctrines, words or concepts.
The simple act of seeing a flower, bold yet fleeting, was enough to help Mahakasyapa through the "gateless gate." How might meditating upon a flower help you to see the true nature of things?END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/12/2015.
Bài Pháp Thoại Về Hoa Sen.

duc phat
Bài Pháp Thoại Về Hoa Sen

Lời Người Dịch: Trong Thiền Phật Giáo, bài pháp thoại nầy cũng thường được gọi là 'Cầm Hoa Mỉm Cười', hoặc là 'Niêm Hoa Vi Tiếu'.
Sau khi Đức Phật trở thành Bậc Giác Ngộ, ngài đã nói nhiều bài pháp thoại, tuy nhiên, có một bài pháp thoại đặc biệt là ngài không nói gì cả, tay ngài chỉ cầm một bông hoa, rồi ngài giơ tay lên. Người ta đã nói rằng khi người đệ tử của ngài, là Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp nhìn thấy bông hoa, Tôn-Giả đã giác ngộ, ngay lập tức. Tại sao hành động đơn giản của Đức Phật là đưa một bông hoa lên, lại có một ảnh hưởng sâu sắc đến Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp như thế, chúng ta học hỏi được gì từ bài học nầy?
HÌNH-TƯỚNG VÀ KHÔNG-CÓ-HÌNH-TƯỚNG
Ghi chép lịch sử cho thấy rằng, trong bài pháp thoại nầy, bông hoa mà Đức Phật cầm đưa tay lên là hoa sen, là loại hoa mà có liên hệ đặc biệt với Phật Giáo cho đến ngày hôm nay. Hoa sen là loại hoa được biết đến với vẻ đẹp tuyệt vời, tuy nhiên, hoa sen nầy độc đáo ở chỗ là hoa đòi hỏi phải mọc nơi nào có lớp bùn dày, và phân rác dơ bẩn, để cho gốc rễ của hoa sen có thể phát triển tốt đẹp, và cuối cùng là hoa đơm bông. Cho nên, hoa sen nhờ có lớp bùn dày, và phân rác dơ bẩn - điều nầy thì hết sức cần thiết - để chúng ta có được những hoa sen đẹp đẽ.
Bài pháp thoại về hoa sen nầy, đã được Đức Phật thuyết giảng gần một cái ao, vào lúc ngài đã lớn tuổi. Khi Đức Phật giơ hoa sen vừa mới hái lên - cành hoa còn gốc rễ dính bùn đất - nơi đám đông đang tụ họp nghe ngài giảng, các đệ tử chỉ biết im lặng, vì không hiểu ý nghĩa của ngài. Tuy nhiên, sau một hai giây, một người đệ tử của Đức Phật, là Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp mỉm cười. Tôn-Giả là người tham dự duy nhất, đã nhận được thông điệp của Đức Phật vào ngày hôm đó, và câu chuyện pháp thoại về hoa sen nầy đã được ghi nhớ, và được tôn kính trong Thiền Phật Giáo cho đến ngày hôm nay.
SỰ TRUYỀN-PHÁP KHÔNG-CÓ-LỜI
Người ta nói rằng khi Đức Phật thấy Tôn Giả Đại Ca Diếp mỉm cười, ngài nói với đám đông rằng, Đức Phật đã có chân tâm và tâm kỳ diệu của Niết Bàn, ngài có cặp mắt Pháp (Pháp Nhãn), và ngài không-có-hình-tướng (vô tướng), ngài xử dụng Cửa Truyền-Pháp vi-tế mà không-cần phải qua cách-thức, hoặc là qua ngôn-ngữ, do đó, ngài chỉ cần truyền-pháp qua năng-lực đặc-biệt, và bây giờ ngài giao-phó việc làm nầy cho Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp. Lúc nầy Đức Phật đã già, cho nên ngài chọn Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp là người nối-nghiệp của ngài, kể từ ngày hôm đó.
Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp đã thấy, và hiểu biết điều gì? Chúng ta có thể học hỏi điều gì từ một bông hoa? Hoa sen là niềm hy vọng về hòa bình, là sự đẹp-đẽ phát-sinh ra từ nơi chốn đau-khổ (bùn và phân rác), bên cạnh đó, những hoa sen còn biểu-hiện cho cả hai dạng có-hình-tướng, và không-có-hình-tướng cùng một lúc. Những hoa sen nầy là một lời nhắc nhở tuyệt vời, dù cho chúng ta trân quý mọi hình-tướng, tuy nhiên, mọi hình-tướng chỉ là phù du, thoảng qua rồi mất. Bản-Chất Thật-Sự Của Mọi Sự-Vật (Chân-Tâm Của Mọi Người, hoặc là Phật-Tánh Của Mọi Người) thì không-có-hình-tướng, luôn luôn có-mặt, một cõi mà mọi sự-vật từ đó biểu-hiện, và cũng là một cõi mà mọi sự-vật trở về; hoa sen và cõi nầy là một, vì giống như nhau.
NGUỒN GỐC CỦA THIỀN PHẬT GIÁO
Câu chuyện nầy là cột trụ của dòng Thiền Phật Giáo, câu chuyện nầy tập trung vào kinh nghiệm trực tiếp, không qua giáo lý, hoặc là không qua sự phân tích trí tuệ. Thiền định để đạt được cái-biết về Chân-Tâm (Phật Tánh) không-có-hình-tướng thì được ưa chuộng, hơn là dựa quá nhiều vào giáo-lý, vào lời nói, hoặc là vào khái niệm.
Nhìn thấy hoa sen là một hành động thật đơn giản, nổi bật, nhưng phù du vì thoảng qua rồi mất, tuy nhiên, cũng đủ để giúp cho Tôn-Giả Đại-Ca-Diếp đi qua "cửa Không" (cổng Thiền thì không-có-cửa). Chúng ta cần phải thiền định như thế nào về một hoa sen, để giúp cho chúng ta nhìn thấy bản-chất thật-sự của mọi sự-vật?  HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/12/2015.
No-self" and to "outlaw" reasonable?
             

Buddha says: 'Monks, what human identity, past, future, present, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, must be consistent with the right knowledge as truth as follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self." 

Selflessness is the concept describes the nature of reality. By the wisdom of the Buddha clearly see the nature of all phenomena (Buddhist scriptures called the law) is selfless, that man and the world is not the nature (no fixed nature, inherent), Can not free (no specific entity, inherent, not himself survive), conditioned by birth (formed from many conditions, factors), heterogeneity (always in a state of change, become different from the previous ones). Therefore in man nor a self-employed butcher (has jurisdiction, incorrect use), without a soul eternal, immutable. This is the truth, the truth of reality, the world and man which the Buddha found by a surrealistic insight rather than hypothetical, is not what the Buddha by thinking and imagining.

Selfless reasons the Buddha made it very clear in doing anattà Lakkhana Sutta (Discourse on or trading year under the economic III Saṁyutta equivalent of No. 5 in the Journal A jaw):

I heard something like this: One of the Buddha in Sarnath (Isipatana Migandhana), Banaras (Benares).

At that time the Buddha told the five bhikkhus (this time the five men were ordained to the Buddhist monks called them) that: 

- Hey Monks, this identity is selfless. If color is down, the color can not lead to suffering, and can expect that my identity is like this, my identity is not like this. This Monks, because identity is selfless, so great and lead to suffering can not expect that my identity is like this or my identity is not like this. 

- (Tho, perception, consciousness, similar to that). This, monks, feeling, perception, and consciousness is not self. If feeling, perception, and consciousness is down, the feeling, perception, and consciousness can not lead to suffering, and can expect that feeling, perception, volition, my understanding is like this, and hope that life, perception, my knowledge is not like this. Because of feeling, perception, and consciousness is selfless, so feeling, perception, volition, consciousness leads to suffering and can not expect that feeling, perception, and consciousness of me like this, and hope that feeling, perception, volition , my understanding is not like this.  

- Hey monks, the monks thought how, color is permanent or impermanent?
- Buddha, is impermanent.
- What is impermanent is suffering or pleasure?
- Buddha, is suffering.
- What is impermanent, suffering and subject to variable necrosis, have reasonably affordable when the shop was: This is mine, this is mine, this is my self?
- Buddha, no.
- Life, perception, consciousness is permanent or impermanent?
- Buddha, is impermanent.
- What is impermanent is suffering or pleasure?
- Buddha, is suffering.
- What is impermanent, suffering and subject to variable necrosis, have reasonably affordable when the shop was: This is mine, this is mine, this is my self?
- Buddha, no?
 
Therefore, the monks, what mortal identity, past, future, present, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, must be consistent with the right knowledge as true as follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self."
- What life whatsoever, nothing great, nothing issue, what form, past, present, future, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, must be as real as consistent with the right knowledge follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self."
- Hey monks, in fact, the Holy multicultural boring disciples to form, feeling, perception, and consciousness. Due to the boring, he dispassion, dispassion as he freed. When he knew that liberation was liberation. In place of liberation arises: "I have been liberated." He knew: Students took advantage, dignity, succeeded, to do done, no longer come back to this state again.    
Bhagavan such theories, five monks followers happy life Bhagavan taught words. While this teaching is to say, five monks were freed of defilements, no attachments. 

First Buddha declared to us that each factor contributes to human (physical body and psychological) as form, feeling, perception, knowledge which has no certain nature, inherent (wealth sabhava), no separate entities, heterogeneous (when like this, such as other, are constantly changing, depending on the conditions changed karmic), which means sharp selfless, selfless life , great selfless, selfless acts and selfless form. Lust is the physical body, life is sensation, perception is perception (flashback function, compare, compare and sort the images that receive mode to experience, knowledge, put to the concept) , acts as willpower, behavior, habits-habits, consciousness is aware through the senses eyes, ears, nose, tongue, body and mind (like mirror images), each of these elements which are not may fall (sovereign, soul) in it, each component also is not self (identity not fall and no fall in it; life is not falling and there is no fall in it; perception, same form). By themselves, each component can not exist, but it exists only by taking on other elements (relational interdependence), itself has no ego, not the ego, hence the five elements to this (five aggregates or psycho-physical body of man) course selflessness. By the selflessness it very often, or it may say so ephemeral that it self. Impermanence and selflessness are characteristics of reality only. Impermanence is characteristic in terms of time or on a phenomenon, selflessness is characteristic in terms of space or in nature. 

From the "selfless" in Pali is "anatta", where "Na" means "no" and "Atta" means "down". Font Atta (down) means two things: 1. I, I (personal pronoun first person singular refers to himself). 2. Is a noun means: Nga (I, I), the self, the soul (usually longer invisible entity in each existing forever, an eternal entity, permanent invariable). When transmitted to Chinese texts, the translators translated as "non-self" (no self) or "non-self" (not down).

"Fall" here means masters, sovereignty or self, an immortal soul (still exist after man dies snap some religious concepts and beliefs), is a real can exist independently, invariant and have ownership, has jurisdiction. Buddha said "Lust selflessness" means no ego identity (without sovereignty, self, soul) in it, not the fall colors. Feeling, perception, volition, consciousness and self.

After declaring: "Hey monk, color (sensation, perception, and consciousness) is selfless," Buddha explains: Because "if color (sensation, perception, and consciousness) is down, then excellent (sensation, perception, and consciousness) does not lead to suffering, and can expect excellent (sensation, perception, and consciousness) of me is like this, excellent (sensation, perception, and consciousness) my not like this. This Monks, because color (sensation, perception, and consciousness) is selfless, so great (sensation, perception, and consciousness) leads to suffering and can not expect excellent (sensation, perception, and consciousness) I mean like this, expect excellent (sensation, perception, and consciousness) of me not like this. "  

Hop to the five aggregates (form, feeling, perception, consciousness) or the physical body and the human psychological element no matter how spiritual or no self at all. If identity (the physical body) have the desired intersection may not change color, turning septic (not bad, not old, not dead, not sick ...). Because no sharp fall in it, fall color is not so color can not desire such as this one or others. People can not desire ageless physical body, not living forever dead, ill health forever, always beautiful but not bad ...). Similarly, because feeling (feeling) is selfless, so life is always changing: the sad, the happy, the suffering, the happiness, the comfort, the discomfort and so on. 

Humans can not feel any desire exists forever or desire to feel happy fun joy without sorrow. The feeling appears depending on the condition of conditions, including relations with the other components of the body, physical and human psychology (the feeling appears, then survive long or short changed, these feelings to some degree also influenced the impact of the physical body, the perception (idea), the will (act), cognitive (knowledge). And the perception (idea), the will (act), cognitive (knowledge) is selfless, so they are always changing, no permanent immutable, can not wish them like this or like that other, also can not expect them to last forever without change.

Next Buddha: What is impermanent, suffering and subject to damage variable is not reasonable when the shop was of me, are you, are self or my soul. Form, feeling, perception, volition, consciousness is impermanent, suffering and subject to the variable damage, so be consistent: That was not mine, that was not me, that was not the self or soul dozen.

Finally Buddha asserts again: "All what color, what life, what ideas, what issue, what form, past, present, future, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, must be consistent with the right knowledge as true as follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self." This being said, not only does not have the ego in man five aggregates, which in addition to the five aggregates man nor any self. Because "form, feeling, perception, knowledge or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near so. are not of me, not me, not my ego ", this meant that: 1. Personnel five aggregates no self or soul is outside the body (Some people think have a soul, the self within the body but also the soul of people think, the self that may be located inside or outside the body, such as when people die, for example, then fly out soul body) 2.Tha's (other people, not me), other beings and all the phenomena are no ego, no self, no soul, all are also selflessness, impermanence (Myth normal that each person has a soul, a separate self, mammals too, of the phenomena, too, are calculated and separate. The Buddha said that such notions are false wrong, wrong with the truth, because form, feeling, perception, and consciousness are five factors that make up the beings and all the other phenomena, which form, feeling, perception, knowledge that is selfless, impermanent).
  
Later Buddhism Development (Mahayana) construct philosophical emptiness (not counted) developed theory of Evolution count (*), Radio selfhood that Buddha taught. Philosophy calculated No mention of "selfless person" (no-self in man) called Born's not or not and "selfless approach" (selflessness where the phenomena outside human-objective world and selflessness where the views, opinions, theories, ideological doctrine, the practice ...), known as the French do not. 

Buddhism Development said that the holy monk witness only arahatship selfless witness (who does not), no proof of selflessness legal (not legal), which should still see the practice, that is legal subjects gallows. Hence the need to continue to practice selflessness factual or legal. However if carefully studied and found this ridiculous point. Mind saints Arhat the heart of non-discrimination, equality, such as, no longer human, falls, tough, try then do have something found legal subjects or objective world outside oneself, ie that there I (ego) with reference to the measures, see I (a self-entity) exist separately from the law? The body he has proof of what the Buddha taught, was accomplished selfless wisdom: Matter, feeling, perception, consciousness is selfless, so how can he still say the measures approved (the organic law enforcement down, seeing a bogus unrealized selfless approach). The approach as just that form, feeling, perception, knowledge alone. The world of phenomena from physics to psychology, from the physical to the spiritual are not out of form, feeling, perception, consciousness (the five aggregates). 

Apart form, feeling, perception, wake up, nothing more. So when the Buddha said selflessness (Originally in business) was told that nothing's selflessness and self (Buddha said form, feeling, perception, and consciousness are selfless); Buddha said or Dependent Origination said human birth is not legal and not. Arhat is the results have totally liberated ultimate liberation, "to do done, no longer back this state anymore (not recycled back to this world again)" (Word of the Buddha says in primitive about Arahats results). The Arahat be called holy Buddha uneducated, because no longer need to learn more, he has done the job to do, an end unless all is accepted, crazy idea, make an end to ignorance or, not still samsara.

Precisely at the latter part of texts Anatta thoughts, Buddha also says: 'Monks, what human identity, past, future, present, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or close, must be consistent with the right knowledge as true as follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self."
- What life whatsoever, nothing great, nothing issue, what form, past, present, future, either internal or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, must be as real as consistent with the right knowledge follows: "This is not mine, this is not me, this is not my self."
Thus was too obvious, when saints as true disciples right knowledge consistent with the following: "This (form, feeling, perception, knowledge or external, gross or subtle, inferior and superior, far or near, in the past, the present or the future ...) is not my (ta), not me, not my ego, "he was also accomplished selfless wisdom, or, to Buddha Teacher Development is evidence Prajna mind, then he no longer clinging rightly and no longer craving (boring, dispassion), he freed, "When he knew that liberation was liberation. In place of liberation arises: "I have been liberated." He knew: Students took advantage, dignity, succeeded, to do done, no longer come back to this state again ", this is similar to the Heart Sutra says," renunciation crazy fantasies , Nibbana ". END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN =GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/12/2015.
Vô ngã" còn phải "Vô pháp" chăng?
            

Đức Phật cũng dạy: “Này các tỳ kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. 

Vô ngã là khái niệm diễn tả bản chất của thực tại. Bằng tuệ giác đức Phật thấy rõ bản chất của mọi sự vật hiện tượng (kinh Phật gọi là các pháp) là vô ngã, tức con người và thế giới là không có tự tính (không có bản chất nhất định, cố hữu), không có tự thể (không có thực thể nhất định, cố hữu, không tự mình tồn tại), do duyên sinh (hình thành từ nhiều điều kiện, yếu tố), không đồng nhất (luôn trong tình trạng thay đổi, trở thành cái khác với trước đó). Vì thế cho nên ở con người cũng không có một cái ngã làm chủ tể (có quyền quyết định, sai sử), không có một linh hồn thường hằng, bất biến. Đây là sự thật, là chân lý về thực tại, về thế giới và con người mà đức Phật thấy được bằng tuệ giác siêu thực chứ không phải là giả thuyết, không phải là điều do đức Phật tư duy và tưởng tượng ra.

Lý vô ngã được đức Phật nói rất rõ trong kinh Anatta Lakkhana sutta (kinh Vô ngã tưởng hay kinh Năm vị thuộc Tương ưng bộ kinh III, tương đương kinh số 5 trong Tạp A hàm):

Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn ở trong Lộc uyển (Isipatana Migandhana), thành Ba la nại (Benares).

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nói với năm thầy tỳ kheo (lúc này năm vị đạo sĩ đã xuất gia nên Phật gọi họ là tỳ kheo) rằng: 

- Này các tỳ kheo, sắc này là vô ngã. Nếu sắc là ngã, thời sắc không thể dẫn đến khổ não, và có thể mong rằng sắc của tôi là như thế này, sắc của tôi không phải như thế này. Này các tỳ kheo, vì sắc là vô ngã, nên sắc dẫn đến khổ não và không thể mong rằng sắc của tôi là như thế này hay sắc của tôi không phải như thế này. 

- (Thọ, tưởng, hành, thức, cũng tương tự như thế). Này các tỳ kheo, thọ, tưởng, hành, thức là vô ngã. Nếu thọ, tưởng, hành, thức là ngã, thời thọ, tưởng, hành, thức  không thể dẫn đến khổ não, và có thể mong rằng thọ, tưởng, hành, thức của tôi là như thế này, hay mong rằng thọ, tưởng, hành, thức của tôi không phải như thế này. Vì thọ, tưởng, hành, thức là vô ngã, nên thọ, tưởng, hành, thức dẫn đến khổ não và không thể mong rằng thọ, tưởng, hành, thức của tôi như thế này, hay mong rằng thọ, tưởng, hành, thức của tôi không phải như thế này.  

- Này các tỳ kheo, các thầy nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Bạch Thế Tôn, là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
- Bạch Thế Tôn, không.
- Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Bạch Thế Tôn, là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
- Bạch Thế Tôn, không?
 
Do vậy, này các tỳ kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
- Phàm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
- Này các tỳ kheo, thật vậy, đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát. Khi giải thoát vị ấy biết rằng đã giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy  biết rõ: Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại với trạng thái này nữa.    
Thế Tôn thuyết như vậy, năm vị tỳ kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, năm vị tỳ kheo được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ. 

Đầu tiên đức Phật tuyên bố cho chúng ta biết mỗi nhân tố góp phần làm nên con người (cơ thể vật lý và tâm lý) như sắc, thọ, tưởng, hành, thức vốn không có bản chất nhất định, cố hữu (vô tự tính), không có thực thể riêng biệt, không đồng nhất (khi như thế này, khi như thế khác, luôn luôn biến chuyển, đổi khác tùy thuộc điều kiện nhân duyên), có nghĩa là sắc vô ngã, thọ vô ngã, tưởng vô ngã, hành vô ngã và thức vô ngã. Sắc là phần cơ thể vật chất, thọ là cảm giác, tưởng là tri giác (chức năng hồi tưởng, so sánh, đối chiếu, sắp xếp những hình ảnh mà thức tiếp nhận để kinh nghiệm, hiểu biết, đặt để khái niệm), hành là ý chí, hành vi, tập khí-thói quen, thức là nhận biết qua các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (giống như tấm gương phản chiếu hình ảnh), mỗi thành tố này vốn không có ngã (chủ tể, linh hồn) trong nó, mỗi thành tố này cũng không phải là ngã (sắc không phải ngã và cũng không có ngã trong nó; thọ không phải ngã và cũng không có ngã trong nó; tưởng, hành, thức cũng thế). Tự bản thân mỗi thành tố không thể tồn tại, mà nó chỉ tồn tại nhờ nương vào các thành tố khác (quan hệ tương thuộc), tự thân nó không có ngã, không phải là ngã, vì thế hợp thể năm thành tố này (thân ngũ uẩn hay cơ thể tâm-vật lý của con người) tất nhiên là vô ngã. Bởi vô ngã nên nó vô thường, hoặc cũng có thể nói do vô thường mà nó vô ngã. Vô thường và vô ngã đều là đặc tính của thực tại mà thôi. Vô thường là đặc tính về phương diện thời gian hay về mặt hiện tượng, vô ngã là đặc tính về phương diện không gian hay về mặt bản chất. 

Từ “vô ngã” trong tiếng Pàli là “Anatta”, trong đó “Na” có nghĩa là “không” và “Atta” có nghĩa là “ngã”. Chữ Atta (ngã) có hai nghĩa: 1.Tôi, ta (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít dùng để chỉ chính mình).  2.Là một danh từ có nghĩa:  Ngã (tôi, ta), tự ngã, linh hồn (thực thể vô hình thường còn mãi mãi trong mỗi hiện hữu, một thực thể vĩnh cửu, thường hằng bất biến). Khi bản kinh truyền sang Trung Hoa, các dịch giả dịch là “vô ngã” (không có ngã) hay “phi ngã” (chẳng phải ngã).

“Ngã” ở đây có nghĩa là chủ nhân ông, chủ tể hay một tự ngã, một linh hồn bất diệt (vẫn tồn tại sau khi con người chết đi -theo quan niệm một số tôn giáo, tín ngưỡng), là một thực thể tồn tại độc lập, bất biến và có quyền làm chủ, có quyền quyết định. Đức Phật nói “Sắc vô ngã” có nghĩa là sắc không có ngã (không có chủ tể, tự ngã, linh hồn) trong nó, sắc không phải là ngã. Thọ, tưởng, hành, thức cũng vô ngã.

Sau khi tuyên bố: “Này các tỳ kheo, sắc (thọ, tưởng, hành, thức) này là vô ngã”, Đức Phật đã giải thích: Bởi vì “nếu sắc (thọ, tưởng, hành, thức) là ngã thì sắc (thọ, tưởng, hành, thức) không dẫn đến khổ não, và có thể mong rằng sắc (thọ, tưởng, hành, thức) của tôi là như thế này, sắc (thọ, tưởng, hành, thức) của tôi không phải như thế này. Này các tỳ kheo, vì sắc (thọ, tưởng, hành, thức) là vô ngã, nên sắc (thọ, tưởng, hành, thức) dẫn đến khổ não và không thể mong rằng sắc (thọ, tưởng, hành, thức) của tôi là như thế này, mong rằng sắc (thọ, tưởng, hành, thức) của tôi không phải như thế này”.  

Hợp thể ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hay thân thể vật lý và tâm lý của con người không có thành phần vật chất hay tinh thần nào có ngã cả. Nếu sắc (thân thể vật chất) có ngã thì có thể mong muốn sắc không thay đổi, biến hoại (không xấu, không già, không chết, không bệnh hoạn…). Chính vì sắc không có ngã trong nó, sắc không phải là ngã cho nên không thể mong muốn sắc như thế này hay như thế khác. Con người không thể mong muốn sắc thân trẻ mãi không già, sống hoài không chết, khỏe mãi không ốm đau, luôn đẹp mà không xấu…). Cũng tương tự, vì thọ (cảm giác) là vô ngã cho nên thọ luôn thay đổi: khi buồn, khi vui, khi khổ đau, khi hạnh phúc, khi thoải mái, khi khó chịu v.v.. 

Con người không thể mong muốn bất kỳ cảm giác nào tồn tại mãi mãi hoặc mong muốn chỉ có cảm giác hạnh phúc sướng vui mà không đau khổ. Các cảm giác xuất hiện tùy thuộc vào các điều kiện nhân duyên trong đó có các quan hệ với những thành phần khác trong cơ thể vật lý-tâm lý con người (các cảm giác xuất hiện, tồn tại lâu hay mau rồi thay đổi, các cảm giác ở mức độ nào còn chịu sự ảnh hưởng, tác động của sắc thân, tri giác (tưởng), ý chí (hành), nhận thức (thức). Và tri giác (tưởng), ý chí (hành), nhận thức (thức) cũng vô ngã luôn cho nên chúng luôn thay đổi, không thường hằng bất biến, không thể mong muốn chúng như thế này hay như thế khác, cũng không thể mong muốn chúng tồn tại vĩnh viễn mà không thay đổi.

Kế đến đức Phật dạy: Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại thì không hợp lý khi quán cái ấy là của ta, là ta, là tự ngã hay linh hồn của ta. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, cho nên phải quán: Cái ấy không phải của ta, cái ấy không phải là ta, cái ấy không phải là tự ngã hay linh hồn của ta.

Sau cùng đức Phật lại khẳng định một lần nữa: “Phàm sắc gì, thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Điều này nói lên rằng, không chỉ không có cái ngã nào nơi con người năm uẩn, mà ngoài con người năm uẩn cũng không có cái ngã nào. Bởi vì “sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần v.v.. đều không phải là của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”, điều này muốn nói rằng: 1.Con người năm uẩn không có cái ngã hay linh hồn nào nằm ngoài thân thể (Có người nghĩ rằng có một linh hồn, tự ngã nằm trong thân thể nhưng cũng có người nghĩ rằng linh hồn, tự ngã đó có thể nằm trong hoặc ngoài thân thể, như khi con người chết chẳng hạn, lúc đó linh hồn bay ra ngoài thân thể)  2.Tha nhân (người khác, không phải là mình), chúng sinh khác và mọi sự vật hiện tượng đều không có ngã, không có tự ngã, không có linh hồn, tất cả cũng đều vô ngã, vô thường (Quan niệm thông thường cho rằng mỗi người có một linh hồn, một tự ngã riêng biệt, loài thú cũng vậy, các sự vật hiện tượng cũng vậy, đều có tự tính, tự thể riêng biệt. Đức Phật cho rằng quan niệm như thế là sai lầm, không đúng với sự thật, bởi vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm yếu tố làm nên chúng sinh và mọi sự vật hiện tượng khác, mà sắc, thọ, tưởng, hành, thức đó cũng vô ngã, vô thường).
  
Về sau Phật giáo Phát triển (Mahayàna) xây dựng triết lý tính Không (Không tính) khai triển lý Duyên sinh tính(*), Vô ngã tính mà Đức Phật đã chỉ dạy. Triết lý tính Không đề cập đến “nhân vô ngã” (vô ngã nơi con người) gọi là Nhân không hay Sinh không và “pháp vô ngã” (vô ngã nơi sự vật hiện tượng bên ngoài con người-thế giới khách quan và vô ngã nơi các quan điểm, ý kiến, lý thuyết, học thuyết tư tưởng, pháp môn tu tập…), gọi là Pháp không. 

Phật giáo Phát triển cho rằng người tu chứng thánh quả A la hán chỉ mới chứng nhân vô ngã (nhân không), chưa chứng pháp vô ngã (pháp không), cho nên vẫn còn thấy có pháp tu, thấy các pháp môn tu là thật có. Vì thế cần phải tiếp tục tu tập để chứng pháp vô ngã hay pháp không. Tuy nhiên nếu nghiên cứu kỹ thì thấy quan điểm này vô lý. Tâm các vị thánh A la hán là tâm vô phân biệt, bình đẳng nhất như, không còn nhân, ngã, bỉ, thử thì làm gì có chuyện thấy có pháp môn tu hoặc thế giới khách quan ngoài con người mình, tức thấy có ta (ngã) đối chiếu với các pháp, thấy có ta (một tự thể, thực thể) tồn tại riêng biệt với các pháp? Các vị ấy đã thân chứng những gì Đức Phật dạy, đã thành tựu tuệ giác vô ngã: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô ngã, như thế sao có thể nói các vị ấy còn pháp chấp (chấp pháp là hữu ngã, thấy có thật pháp, chưa chứng pháp vô ngã). Các pháp chẳng qua cũng chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thôi. Thế giới sự vật, hiện tượng từ vật lý cho đến tâm lý, từ vật chất cho đến tinh thần đều không ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức (ngũ uẩn). 

Ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra thì không còn gì khác nữa. Vì thế khi đức Phật nói vô ngã (trong các kinh Nguyên thuỷ) chính là đã nói nhân vô ngã và pháp vô ngã (đức Phật nói sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô ngã); Đức Phật nói Duyên khởi hay Duyên sinh chính là đã nói nhân không và pháp không. A la hán là quả vị đã hoàn toàn giải thoát, giải thoát tối hậu, “việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa (không còn tái sinh trở lại cõi đời này nữa)”(Lời đức Phật nói trong kinh nguyên thủy về quả vị A la hán). Các bậc A la hán được đức Phật gọi là thánh vô học, vì không còn cần phải học nữa, các vị ấy đã làm xong việc cần làm, dứt trừ mọi kiến chấp, điên đảo tưởng, đoạn tận vô minh lậu hoặc, không còn sinh tử luân hồi.

Chính ngay phần sau của bài kinh Vô ngã tưởng, đức Phật cũng dạy: “Này các tỳ kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
- Phàm thọ gì, tưởng gì, hành gì, thức gì, quá khứ, hiện tại, vị lai, hoặc trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
Như vậy đã quá rõ ràng, khi vị thánh đệ tử như thật quán với chánh trí như sau: “Cái này (sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, trong quá khứ, hiện tại hay vị lai…) không phải là của tôi (ta),  không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”, cũng chính là vị ấy thành tựu tuệ giác vô ngã, hay nói theo Phật giáo Phát triển là chứng trí Bát nhã, thì vị ấy không còn chấp thủ ngũ uẩn và không còn tham ái (nhàm chán, ly tham), vị ấy giải thoát, “Khi giải thoát vị ấy biết rằng đã giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại với trạng thái này nữa”, điều này tương tự như Bát nhã Tâm kinh nói: “viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn”. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/12/2015.
The status of the unknown worker.
-See what the present is not random, which is the cause of it.

-Understand things would bring happiness or suffering.
-Non-stick stuck on whether human human human happiness or misery.
-Find out where that human have?
-Know the multiply and destroy the human just budding.
-Human beings are aware of the suffering and extermination by wisdom.
-Aware of human happiness and not be trapped by the intellect.
-Happy forever in the circumstances.
-Not only knows the face of suffering, but also to know the face of happiness.
-When the mind suffering being up this Center, pull in all the other miseries, heart happy birth center when Centers pull up under all the other happy heart.
-The birth of French workers are up, when he was human then the other.
-A cloud of forest burned not by a huge fire that caused by very small missiles spotted a place.
-Practice mindfulness to extinguish small fires, fire precautions to.
France Monday: The status of the unknown result.
-His work never takes the fastest, the result will return for themselves depending on his behavior.
-Learn your multiplication was created to clearly see results come from.
-Fear the current results that mirror that avoid these career didn't heal to from the result.
-Use the intelligence of human beings see oan left and result of the cause resentment ... left, whitewash
-Using the patient as weapons to metabolic oan resentment left enemies, bear all consequences caused by people or themselves have created.
-Living in misery is out every detail to complete the rescue.
-Human beings Know what human right and destroy him, and know the result of frightened that results should not dare to create career called know results.
France Tuesday: The status of the person who knows yourself.
-To know someone in the class society.
-Real thoughtful thoughts before practice.
-To the amount of effort and his mind, knows the laws, the level of his school, and tu say having mindfulness, so new security was everywhere.
-Know More as courtesy to adults, made few small guys follicle compassion, not for fear that because the know yourself.
-.Spend metabolic heart and ego, just a humble ink supply is the person who knows really.
-Know yourself as an achievement, the always fun, it does not create the oan left, do not compete and know what is enough, called tri.
-Observe view has enough in basic, it's solid faith, learn more out wide, practice, practice to let go, and cultivate the intellect.
-Always acting, speaking, thinking the things heal, bring happiness to ourselves and society.
France Wednesday: The status of who knows what speed.
-Know the moderation in the use of money and time.
-Use the money to do the work, serve the parents, help bereaved and share the deprivation.
-Use the time to learn, learn to live happily, learn to make his own physician.
France Thursday: The status of the person who knows the time.
-Use time of living in a reasonable manner to every second of all contact with the living.
-Listen to the sermon, fix errors and claims will be happy.
-Learn to never be enough should keep studying, recalling the Buddha's teachings and practice the mind quiet.
-Learn all the blessings and well kept under, and encourage others to practice happiness such as yourself.
-French conversation sessions, discussion leader, close ranks and invites the friendly practice reviews of the quality of the monastery itself.
-Teach his mind NET security anywhere, anytime.
-Get in s ch as the basis; maintenance and take part in meditation are two methods of doing a clean mind.
-Practice mindfulness and meditation, hone your memory and wisdom.
-Always remember everything going on inside and outside in the present moment, and using the slide show consistent intelligence.
France on Friday: The status of the person who knows the mass goods.
-Know the public has many different people class, should also conduct according to the class that changed.
-Satisfaction of people and bring happiness to people, thought this is something that people constantly think. implementation of tu
-Although reviled or beaten, although being deported, or whitewash jaw still a compassionate practice squid rings, humbled and chemical levels.
France on Saturday: The status of the people know who to close (You).
-Select you as important, should choose who know or probably yes.
-Choose fresh, whether it is you who is the class, which would in society, don't have a degree, just major leg action, words mindfulness, thinking and fresh ideas.
-Observe carefully the people near him to entrust the responsibility.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/12/2015.
Kinh Bảy Pháp Thiện Tri Thức.
Pháp thứ nhất: Tư cách của người biết rõ nhân.
- Gặp những gì trong hiện tại không phải ngẫu nhiên, mà có nguyên nhân của nó.
- Hiểu rõ sự vật nào mang đến hạnh phúc hay khổ đau.
- Không dính mắc vào nhân dù là nhân hạnh phúc hay nhân khổ đau.
- Tìm hiểu nhân nơi đâu mà có?
- Biết rõ cái nhân và diệt ngay cái nhân vừa mới chớm nở.
- Nhận thức được nhân sanh khổ đau và diệt bằng trí tuệ.
- Nhận thức được nhân hạnh phúc và không bị dính mắc bằng trí tuệ.
- Hạnh phúc mãi mãi trong các hoàn cảnh.
- Không chỉ biết rõ bộ mặt của khổ đau mà còn phải biết rõ gương mặt của hạnh phúc.
- Khi tâm khổ đau sanh lên, tâm này kéo theo tất cả các tâm khổ đau khác, khi tâm hạnh phúc sanh lên, tâm này kéo theo tất cả các tâm hạnh phúc khác.
- Các pháp sanh lên đều do nhân, khi nhân ấy bị diệt thì các pháp khác cũng diệt.
- Một đám rừng bị thiêu rụi không phải bởi một ngọn lửa khổng lồ mà do nơi một đốm lửa rất nhỏ.
- Thực tập chánh niệm để dập tắt đám lửa nhỏ, đề phòng đám lửa to.
Pháp thứ hai: Tư cách của người biết rõ quả.
- Việc làm của mình không bao giớ mất, quả sẽ trả lại cho mình tùy theo hành vi của mình.
- Tìm hiểu nhân của mình đã tạo để thấy rõ quả từ đâu đến.
- Kinh sợ quả hiện tại lấy đó làm gương mà tránh những nghiệp chẳng lành để khỏi quả vị lai.
- Dùng trí tuệ nhìn thấy nhân sanh oan trái và quả của sự gây oan trái, oán thù.
- Dùng nhẫn nại làm vũ khí để chuyển hoá oan trái oán thù, nhận chịu mọi hậu quả do người gây ra hay bản thân đã tạo.
- Sống vui trong đau khổ là giải thoát từng chi tiết đến giải thoát hoàn toàn.
- Biết nhân sanh và diệt ngay cái nhân ấy, đồng thời biết quả khổ của nhân nên kinh sợ quả ấy mà không dám tạo nghiệp gọi là biết quả.
Pháp thứ ba: Tư cách của người biết rõ mình.
- Biết mình là hạng người nào trong xã hội.
- Suy nghĩ thật chu đáo trước khi thực hành.
- Phải lượng sức và tài trí của mình, biết rõ luật lệ, trình độ tu học của mình, và phải nói năng có chánh niệm, như vậy mới an toàn được mọi nơi.
- Càng biết mình càng nhã nhặn lễ phép với người lớn, thương mến nể nang kẻ nhỏ, không vì sợ mà vì sự biết mình.
- Dẹp bớt và chuyển hoá lòng ngã mạn, chỉ một mực khiêm cung là người biết mình thực sự.
- Biết mình là một thành tựu, nên đời sống lúc nào cũng vui vẻ, vì không tạo oan trái, không tranh đua và biết thế nào là đủ sống, gọi là tri túc.
- Quan sát mình xem có đủ năm pháp căn bản không, đó là đức tin vững chắc, học nhiều hiểu rộng, thực tập giới, thực tập buông bỏ, và trau dồi trí tuệ.
- Luôn luôn hành động, nói năng, suy nghĩ theo những điều lành thiện, đem hạnh phúc cho bản thân và xã hội.
Pháp thứ tư: Tư cách của người biết điều độ.
- Biết điều độ trong việc sử dụng tiền bạc và thì giờ.
- Sử dụng tiền để làm các việc lành, phụng sự cha mẹ, giúp đỡ quyến thuộc và chia sẻ người thiếu thốn.
- Sử dụng thì giờ để học tu, học cách sống an vui, học cách làm thầy thuốc của chính mình.
Pháp thứ năm: Tư cách của người biết thì giờ.
- Sử dụng thì giờ của đời sống một cách hợp lý để mỗi giây phút đều tiếp xúc với sự sống.
- Nghe thuyết pháp, sửa chữa lỗi lầm và vun bồi hạnh phúc.
- Học chưa bao giờ là đủ nên cứ tiếp tục học, nhớ lại lời dạy của đức Phật và thực tập tâm yên lặng.
- Học mọi điều lành và vâng giữ hành theo, đồng thời khuyến khích người khác thực tập hạnh phúc như mình.
- Tham dự các buổi pháp đàm, thảo luận đạo, thân cận bậc thiện tri thức và mời người thực tập đánh giá phẩm chất tu học của bản thân.
- Dạy cho tâm mình an tịnh mọi lúc mọi nơi.
- Lấy trong sạch làm nền tảng; trì giới và tham thiền là hai phương pháp làm trong sạch tâm.
- Thực tập chánh niệm và thiền định, trau dồi trí nhớ và trí tuệ.
- Luôn luôn nhớ mọi việc đang xảy ra bên trong lẫn bên ngoài trong giây phút hiện tại, đồng thời sử dụng trí tuệ quán chiếu các sự việc đó.
Pháp thứ sáu: Tư cách của người biết hàng đại chúng.
- Biết công chúng có nhiều hạng người khác nhau, nên cách hành xử cũng tuỳ theo hạng người mà thay đổi.
- Làm vừa lòng người và đem hạnh phúc đến cho người, thiết tưởng đây là điều mà người tu thực hiện không ngừng nghĩ.
- Dù bị mắng nhiếc hay đánh đập, dù bị hàm oan hay tù đày, vẫn một mực từ bi thực tập nhẫn nhục, khiêm cung và hoá độ được người.
Pháp thứ bảy: Tư cách của người biết chọn người để thân cận (Bạn).
- Chọn bạn là điều quan trọng, nên chọn người biết điều hay lẽ phải mà thân cận.
- Chọn bạn là những người lành, dù là hạng nào, giai cấp nào trong xã hội, không cần chứng cấp bằng, chỉ cần hành động chân chính, lời nói chánh niệm, suy nghĩ và tư tưởng lành.
- Quan sát kỹ người gần bên mình để giao phó trách nhiệm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/12/2015.