Wednesday, March 30, 2016

Thanks to the home laboratory.
Let's care for Vietnamese, from grace young's not forget the scenarios is great thanks; constant retrieved from the heart about the forums-free.
The rainy season comes, monks and nuns are y according to the Buddhist practice of settling. An CU tu shume learn purity inevitable grace foreign households of the server, and also pilot refuge monks and nuns to tu Phuoc achievement and school newspaper households.
Practitioners settle in addition to essential professional hone certain wisdom about longer contemplation the four. In it, always remember thinking the home laboratory and express gratitude by sprayed from Center to forums-free to the participants and the countries which are, are the Germans.
"A time of Buddha in the country, the forest-States-Residence, the garden of Anathapindika. Now That Honor the Bhikkhu-stilts:
-See forums-free pilot home like?
The time the Bhikkhu-Bach on stilts That Honor:
-What Religion is the King of France. Hope this means speaking Religious bent to the Bhikkhu-stilts, we heard the finishing will well keep all.
Now That Honor the Bhikkhu-stilts:
-Listen and smart thinking! We will distinguish this meaning for the master.
-Please respect forums-free countries as the positive studious parent, foster, serve, make active growth. In the Match-match-the second theme: the Cafe forums-free laboratory experiments or gender achievement, writer, tam I, wisdom for the people. The Bhikkhu-stilts, forums-free has many benefits, for the three jewels have no hindrances, or alms the master, formal dining, only bed, Crouching, clear treatment. So this, the Bhikkhu-stilts, be care-free, forum for small, please don't forget the scenarios is great thanks; constant retrieved from the heart about the forums-free, pure almond body says, mouth, Italy can not balance, also has no limits. Stems from, from the mouth, Italy from, making things whole-herd's Bell not being paid, bitten the big, big German, blessed accomplishment has great reputation, French giant orange taste tradition in the world. As such, the Bhikkhu-stilts, should study this.
Now That instant Respect said shelves:
Participants to the prayer Place their large//achievements also Kings and thieves, never won the other animals/laboratory experiments to be crowned King, heir to the throne Transformed London/seven treasure full/Capital City due to the countries that are the solar body/Bell/customer/red treasure Hat women's skills Also stroll/laboratory/Pilot's fruit Capital are Sun Empire solar power Thinh dread Kings like//eye/body Inherently dignified thousands of results of laboratory experiments, Alms the Buddha/Director General of the thirty-two Enough/Zhuan Falun, Which announces results of countless countries.
The time the Bhikkhu-stilts heard Buddha done, fun, well done ".
  
 
Y according to the word of Buddha, practitioners settle trade glass and respectfully forums-free home, because his grace that foreign full four items (clothing, food, drink, only bed, Crouching, smoking) to quiet the mind, and especially tu "gender, culture, achievements, tam I, wisdom".
So, "Let's have a mind for forums-free; constant retrieved from the heart about the forums-free; stems from, from the mouth, Italy from, making things whole-herd's Bell not being paid, bitten the big, big German "Phuoc achievement is one of the important action of the French practitioners settle.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.

Ơn thí chủ.


Hãy có tâm từ đối với đàn-việt, ơn nhỏ còn chẳng quên huống là ơn lớn; hằng lấy lòng từ hướng về đàn-việt.
Mùa mưa đến, chư Tăng Ni đều y theo lời Phật thực hành an cư. Đạo tràng an cư tu học thanh tịnh tất yếu nhờ ơn ngoại hộ của các thí chủ, đồng thời thí chủ cũng nương tựa chư Tăng Ni để tu học và thành tựu phước báo hộ trì.
Hành giả an cư ngoài việc tinh chuyên trau dồi giới định tuệ còn quán niệm bốn ơn. Trong đó, luôn nhớ nghĩ công ơn thí chủ và thể hiện bằng cách rải từ tâm đến đàn-việt để người thí và người nhận thí đều thanh tịnh, đều được công đức.
“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy xem đàn-việt thí chủ như thế nào?
Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Thế Tôn là vua của các pháp. Cúi mong Thế Tôn nói nghĩa này cho các Tỳ-kheo, chúng con nghe xong sẽ vâng giữ tất cả.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ! Ta sẽ phân biệt nghĩa này cho các Thầy.
- Hãy cung kính đàn-việt thí chủ như con hiếu thuận cha mẹ, nuôi dưỡng, hầu hạ, làm tăng trưởng ngũ ấm. Ở cõi Diêm-phù-đề hiện các thứ nghĩa: Quán đàn-việt thí chủ hay thành tựu giới, văn, tam muội, trí tuệ cho người. Này các Tỳ-kheo, đàn-việt có nhiều lợi ích, đối với Tam bảo không có chướng ngại, hay bố thí các Thầy y phục, thức ăn uống, giường chõng, ngọa cụ, thuốc thang trị bệnh. Thế nên, này các Tỳ-kheo, hãy có tâm từ đối với đàn-việt, ơn nhỏ còn chẳng quên huống là ơn lớn; hằng lấy lòng từ hướng về đàn-việt, nói hạnh trong sạch của thân, miệng, ý chẳng thể cân xứng, cũng không có giới hạn. Thân hành từ, miệng hành từ, ý hành từ, khiến cho vật bố thí của đàn-việt trọn không bị phí bỏ, được quả báo lớn, thành tựu phước đức lớn, có danh tiếng lớn, lưu truyền pháp vị cam lồ trong thế gian. Như vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Thí để thành của lớn/ Chỗ nguyện cũng thành tựu/ Vua và những tên trộm/ Chẳng thể đoạt vật kia/ Thí để được ngôi vua/ Nối dõi ngôi Chuyển luân/ Bảy báu thành đầy đủ/ Vốn do thí mà được/ Bố thí thành thân trời/ Đầu đội mũ báu đỏ/ Cũng các kỹ nữ dạo/ Vốn quả báo của thí/ Thí được trời Đế Thích / Vua trời oai lực thịnh/ Ngàn mắt trang nghiêm thân/ Vốn quả báo của thí/ Bố thí thành Phật đạo/ Đủ ba mươi hai tướng/ Chuyển Pháp luân vô thượng/ Vốn quả báo của thí.
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.
  
 
Y theo lời Phật dạy, hành giả an cư thương kính và trân trọng đàn-việt, thí chủ vì nhờ ơn ngoại hộ mà mình có đầy đủ bốn vật dụng (y phục, thức ăn uống, giường chõng, ngọa cụ, thuốc thang) để yên tâm tu học, và nhất là “thành tựu giới, văn, tam muội, trí tuệ”.
Cho nên, “hãy có tâm từ đối với đàn-việt; hằng lấy lòng từ hướng về đàn-việt; thân hành từ, miệng hành từ, ý hành từ, khiến cho vật bố thí của đàn-việt trọn không bị phí bỏ, được quả báo lớn, thành tựu phước đức lớn” chính là một trong những pháp hành quan trọng của các hành giả an cư.
Tâm từ là một chất liệu kết dính mối quan hệ giữa bốn chúng đệ tử Phật luôn bền chặt, hòa hợp và thanh tịnh. Nhờ ban rải từ tâm mà người thí và người nhận đều thành tựu công đức, phước báo vô lượng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.
The word of the master taught his disciples.
If the met who left Italy, Please gently find out, cause of the controllers, Don't rush blame people.
 

If having things left Italy
Please gently find out
The cause of the justice
Don't rush blame people.

 

If people lie
Please gently break
Just quietly
Don't sweet delights drunk.
 
 
 

If having the hot computer
Please gently look
No need to avoid
Yet ask don't breathe.

 

If experiencing distressing thing
Please gently rise up
Don't balk at the place
Retrieves suffering as background.

 

If having the quarrelsome
Please gently smiling
Communication always careful
To be joyful.

 

If having unfortunate thing
Take a gentle walk through
No need to evade
Small talk our realms.
 
 

If experiencing bitter thing
Please don't be gentle pitch
Although the situation of white silver
All have causes.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.

Lời sư phụ dạy đệ tử.THICH NU CHAN TANH.UC CHAU.SYDNEY.


Nếu gặp người trái ý, Hãy nhẹ nhàng tìm ra, Nguyên nhân của sự lý, Đừng vội trách người ta.

Nếu gặp điều trái ý
Hãy nhẹ nhàng tìm ra
Nguyên nhân của sự lý
Đừng vội trách người ta.


Nếu gặp người giả dối
Hãy nhẹ nhàng chia tay
Lặng lẽ không cần nói
Ngọt ngào đừng mê say.
 
 

Nếu gặp người nóng tính
Hãy nhẹ nhàng nhìn thôi
Không cần phải lẫn tránh
Chưa hỏi đừng hé môi.


Nếu gặp điều đau khổ
Hãy nhẹ nhàng vươn lên
Đừng chùn bước tại chỗ
Lấy khổ đau làm nền.


Nếu gặp người hay giận
Hãy nhẹ nhàng mỉm cười
Giao tiếp luôn cẩn thận
Để người được vui tươi.


Nếu gặp điều bất hạnh
Hãy nhẹ nhàng đi qua
Không cần phải trốn tránh
Chuyện nhỏ cõi ta bà.
 

Nếu gặp điều cay đắng
Hãy nhẹ nhàng đừng sân
Dù tình đời bạc trắng
Tất cả có nguyên nhân.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.
historical events, is a ritual important for in, for the export of German Religious World world day, this holiday was handed down from thousands of old, right from when Buddhism in India tv moves to the new Oriental, the Buddhist scriptures translated from Sanskrit written classical Chinese out, in Eastern Han đơiø (China) the Ministry would talk about the history of Buddha, Buddha's Christmas day like the Ca appears is on April 8, this is the most seen in the Buddhist scriptures of Northern Tribes. But the North's Ministry also said the tribe born 15 (full moon) which is the western regions signed the lifetime home road.
Before our country as well as the large countries in Asia such as China, Japan, Korea ... all make Vesak on April 8 by the lunar calendar. The name as well as on employment Buddhas birthday lanterns, "eight days of April " was handed the row cover centuries in many countries in the world, has become the traditional customs, impressive ingrained into the minds of everyone, including people in Buddhism are also remembered as such.
"Although these span away.
To even the Buddha day 5 continents also daft. "
"Though one where trafficking
Remember even the Buddha asked about nhău "
But since the early ' sixties contest even the future Buddha day is on April 15 and Lunar followed from then on to annual round 4 page is even the Birth date of the Germany World Religion that most countries in Asia and the Buddha on kháp five continents are bustling celebrated Buddha's flat ceilings. So we try to find out why?. The origins of Buddhism is arising from Indian origin, China is a big country of Buddhism introduced soon, books translated into Chinese a lot, transfer to our country is associated with the current lunar calendar still in use. Compare two things this calendar together to find the excuse: Eagle Christmas on Buddha, the Indian calendar month, on that day of the full moon or not, bring on the Chinese calendar that calculates, see working on my second month, this new schedule clearly are.
Here note a kite: called on a full moon, but the Moon is the time, now head of the distance on that, to imagine as you are standing at the angle the Friday time zone of the globe as landmarks, which looked at the full moon, the new right now, "sao mai grows" or now, when Germany the duty Counsel Thích Ca Oxidized Ni even born the humanity in that day. If only generic, based on simple sentences in the books comes from ancient, then nothing is true for determining contradiction ', unable to discover problems that solve definitively.
In the Buddha had signed a police system of six historical Nikaya the Buddha speaks in Christmas Borders Gradually: a) a horror message signed Cycle. b)-France a series of internal, c)-Founded the message-d)-South American,-DD)-e, Extra)-France. All are unanimous that the Buddha Like Christmas to life, King Zhao of Zhou dynasty in the 26th (24 years saying there was room) is the year Borders Gradually (count of 60 years United way borders of China).
This system sets a very calculating occupancy, describes from when Buddha also as bodhisattvas dwell on the Sun, even the students down the people, until (in the Mau, 25 years of his life), the leader (the year You Smell, 30 years old), enter the removal (in Mau, 79 years old). As of the year calendar-mạng 67-Vinh Binh era 10th year, King Emperor Ming of Eastern Han life II, Buddhist scriptures băùt first perfusion to the Chinese, and then the computer next to the year 2003 is the year 3021.
So the Buddha position before Christmas Jesus Christmas 1027 years (In the era of the Western Front the year calendar by Month, in the sixth century, some Christian countries in Europe also have yet to find the correct year of birth of Jesus, then they hop together discuss the offer of Yue chu multiplied by the number of weeks to get the results of Zhou (19x28 = 532) decide to take five-day sailings the beginning of this year of the era of God's call to slap is.
Even the 12-25 is also the birth of The gods-Pakistan-ti-nốp cult, after the country was ify then retrieved that day on its Noen do Jesus, in Western Europe, often years round, people defined the position Jesus years Farming, this year is the second year before the Christian era raw era, Shou, Emperor Ai of Han dynasty King of China. Confucius was born in 551 Jesus position front, match the novel ancestor Prince Concur: Buddha Christmas before Mr. Confucius 477 years. Community: (477-1 + 550) = 1027 years.
The English rule in India have dug stele of King Ashoka engraved on the dating even the Buddha, according to this Buddhist Stela on Christmas is in Chinese, as of the year 2003 is the year-2567. Based on the above documentation and other facts so in the great world Buddhist celebration in Ceylon in 1956 decided take on the full moon 15 Lunar April do Buddha Christmas celebrations for the whole world.
However, in the Buddhism but don't have the Lunar calendar according to which says: "the Buddhist full moon day of Christmas ", in the annual calendar year just always move: 100 years in only 4 years is the full moon on May 15. though so, but on the April round of Lunar pages always falls on the calendar in May. Our country and the water in the lunar calendar, the ancient remains in computer years, Buddha was born, since that year was a right.
Want to determine the day of Vesak University must first find the things written in the books talk about the history of Buddha both North and South Tones (on even the Buddhist scriptures about Male Tribes say very simply spend a compact fiend "day Moon"). brought up with between 2 things Indian and Chinese calendars that then lookup the desired requirements are achieved.
India from time immemorial still has 4 Saturday schedule: calendar, a solar calendar, the Squirrel calendar, movie star calendars. China also has 4 Sunday calendar: calendar of the Xia dynasty, (political views gradually) or the Upper House of Indian calendar (expedition ant the Buffalo), calendar, the Zhou dynasty, (Ty initiative), the calendar of Qin (Adil initiative). Four things this calendar is a lunar calendar. The lower House still existing calendar from ancient to present, may be called the lunisolar calendar, because the content for both the projection date on the calendar.
Now just two things: Care India's prospects and lower (often called the agricultural calendar) of China which determine the Vesak Day, because 2 to the calendar are calculated according to the degree of the Thai star's comprehensive Music revolves around the Earth which made the calendar. Each moon is 19 years cycle, each year has 12 months, well, enough, there is a leap month compensated and anthem month on nhău, even though the date had achieved a margin of wax each year are other nhău.
Each month of the Indian calendar are late Hon Chinese calendar a month and a half. The full moon day of the Indian calendar, then reach into the ngàycuối of each month, rather than between, such as the Chinese calendar. The June 30 in each month of Indian calendar all coincided with the October 15 in each month of the calendar, China, like the full moon day of the Indian schedule i.e. full moon day of the Chinese calendar.
Only one other thing nhău between 2 calendar but does not affect wrong with full moon day. Means the Chinese calendar a year is divided into four seasons: spring, summer, fall, winter, retrieved 12 Zodiac Ty, the lunar new year, Progressively, Jayson ..... a name for 12 months. The Indian calendar divided a year into 3 seasons: spring, summer, winter (every 4 month season) without the fall, taking the name 12 stars set for 12 months.
Over here I collected compiled to prove why snoring Even Buddha had change from 8 April out on April 15, and determined on even the Buddha is full moon day. This is also a very important day for Buddhists, we need research to understand the historical context of the am of Germany the duty to Counsel.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMSE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.
sự kiện lịch sử, là một nghi lễ trọng đại nhất trong đạo, đối với ngày xuất thế của Đức Thế Tôn, ngày lễ này đã được lưu truyền từ ngàn xưa, ngay từ khi đạo Phật ở Ấn Dộ mới truyền sang các nuớc phương Đông, những bộ kinh Phật phiên dịch từ Phạn văn ra Hán văn, ở đơiø Đông Hán (Trung Quốc), bộ nào nói về lịch sử  Phật Tổ, ngày giáng sinh của Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện là ngày 8 tháng 4 âm lịch,  điều này nhiều nhất thấy ở các kinh sách Phật Giáo Bắc Tông. Nhưng Bắc Tông cũng có bộ nói sinh ngày 15 (trăng tròn) đó là bộ Tây Vực Ký đời nhà Đường.
            Trước kia nước ta cũng như các nước lớn trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.....đều làm lễ Phật Đản vào ngày 8 tháng 4 âm lịch . Tên gọi cũng như việc làm ngày Phật Đản, “ngày tám tháng tư “  đã lưu truyền hàng bao thế kỷ ở nhiều nước trên thế giới, đã trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ấn tượng ăn sâu vào đầu óc mọi người, kể cả người  theo hay không theo đạo Phật cũng đều nhớ như vậy.
“Cách xa dù mấy nhịp cầu.
Đến ngày Phật Đản 5 châu cũng gàn.”
“Dù ai buôn bán đâu đâu
 Nhớ ngày Phật Đản rủ nhău mà về”           
Nhưng kể từ đầu thập niên năm sáu mươi thi ngày Phật Đản lai là ngày 15 tháng 4 âm lịch và cứ tiếp nối từ đó đến nay hàng năm cứ đến ngày trang tròn tháng 4 là ngày Đản Sanh của Đức Thế Tôn mà hầu hết các nước ở Châu Á và những người con Phật trên kháp năm châu đều nhộn nhịp tổ chức kỷ niệm của Đức Phật giáng trần. Vậy ta thử  tìm hiểu xem tại sao ?. Nguồn gốc của đạo Phật là phát sinh từ xứ Ân Độ, Trung Quốc là một nước lớn đạo Phật du nhập sớm, kinh sách dịch ra chữ Hán rất nhiều, truyền sang nước ta gắn liền với âm lịch hiện nay ta vẫn dùng. So sánh hai thứ lịch này với nhau để xét tìm bàng cớ : Phật giáng sinh vào ngày nào, tháng nào của lịch Ấn Độ, ngày đó có phải ngày trăng tròn hay không, đem ghép vào lịch Trung Quốc mà tính toán, xem nhàm vào ngày nào, tháng nào của thứ lịch này thì mới thấy rõ được.
            Ở đây chú ý một diều : Gọi là ngày trăng tròn, nhưng chính là thời điểm trăng tròn thì giờ quãng đầu của ngày đó, phải tưởng tượng như mình đang đứng ở góc độ múi thứ sáu của địa cầu làm mốc mà nhìn trăng tròn, mới đúng giờ “sao mai mọc” hay giờ Dần, khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni đản sinh ra cõi nhân gian trong ngày đó. Nếu chỉ chung chung, dựa vào những câu đơn thuần trong các bộ kinh sách nói từ xưa, thì không có gì xác đúng cho lám, không thể khám phá vấn đề mà giải quyết dứt khoát được.  
            Trong bộ Phật tổ thống ký đã tập hơp sáu bộ kinh sử đều nói Phật giáng sinh năm Giáp Dần : a)Chu thư dị ký. b)-Pháp bản nội truyện, c)- Nguỵ thư – d)- Nam nhạc, -đ)- Phụ hành, e)-Pháp lâm. Tất cả đều thống nhất nói rằng : Đức Phật Thích Ca giáng sinh nhằm đời nhà Chu Cơ, vua Chiêu vương năm thứ 26 (có chỗ nói năm thứ 24) là năm Giáp Dần (tính theo lối 60 mươi năm hoa giáp của Trung Quốc).
            Bộ thống ký này tính toán rất tỷ mỷ, diễn tả từ khi Phật còn là vị Bồ tát ngự  trên cõi trời, Đản sinh xuống cõi người, đến khi xuất gia (năm Mậu Dần, 25 tuổi đời), thành đạo ( năm Quí Mùi, 30 tuổi đời) , nhập diệt (năm Mậu thân, 79 tuổi đời). Tính đến năm Đinh mão – dương lịch 67 – niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10, đời vua thứ II Minh đế đời Đông Hán, kinh Phật băùt đầu truyền dịch sang chữ Trung Quốc, rồi tính tiếp đến năm 2003 thì được 3021 năm.
            Như vậy Đức Phật giáng sinh trước vị Giê-su giáng sinh 1027 năm (Năm kỷ nguyên theo tây lịch là năm Tân Dậu, vào khoảng đầu thế kỷ thứ 6, một số nước theo thiên Chúa giáo ở Châu Âu cũng chưa tìm được đúng năm sinh của vị Giê-Su, khi ấy họ hop nhau lại bàn cách đem số nguyệt chu nhân với số tuần chu để lấy kết quả được (19x28=532) liền quyết định lấy ngày năm đầu của số này làm năm kỷ nguyên của Thiên Chúa gọi tát là Công nguyên.
            Ngay cả cái ngày 25  tháng 12 cũng là ngày sinh của vị thần Công-xtăng-ti-nốp  sùng bái, sau khi chinh phuc được nước này rồi lấy ngày đó làm ngày Noen của vị Giê-su, theo lối Âu Tây thường kể tuổi tròn, người ta qui định vị Giê-su tuổi Canh Thân, năm tuổi này là năm thứ hai trước kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, niên hiệu nguyên thọ, đời vua Ái Đế nhà Hán Trung Quốc.  Khổng Tử sinh trước vị Giê-su 551 năm, khớp với thuyết của sư Tổ Hoàng Tán : Đức Phật giáng sinh trước ngài Khổng Tử  477 năm. Cộng được : (477-1+551)= 1027 năm.
            Người Anh lúc đó cai trị Ấn Độ có đào được tấm bia của Vua A-Dục khắc về niên đại Phật Đản, theo trên tấm bia này thì Phật giáng sinh lại là năm Bính Thân, tính đến năm 2003 là 2567 năm. Căn cứ trên  các tư liệu nêu trên và các dữ kiện khác do đó trong đại lễ kỷ niệm Phật Giáo thế giới tại Tích Lan năm 1956 mới quyết định lấy ngày trăng tròn 15 tháng tư Âm Lịch làm ngày kỷ niệm Đức Phật giáng sinh cho cả thế giới.
            Tuy nhiên, ở những nước có Phật giáo nhưng không có Âm Lịch thì người ta theo dương lịch mà nói : “Phật giáng sinh ngày trăng tròn “ trong tháng năm dương lịch hằng năm cứ  luôn luôn xê dịch : trong 100 năm chỉ có 4 năm là ngày 15 tháng 5 trăng tròn mà thôi. mặc dầu vậy,  nhưng ngày trang tròn của tháng tư Âm Lịch lúc nào cũng rơi vào tháng 5 dương lịch. Nước ta và những nước theo Âm Lịch thì xưa nay vẫn tính năm, Phật sinh năm nào thì kể ngay năm ấy là một.
            Muốn  xác định được ngày đại lễ Phật Đản trước hết phải tìm những điều ghi trong các kinh sách nói về lịch sử Phật tổ cả Bắc Tông lẫn Nam Tông (về ngày Phật Đản kinh sách Nam Tông nói rất đơn giản  chi qui gọn một câu “ngày trăng tròn” mà thôi). đem đọ với giữa 2 thứ  lịch Ấn Độ và Trung Quốc mà tra cứu thì mới đạt được yêu cầu mong muốn.
            Ấn Độ từ xưa vẫn có 4 thứ lịch : lịch Sóc vọng, lịch Mặt trời, lịch Địa cầu, lịch Ngôi sao. Trung Quốc cũng có 4 thứ lịch :  lịch nhà Hạ, (chính kiến dần) lịch nhà Thượng hay nhà Ấn (chinh kiến sửu), lịch nhà Chu, (chính kiến tý), lịch nhà Tần (chính kiến hợi). Bốn thứ lịch này đều là Âm lịch.  Lịch nhà Hạ vẫn hiện hành từ xưa đến nay, có thể gọi là âm dương lịch, vì nội dung đối chiếu cả các ngày tháng về dương lịch.
            Nay chỉ cần dùng 2 thứ lịch : Sóc vọng của Ấn Độ và Hạ lịch (ta thường gọi là nông lịch) của Trung Quốc mà xác định ngày lễ Phật Đản, vì 2 lịch này đều tính theo độ số chu toàn của sao Thái Âm xoay quanh trái đất mà làm lịch. Mỗi nguyệt chu là 19 năm, cũng mỗi năm 12 tháng, có tháng đủ, có tháng thiều và tháng nhuận bù trừ vào nhău, mặc dù ngày tháng sáp đạt có chênh lệch mỗi năm đều khác nhău.
            Mỗi tháng của lịch Ấn Độ đều muộn hớn lịch Trung Quốc một tháng rưỡi. Ngày trăng tròn của lịch Ấn  Độ thì đạt vào ngàycuối cùng của mỗi tháng, chứ không phải giữa tháng như  lịch Trung Quốc. Các ngày 30 trong mỗi tháng của lịch Ấn Độ đều trùng hợp với ngày 15 trong mỗi tháng của lịch Trung Quôc, như thế ngày trăng tròn của lịch Ấn Độ tức là ngày trăng tròn của lịch Trung Quốc vậy.
            Chỉ có một điều khác nhău giữa 2 lịch nhưng không ảnh hưởng sai trái với ngày trăng tròn. Nghĩa là lịch Trung Quốc một năm chia thành 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông, lấy 12 con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão.....đạt tên cho 12 tháng. Lịch Ấn Độ thì chia một năm làm 3 mùa : Xuân, Hạ, Đông (mỗi mùa 4 tháng) không có mùa Thu, lấy tên 12 ngôi sao đặt cho 12 tháng.
            Trên đây tôi sưu tầm biên soạn  để chứng minh tại sao ngáy Phật Đản lại có sự thay đổi từ ngày 8 tháng 4 ra ngày 15 tháng 4 âm lịch, và xác định ngày Phật Đản là ngày trăng tròn. Đây cũng là ngày rất trọng đại đối với người Phật Tử  chúng ta cần nghiên cứu tìm hiểu để am tường về bối cảnh lịch sử của Đức Bổn  Sư .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.
The Buddha how an entry of birth.


image
The Buddha with perfect shape appears and all flanges, with thirty-two general good and eighty beauty no one can match with. Thanks to transcendental wisdom, compassion kindness pass often, life practice transformation, He crystallized by the lofty virtues you respect for both physical and spiritual beings should confess Ocean spreads the exclamation.
More than 26 centuries ago, the Buddha Sakyamuni current marketing of ancient India, the source of the Ganges River civilizations. important events in Germany in a Religious World realms this life really is hope. He even being in the garden and forestry Bhikkhu, suburban Ca Bhikkhu La Protection, today is made in Nepal. Indian history books that a person is born with good general thirty-two and eighty beauty, after this renunciation will become Buddhas, French Catholic primary will take turns being. When Germany World Respect human beings, even the first appears A Momentum Investor guess that later he will become the London United Kingdom Holy family or Transfer will become a Buddha; still, Mr. Qiao Chen As German Religious World that only later became Buddha and it has come true. The history of Germany That had Religious transcendence like Infinite bloom Favor those of thousands of years to bloom once. Under Indian rules, nostalgic thai woman will return to the foreign country to breed, Empress Ma-Da coming to bloom flower garden to stubs stigma on Forestry Bhikkhu Ni met Countless flowers blooming Favor hand picking the lower mainland birth Crown Prince-Hit-Me.
The Buddha entered the world, there is a Winter Palace of the Prince in the Palace of the King of Sanskrit medical circumstances. with Net report in the United Kingdom the Ca Bhikkhu La Defense, the father is the King, the Queen Mother Sanskrit Net Ma-Da, Him on top of high status and fame but not earthly pleasures enthusiast, decided to go search for leader , the leader, the Chief French media awarded to last the life of the new type of self in Nirvana. Before exporting, You stroll through four doors into seeing old, sick, dead, and a singer. From then on, He calmly about the living dead, probably about human's body parts. People have to endure many melancholy, bi, suffering, favor, brain, forever bươn the life of the reverse sweep further construction strengthening, eventually abandon the life with white hands. Poor and rich to the Phu QUY go through birth, old age, disease, death. With the will, extraordinary wisdom and infinite compassion, He deeply felt the pain of human suffering, renouncing every beneficiary, decided to pass up out to the beings are subject to suffering in the London marine deposits.
Buddhism have thoughts but advocates to suffering an entry of birth. Today, the United Nations has recognized the picture he is the symbol of world peace. He founded Buddhism, of peace, friendship, cooperation. Buddhism advocates peace, defend life, bring peace and happiness to mankind. For over two thousand years of history, Buddhism never caused the bloody holy war at all. Buddhism was recognized as the cultural religious world. Vesak Day of all the world is a United Nations sponsored and known as Vesak celebrations. The Buddha, Dhamma, Sangha orders Messenger of Hybrid circuit network transmission As the Dharma to compassionate message suffering human metabolism. France is to shed the night street market soi torch ignorance shadows help beings escape the maze, returning to live happily, happy, enlightenment and liberation.
The Buddha is the degrees of enlightenment, Buddhist enlightenment, Buddhist leaders is the first level of enlightenment. Mr. French missionaries even penetrating micro magic, longer class leading emissary As Lai lit up the torch of wisdom to soi way for beings. By that time, said: "theFirst Abbot, Bai Bai Like Ca". Monks changed the main Buddha said France and the world for the Buddhists. Monks living in truth three precious stars help Buddhists understand doctrine logically, obviously. Monks can bone Coalition Dharma, Dharma quang huy make, which is why Buddhists are Mahayana Buddhist refuge, the refuge of France, y Increase. in the Dhammapada contains the sentence:
" Have fun instead of Buddha's birth
Have fun instead of France are available
Have fun instead of Increasing harmony
Integrate tu fun instead. "
The Buddha entered Nirvana then appears, leave the Dhamma might even penetrating micro magic. The Buddha entered the removal of his wisdom but light still exist. If no rows of the Messenger As a hybrid primary citation French gradually Dharma will disappeared. Instead of traditional Buddhist monks also need the pure lifestyle, is shining in the spiritual life. The Buddhist in the fun of listening to the new French elated get France lost that absorb the ideology of Buddhism. Whether people or families should also integrate plus tu, Buddhists at home to preserve in the world forbidden to become the primary legs of Buddhists.
even the Buddha birth Buddha day, day of the Scouts and the Buddha entered Nirvana, the same date on the full moon day of the month of Vesak the ancient Indian calendar to respect the values of culture, thought the peace of the Buddha Sakyamuni. Buddhism was responding to humanity today's society values peace, peace, friendship and cooperation. Buddhist disciples who have longevity in the world banned, was raised in the tradition of Buddhist spirituality needs to stay away from all sin, evil, Sin distinct Phuoc. The Buddhist Chief foot need to live in the spirit of the bowl is legitimacy: the Chief Justice, see know chon TAM Chief; The Chief Justice, the Chief chon TAM thoughts; Speech, said chon TAM feature Chief Justice; The Chief Justice, acting Chief chon TAM; Chief of general staff, network b. chon TAM Chief; The Chief Justice, diligent chon TAM Chief; Mindfulness, thinking mind and chon TAM Chief, focused thought chon TAM Chief, aims to build the life at peace. Often, these families live in domesticated moral background of Buddhist ethics is usually the net salary family, happy, stable life happily.
The Buddha with perfect shape appears and all flanges, with thirty-two general good and eighty beauty no one can match with. Thanks to transcendental wisdom, compassion kindness pass often, life practice transformation, He crystallized by the lofty virtues you respect for both physical and spiritual beings should confess Ocean spreads the exclamation.
The Buddha declares the first theory in Loc Made Fake about the truth of the facts called the four noble truths, the four-lined mission truth, not the French Convention of the world that is the truth of life include: Imperial Gauge, the Roman Empire, the Roman Empire and the Roman Empire Destroyed.
Agony Empire is the truth the truth rightly about the suffering in the world. People born to birth, old age, sickness, death, anxiety, bi, suffering, the pros, the brain that we often hear is, Triangle Bowl. TAM is the gauge gauge Gauge, gauge and gauge tanks. The bowl is contentious, gauge gauge, gauge, gauge, gauge e AI special glass, gauge, gauge, DAC tắng resentment any sabotage, the five warm Thanh factory gauge. Humans bear suffering infections infections scallops Scallops with know how real things, real as in life in this body can not tell the stars for. Body impure is suffering, impermanence is the gauge, the gauge is false. But Buddha said to gauge the true identity of the beings and then find escape suffering, because the human mind-body painting-making gauge encyclopedia, upset, urge them to look at the nature of life.
Exercise racks is the truth about the cause of the suffering. All humans are suffering the brunt of where this body, this life is taking part, si. The main reference is the cause of suffering, makes people missing. Taking part is the motivation to turn wheels reincarnation. Old people usually say took part in the intensive because greed dominated people see immediate benefits that don't see hurt his back, makes man love passages, the meaning, no longer visionary comprehensive awareness to the problem. The ancients have the sentence: A fire can burn yard spots both public forests in Germany. The stadium also is the motivation of transport wheels reincarnation, much is created evil career coincide. SI t i State is the toothpick in the soul, is the cause of creating many sins, is the species of animal birth not know religion tri order, left to right, good bad, right and wrong, not distinguish chon TAM Wei Chief TA. The main delusion produced taking part and the yard. If people run out of delusion, is lucid, so being in need of cultivation to snippets of delusion. The Buddha has said Empire Episode is the cause of all suffering, if beings practice and paragraph except to take part in peace then si yard fun, out of the Chen lao. Chu Chu, Buddha bodhisattva, the Holy Sage passage except taking the pitch became invisible beings si and immortality. Bring light into his life grievances quang minh, dark beings from the sea to the river gauge. Therefore, the Buddha has said: the Roman Empire is the truth, is the driving force creating all suffering in this life.
Destroy the Roman Empire? Destroy the Roman Empire is the truth about the killing. That is, nibbana. Only the enlightened liberation ranks understand the status of the Emperor's Removal back to chon Tam Tam, Leanne Buddha's own, practice no longer take part, there is no impurities in si yard being ignorance Karma dominates, is true of the manufacturing world that these people also can't understand Golf si.
Emperor is the world export leader, is the French tu include the Satipatthana, Quartet Principals need, Like Italy, Five, Five, Bodhi Interior parts and bowl of legitimacy. To achieve the Removal of Imperial Nirvana need tu metabolic three career, practice wisdom intended to erase gender tham si yard, ignorance karma in the Palm.
The Buddha Sakyamuni transport Loc Primary wheels of France in imitation of Wan's five brothers have Ceiling Holy DAC Expatriates results. The Buddha has descended over a lifetime this first presentation of the four emperors. Late in life He said French economy United in Spirit Mountain Thứu deploy magical French vi to the Summit point that in France the United States says is Great the human Buddha charm appears on Earth to enter Buddha enlightenment beings a voter opinion. He said the French tu subjects immeasurable but ultimately to beings return back with the Buddha's own comments tri. He appears to speak back to origins of Commission resources beings which is Buddha, but was forgotten and then create career rotation in three-pass corners gauge bass is six lines, which is the tragedy of body parts being.
The Buddha Sakyamuni birth, even the Spice appears, the leader, Hong France and enter Nirvana. The modern human charm He appears on his life until now more than 26 centuries. Even the unveiling day, the Buddha School do live up the noble values of Buddhism, walked on the Enlightenment, liberation, truth, to find every season back even the unveiling of French music vi inherited magic, warmed by his infinite compassion that greet even unveiling a season full of meaning.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.

Đức Phật nhập thế độ sanh.


image
Đức Phật thị hiện với nhân dáng hoàn mỹ và toàn bích, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp không ai có thể sánh bằng. Nhờ có trí tuệ siêu việt, lòng từ bi nhân ái vượt thường, đời sống tu tập chuyển hoá, Ngài kết tinh bằng những đức tính cao cả tôn quý nhất cả về thể chất lẫn tâm hồn nên chúng sanh xưng dương tán thán Ngài.
Cách đây hơn 26 thế kỷ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tại xứ Ấn Độ cổ xưa, cội nguồn của nền văn minh sông Hằng. Sự kiện trọng đại Đức Thế Tôn thị hiện vào cõi đời này thật là hy hữu. Ngài đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni, ngoại thành Ca Tỳ La Vệ, ngày nay là xứ Nepal. Sử sách Ấn Độ cho rằng một người ra đời với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, sau này xuất gia sẽ thành Phật, sẽ đem chánh pháp giáo hoá chúng sanh. Khi Đức Thế Tôn thị hiện đản sanh, tiên nhân A Tư Đà đoán rằng sau này Ngài sẽ trở thành Chuyển Luân Thánh Vương hoặc xuất gia sẽ thành Phật; còn ngài Kiều Trần Như cho rằng Đức Thế Tôn sau này chỉ thành Phật và điều ấy đã trở thành sự thật. Lịch sử của Đức Thế Tôn có tính siêu việt giống như đoá hoa Vô Ưu mấy ngàn năm mới nở một lần. Theo tục lệ Ấn Độ, người phụ nữ hoài thai sẽ trở về quê ngoại để sinh nở, Hoàng hậu Ma-Da sắp đến ngày nở nhụy khai hoa đến vườn Lâm Tỳ Ni gặp hoa Vô Ưu nở, đưa tay hái liền hạ sanh Thái tử Sĩ-Đạt-Ta.
Đức Phật nhập thế, thị hiện là một vị Đông cung thái tử trong cung vua Tịnh Phạn. Với hoàn cảnh y báo tại vương thành Ca Tỳ La Vệ, cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma-Da, Ngài ở trên đỉnh cao địa vị và danh vọng nhưng chẳng đam mê lạc thú trần gian, quyết định ra đi tìm đạo, thành đạo, trao truyền chánh pháp đến cuối cuộc đời mới thể nhập Niết bàn tự tại. Trước khi xuất gia, Ngài dạo qua bốn cửa thành thấy cảnh già, bệnh, chết và một đạo sĩ. Từ đó, Ngài trầm tư về lẽ sống chết, về thân phận của kiếp người. Con người phải chịu đựng biết bao nỗi sầu, bi, khổ, ưu, não, mãi bươn chãi theo dòng đời xuôi ngược, cuối cùng đều từ giã cõi đời với hai bàn tay trắng. Người nghèo khổ lẫn giàu sang phú quý đều trải qua sinh, già, bệnh, chết. Với ý chí, trí tuệ phi thường và lòng từ bi vô hạn, Ngài cảm nhận sâu xa nỗi khổ niềm đau của nhân thế, từ bỏ mọi thụ hưởng, quyết định vượt thành ra đi tìm đạo để cứu chúng sanh đang chịu trầm luân thống khổ trong biển sinh tử.    
Đạo Phật có tư tưởng xuất thế nhưng chủ trương nhập thế để cứu khổ độ sanh. Ngày nay, Liên Hợp Quốc đã công nhận hình ảnh Ngài là biểu tượng của hoà bình thế giới. Ngài sáng lập đạo Phật, đạo của hoà bình, hợp tác, hữu nghị. Đạo Phật chủ trương hoà bình, bảo vệ sự sống, đem đến an lạc và hạnh phúc cho nhân loại. Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, đạo Phật chưa từng gây ra cuộc Thánh chiến đẫm máu nào cả. Đạo Phật được công nhận là Tôn giáo Văn hoá Thế giới. Ngày lễ Phật đản của cả thế giới được Liên Hợp Quốc bảo trợ và gọi là Đại lễ Vesak. Đức Phật, giáo pháp của Ngài, Tăng đoàn hàng sứ giả của Như Lai nối truyền mạng mạch phật pháp để thông điệp từ bi cứu khổ chuyển hoá nhân sinh. Pháp là đuốc soi tỏ đường trong đêm trường vô minh tăm tối giúp chúng sanh thoát khỏi mê mờ, trở về sống an vui, hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật là Bậc Giác ngộ, đạo Phật là đạo giác ngộ, phật tử là con của Bậc Giác ngộ. Ngài truyền giáo pháp thậm thâm vi diệu, còn hàng hàng lớp lớp sứ giả Như Lai thắp lên ngọn đuốc trí tuệ để soi đường cho chúng sanh đi. Bởi thế, dân gian thường nói: “Tiên bái Trụ trì, hậu bái Thích Ca”. Chính Chư Tăng đã thay Phật nói pháp và truyền giới cho phật tử. Chư Tăng là chân lý sống động trong ba ngôi quý báu giúp phật tử hiểu giáo lý một cách thấu đáo, rõ ràng. Chư Tăng có thể xương minh phật pháp, làm cho phật pháp quang huy, đó là lý do vì sao phật tử phải quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Trong kinh Pháp Cú có câu:
            “  Vui thay Phật ra đời
                Vui thay Pháp được giảng
                Vui  thay Tăng hoà hợp
                Hoà hợp tu vui thay.”
Đức Phật thị hiện rồi nhập Niết Bàn, để lại giáo pháp thậm thâm vi diệu. Đức Phật nhập diệt nhưng ánh sáng trí tuệ của Ngài còn tồn tại. Nếu không có hàng sứ giả Như Lai tuyên dương chánh pháp thì dần dần Phật pháp sẽ bị mai một. Chư Tăng thay Phật truyền pháp cũng cần có nếp sống thanh tịnh, là tấm gương sáng trong đời sống tâm linh. Người phật tử trong lòng vui vẻ phấn chấn khi nghe pháp thì mới có được pháp lạc mà tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của đạo Phật. Cho dù là người xuất gia hay tại gia cũng nên hoà hợp cộng tu, phật tử tại gia phải giữ gìn năm giới cấm để trở thành người phật tử chân chánh.
 ngày Phật đản sanh, ngày Phật thành đạo và ngày Phật nhập Niết bàn, cùng vào ngày trăng tròn tháng Vesak theo lịch Ấn Độ cổ nhằm tôn vinh giá trị đạo đức văn hoá, tư tưởng hoà bình của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Đạo Phật đã đáp ứng cho nhân loại xã hội ngày nay các giá trị an lạc, hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Người đệ tử Phật đã thọ những giới cấm, được nuôi dưỡng trong truyền thống tâm linh của Phật giáo cần tránh xa mọi tội lỗi, phân biệt rõ thiện ác, tội phước. Người phật tử chân chánh cần sống trong tinh thần của Bát chánh đạo là: Chánh kiến, thấy biết chơn chánh; Chánh tư duy, suy nghĩ chơn chánh; Chánh ngữ, nói năng chơn chánh; Chánh nghiệp, hành động chơn chánh; Chánh mạng, mưu sinh chơn chánh; Chánh tinh tấn, siêng năng chơn chánh; Chánh niệm, nghĩ nhớ chơn chánh và Chánh định, tập trung tư tưởng chơn chánh, nhằm mục đích xây dựng đời sống an lạc giải thoát. Thông thường, những gia đình thuần hoá sống trong nền luân lý đạo đức của Phật giáo thường là những gia đình thuần lương, đời sống ổn định, hạnh phúc an vui.
Đức Phật thị hiện với nhân dáng hoàn mỹ và toàn bích, với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp không ai có thể sánh bằng. Nhờ có trí tuệ siêu việt, lòng từ bi nhân ái vượt thường, đời sống tu tập chuyển hoá, Ngài kết tinh bằng những đức tính cao cả tôn quý nhất cả về thể chất lẫn tâm hồn nên chúng sanh xưng dương tán thán Ngài.
Đức Phật tuyên thuyết lần đầu tiên tại Lộc Giả Uyển về chân lý của sự thật gọi là Tứ diệu đế, tức bốn sự thật nhiệm mầu, không phải là quy ước pháp của thế gian mà là sự thật của cuộc đời bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
Khổ đế là chân lý sự thật đúng đắn về sự khổ ở thế gian. Con người sinh ra phải chịu cảnh sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não mà chúng ta thường nghe là Tam khổ, Bát khổ. Tam khổ là Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Bát khổ là sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hoại khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Con người chịu khổ trùng trùng điệp điệp với biết bao điều bất toàn, bất như ý trong cuộc sống ở nơi thân này không thể kể sao cho xiết. Thân bất tịnh là khổ, vô thường là khổ, thân giả hợp là khổ.  Nhưng Đức Phật nói khổ để chúng sanh nhận diện sự thật rồi tìm phương thoát khổ, vì khổ làm thân tâm con người bức bách, ray rứt, thúc giục họ nhìn nhận bản chất sâu xa của cuộc sống.
Tập đế là chân lý về nguyên nhân của sự khổ. Mọi thống khổ con người đang phải gánh chịu nơi thân này, cuộc đời này chính là tham, sân, si. Tham chính là nguyên nhân của đau khổ, làm cho con người thiếu sáng suốt. Tham là nguyên động lực làm xoay chuyển bánh xe luân hồi. Người xưa thường nói tham thì thâm vì tham lam chi phối con người thấy lợi trước mắt mà không thấy hại sau lưng, tham làm cho con người đoạn tình, đoạn nghĩa, không còn nhìn xa trông rộng để nhận thức toàn diện vấn đề. Người xưa có câu: Một đốm lửa sân có thể thiêu rụi cả rừng công đức. Sân cũng là nguyên động lực vận chuyển bánh xe luân hồi, phần nhiều là tạo ra ác nghiệp trùng trùng. Si là trạng thái tối tăm trong tâm hồn, là nguyên nhân tạo ra nhiều tội lỗi, là nhân của loài súc sanh không biết tôn tri trật tự, phải trái, tốt xấu, đúng sai, không phân biệt được chơn ngụy chánh tà. Chính si mê sản sinh ra tham và sân. Nếu con người hết si mê thì được sáng suốt, vì thế chúng sanh cần tu tập để đoạn si mê. Đức Phật đã nói Tập đế là nguyên nhân của mọi khổ đau, nếu chúng sanh tu tập và đoạn trừ được tham sân si thì trong lòng bình an vui vẻ, ra khỏi trần lao sinh tử. Chư Phật, chư Bồ tát, các bậc Thánh Hiền đoạn trừ tham sân si và đã trở thành vô sanh bất tử. Các Ngài đem ánh sáng quang minh soi rọi vào cuộc đời tăm tối để vực chúng sanh ra khỏi biển khổ sông mê. Chính vì vậy, Đức Phật đã nói: Tập đế là sự thật, là nguyên động lực tạo nên tất cả nỗi khổ trong cuộc đời này.
Diệt đế là gì? Diệt đế là chân lý về sự diệt khổ. Tức là Niết bàn. Chỉ có những bậc Giác ngộ giải thoát mới thấu hiểu được trạng thái của Diệt đế là trở về với chơn tâm, phật tánh của chính mình, tu tập không còn tham sân si phiền não, không còn bị vô minh nghiệp chướng chi phối, là sự thật của xuất thế gian mà những người còn tham sân si không thể nào hiểu thấu.
Đạo đế là nhân xuất thế gian, là những pháp tu gồm có Tứ Niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ Như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề phần và Bát Chánh đạo phần. Để đạt được Diệt đế Niết Bàn cần tu chuyển hoá ba nghiệp, tu tập giới định tuệ để gột rửa tham sân si, vô minh nghiệp chướng trong lòng.
 Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển vận bánh xe Chánh pháp tại Lộc Giả Uyển độ năm anh em Kiều Trần Như đều đắc Thánh quả.  Đức Phật đã thị hiện trên cõi đời này lần đầu tiên thuyết minh về Tứ  đế. Cuối đời Ngài nói kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu triển khai vi diệu pháp đến đỉnh điểm mà trong kinh Pháp Hoa nói là Đại sự nhân duyên Đức Phật xuất hiện trên thế gian để khai thị chúng sanh ngộ nhập phật tri kiến. Ngài nói vô lượng pháp môn tu nhưng cuối cùng là để chúng sanh trở về lại với phật tri kiến của chính mình. Ngài xuất hiện để nói lại nguyên uỷ gốc gác của chúng sanh vốn là Phật, nhưng đã lãng quên rồi tạo nghiệp trầm luân khổ ải trong ba nẻo sáu đường, đó là bi kịch của thân phận chúng sanh.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện đản sanh, xuất gia, thành đạo, hoằng pháp rồi nhập Niết bàn. Đại sự nhân duyên Ngài xuất hiện trên cuộc đời mãi đến giờ hơn 26 thế kỷ. Nhân ngày khánh đản, người học Phật hãy làm sống dậy những giá trị cao quý của đạo Phật, bước đi trên lộ trình giác ngộ, tìm chân lý giải thoát, để mỗi mùa khánh đản trở về thừa hưởng pháp âm vi diệu, sưởi ấm bởi lòng từ bi vô hạn của Ngài mà chào đón một mùa khánh đản tràn đầy ý nghĩa. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016. MHDT.      
World Buddhist Flag.
                       
                   
The Buddha States in dashing colors
Green meditation does not leave the center leg
Mind away from wrecked delights mistakes
From the University of hull and almond seeding chon TAM linh

The only yellow himself clever
Deep thoughts the whole spectacle of human gratitude
Chief Justice Chief Justice professional leaders need life
Phuc Thien Nhan do maple tree planting TU top

Red color tones spiritual source
Adversity does not stabilise the melancholy hard coal
Bitter Newt not Typhoon
From dear refuge beyond the thousand stand up

The belief in g colors don't forget
White in color Turquoise makes fresh almond
A credit to the liturgical act
Flaming wait nice and Director like spike Ngoc Lien

Apartment Orange wisdom menopause tablets
Anniversary plan b. boundless wisdom Hai HA
From the immense mind
We could not escape beyond the life level lay

Five colors tung bay
Giant Orange France full of thousands of enemy surrendering rain
The si parameter yard pollution United Kingdom
 
END=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.

Tuesday, March 29, 2016


Cờ Phật Giáo Thế Giới.

                       
                   
Phật kỳ năm sắc rạng ngời
Màu xanh thiền định không rời chân tâm
Trí an xa đắm mê lầm
Từ thân đại hạnh gieo mầm chơn linh

Màu vàng duy chính anh minh
Nghĩ suy thâm thấu trọn tình nghĩa nhân
Chánh đời chánh đạo chuyên cần
Tu trồng cội phúc thiện nhân làm đầu

Nguồn tâm tinh tấn đỏ màu
Khó khăn nghịch cảnh không sầu lụy than
Bão giông cay đắng không màng
Từ thân nương tựa vượt ngàn đứng lên

Niềm tin son sắc không quên
Trắng trong màu ngọc làm nên hạnh lành
Một lòng tín sự phụng hành
Rực đợi đẹp đạo như cành ngọc liên

Màu cam căn tuệ mãn viên
Niệm định sinh tuệ vô biên hải hà
Đại từ tâm trí bao la
Độ đời vượt thoát ta bà không lay

Năm màu ngũ sắc tung bay
Cam lồ mưa pháp dâng đầy ngàn phương
Sân si tham nhiễm không vương
 
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2016.MHDT.
Phương pháp của Phật Thích Ca đem tất cả tương đối đều hoàn nguyên trở lại thành tuyệt đối cho nên tất cả đều là nguyên nhân tự kỷ (cội nguồn do mình), ngoài nguyên nhân tự kỷ ra chẳng có nguyên nhân nào khác, cho nên gọi là Vô-Dư-Niết-Bàn (14) cũng gọi là Vô-Lậu-Giải-Thoát (15). Đã chẳng có nguyên nhân nào khác tức là hoàn toàn tự chủ, hoàn toàn tự do bình đẳng, chẳng có giai cấp và xung đột.

Cái bản thể của tuyệt đối là như như bất động, nếu nó có biến động thì chẳng phải là tuyệt đối, nếu nó có biến động ắt phải có một thứ nguyên nhân nào khác hoặc sức mạnh lay động nó, ấy tức là tương đối rồi, nên chẳng thể được tôn xưng là Duy-Nhất-Nguyên Nhân của tuyệt đối.

Nhà triết học Immanuel Kant (1724-1804) nói:

"Mỗi mỗi cảm giác vui hoặc buồn chẳng phải do ngoài cảm giác ảnh hưởng mà sanh khởi, là do tình cảm của mỗi cá nhân tự mình sanh ra, vì vậy nên trong khi một người cảm thấy vui mừng thì người khác có thể cảm thấy chán ghét, một người vì ái tình đau khổ, trong khi kẻ tình địch thì cảm thấy sung sướng, cảm tình mỗi mỗi vốn là chẳng đồng là lại mong cầu một thứ cảm giác đồng nhất ấy là đều chẳng thể được, từ đây mà sanh ra tranh biện thực là ngu si.Xem như thế thì trên thế giới đâu có món nào chẳng phải tương đối, có gì là tiêu chuẩn chân chính, cho nên sự an lạc của tương đối đồng thời cũng là đau khổ.”



 "Con người mỗi mỗi tự tạo cho mình một cái "chuồng người”, nếu muốn ra khỏi nó phải làm siêu nhân, nhưng siêu nhân lại biến thành "chuồng người” nữa, bởi vì có một cái chuồng người giống như ác ma dính sát trên cơ thể con người mà nó chỉ biết đả phá chuồng người bên ngoài mà không chịu trở lại tìm chuồng người nơi bản thân mình để tự phá, cho nên mặc kệ ông chạy trốn đến chân trời góc biển nào đều chẳng thể thoát thân.Muốn tìm cách thoát ra, khôi phục tự do của loài người ấy là công lao của Immanuel Kant”.

Khi ông rõ được tác dụng của nhất niệm vô minh thì ông sẽ biết được tại sao tất cả đều thành "nhị” (tương đối), khi ông rõ được tác dụng tuyệt đối của Phật tánh thì ông sẽ hiểu được tại sao tất cả đều "bất nhị” (tuyệt đối) - nhưng chớ lầm nhận vô thủy vô minh là "cảnh giới bất nhị”, bề mặt nó dù giống "bất nhị” mà có chủng tử "nhị”, khi nhất niệm vô minh từ nó sanh khởi thì tất cả đều thành "nhị” rồi.

Khi tất cả đều thành "nhị” rồi thì sự vật ở ngay trước mặt ông, ông cũng chẳng có cách nào để biết được thực tướng của nó. Khi tất cả đều "bất nhị” thì sự vật dù ở xa ngoài địa cầu ông cũng được biết hết chẳng thiếu sót. Hiện tại ông biết như thế, quá khứ cũng phải như thế, vị lai cũng phải như thế, vì ông tự mình tức là tuyệt đối, tuyệt đối tức là ông, khi ấy ông đã siêu việt không gian và thời gian rồi.

Phật Thích Ca từng nói "Biết hết sự vật trong mười phương tam thế”, nếu ông hiểu rõ đạo lý tuyệt đối thì ông sẽ nhìn nhận lời của Phật Thích Ca rất chính xác. Cái sinh mạng vĩnh viễn không chết, cái chân lý vĩnh viễn không thay đổi, sự chính xác này đâu có gì để so bằng được, đâu có ý nghĩa gì có thể hơn nữa.

Từ xưa đến nay, tất cả nhà triết học chưa từng có người nào bước đến cửa tuyệt đối, lại chú ý những việc tương đối như thị phi, thiện ác, quá khứ vị lai, sanh trưởng hủy diệt, quyền lực sinh mạng v.v..., kết quả chẳng có một món nào chẳng bị chìm đắm nơi biển cả tương đối, theo Phật nhãn (16) mà xem xét ấy là ngu dại đáng thương xót biết bao! Cái hiệu quả của tư tưởng cảm giác chẳng qua là một phê phán điên đảo và trong "mở mắt chiêm bao” (17), do họ hôn mê và hiểu lầm làm cho cả loài người đều lọt vào vậng mạng bi thảm.

Bởi vì khổ với vui là tương đối chẳng thể phân chia, ví như trên mặt người có thể hiện ra hào quang vui vẻ cũng có thể đắp lên đám mây u sầu bi thảm. Hai cái buồn vui liên kết với nhau cho nên ai muốn được an vui tối cao ắt phải chuẩn bị lãnh thọ thống khổ tối cao, trái lại kẻ đã chịu đựng thống khổ nhiều nhất thì có thể cảm giác đến sự an vui nhiều nhất, bởi vì an vui và thống khổ đối đãi lẫn nhau, chẳng có thống khổ thì an vui cũng chẳng thể thành lập.

Kỳ thật, khổ vui đều là hóa thân của nhất niệm vô minh, nhất niệm vô minh ẩn giấu nơi hầm sâu của vô thủy vô minh tức là cái kho tàng bí mật thâm sâu của A-lại-da-thức (18). Khi nhất niệm vô minh chạy ra khỏi cửa bí mật đó liền biến thành những thứ tình cảm mừng giận buồn vui mỗi mỗi chẳng đồng chen vào tâm trí của ông để chi phối ông, lúc ấy ông đã thành một người múa rối rồi.

Nếu ông không chịu làm người múa rối thì phải lợi dụng trí Bát Nhã (tham Thoại-đầu (19)) theo sát dấu chân của nhất niệm vô minh, tìm đến chỗ ẩn thân của nó là hầm sâu vô thủy vô minh để phá hủy ngay thì màn đen của vô thủy vô minh được mở ra, sợi dây khống chế người múa rối được cắt đứt, bổn lai diện mục liền xuất hiện, lúc ấy tất cả mừng giận buồn vui đều biến thành tuyệt đối của Phật tánh, tất cả đều do bản năng tuyệt đối tự mình làm chủ.

Trước khi kẻ tương đối bị vô minh chi phối nay liền được giải thoát, tất cả đều trở về chân thực tuyệt đối.

Khi tất cả đã trở về tuyệt đối thì khổ và vui bình đẳng, tất cả hình thức và danh dự bình đẳng, cái bản năng của tuyệt đối đứng trên đài tư lệnh phát huy lệnh tuyệt đối khiến khắp cả vũ trụ đều biến thành hoàn toàn tuyệt đối. Chỉ có trên quốc độ tuyệt đối mới có sự giải thoát chân chính, mới có sự tự do chân chính, mới có bình đẳng chân chính, chẳng phải do ai kiến tạo mà bổn lai vốn như thế.

Cái bản nguyện tự tánh của chúng sanh vốn là tuyệt đối tự do và bình đẳng, cái tự do bình đẳng này hễ đắc được rồi thì vĩnh viễn không thể biến mất vì nó là từ vô thủy bổn nhiên như thế.

Hiện nay có một số người tự cho mình là tư tưởng cao siêu, đứng trước thời đại hô to khẩu hiệu tranh thủ tự do bình đẳng. Kỳ thực, họ chưa hiểu được ý nghĩa chân chính của tự do bình đẳng, cái tự do bình đẳng trong tâm trí họ chẳng qua là một thứ tự do bình đẳng tương đối có giới hạn mà thôi. Bởi vì họ đã chịu đựng đủ thứ thống khổ đàn áp, bó buộc của tương đối cho nên mới nghĩ đến cần và quý sự tự do bình đẳng, cũng vì tầm nhìn của họ có giới hạn chẳng thể đạt đến ngoài vòng tương đối cho nên lấy tự do bình đẳng của tương đối làm thỏa mãn làm mục tiêu để tranh thủ mà thôi.

Phật Thích Ca đã đến chỗ tự do bình đẳng tuyệt đối siêu việt tương đối nên Ngài dẫn dắt đại chúng tranh thủ nó. Ngài nhận rằng sự tự do bình đẳng của tương đối vẫn không siêu việt biển khổ của luân hồi, bị hạn cuộc ở trong không gian thời gian, chẳng thể duy trì lâu dài, là biện pháp không rốt ráo.

Mặc dù chúng ta chẳng thể không thừa nhận sự tương đối trên thế giới, sự tự do bình đẳng của tương đối so với cái khác thì tốt đẹp hơn tiến bộ hơn, đáng khen hơn, nhưng khi chúng ta đã biết được có một thứ tự do bình đẳng tuyệt đối có thể đạt đến thì nên bỏ cái kia để lấy cái này. Nếu lấy được tuyệt đối rồi thì không còn sự bỏ và lấy của tương đối nữa.

Câu nói tự do bình đẳng này trước tiên là từ trong miệng Phật Thích Ca nói ra, Ngài là người đầu tiên dẫn dắt loài người tranh thủ tự do bình đẳng nhưng ngày nay đã bị người ta quên mất lại cho Ngài là một vị thần hoặc chúa tể, là một quái vật mê tín chẳng thể hiểu. Thật là không bình đẳng biết bao!
Thật là ngu dại quên cội nguồn biết bao!

Xin ghi nhớ rằng sự tự do bình đẳng của tuyệt đối là trung tâm tư tưởng của Phật, trong kinh điển Đại-Thừa có phát huy rằng : "Đắc đại giải thoát, đắc đại tự tại cho đến định huệ bình đẳng (20), tất cả bình đẳng v.v...” đều là nghĩa này, chẳng phải lời nói suông mà là thực tại có thể đạt đến, là lý lẽ vĩnh viễn chẳng biến đổi.

Chúng ta nếu thực hành theo tinh thần cứu thế của Bồ Tát (21) thì nên đưa Phật pháp vào trào lưu triết học thế giới cho nó tự phát khởi tác dụng. Dù người ta xem nó như một khúc cây vẫn còn có chỗ để dùng, cũng có thể được một đại nhân duyên xuất hiện trên đời một lần nữa cũng không chừng. Ít nhất so với việc thăng tòa giảng kinh thâu mấy bà lão thiện lương làm đệ tử quy y còn có tác dụng khá hơn, lại có thể nối tiếp huệ mạng Phật hoặc mở rộng huệ mạng Phật. Nhưng công việc này rất phức tạp khó khăn, chúng ta vì muốn khuyến nhủ nhà triết học đối với Phật pháp sanh khởi hứng thú, chúng tôi nguyện đem Phật pháp chỉnh đốn thành một thế hệ sáng tỏ chính xác cho một số người nghiên cứu dễ tiến vào khu vườn đã bị quên lãng từ lâu này, cho nên không tránh khỏi sự trào phúng cho là miễn cưỡng theo đuổi, khổ tâm này mong sẽ được những bậc trí thức tha thứ cho.

Phật Thích Ca cùng môn đồ phát huy pháp môn bốn thừa (22) là một quá trình biện chứng, trong quá trình này phủ định lại thêm phủ định, mâu thuẫn lại thêm mâu thuẫn, bởi vì bản thân của pháp môn này tức là tương đối mà chẳng phải tuyệt đối. Cho nên có đại thừa tiểu thừa, các tông phái đối lập với nhau, phân chia rồi lại thống nhất, nhưng trung tâm tư tưởng của Phật Thích Ca thì là bản thể tuyệt đối (chân như) và phát huy ra tự do bình đẳng tuyệt đối, nghĩa là dù trải qua vô tận thời gian cũng chẳng thể thay đổi chút nào, bởi vì nó đã đạt đến tuyệt đối tức là chân thực cuối cùng, tất cả đã được khẳng định mà chẳng thể phủ định nữa.

Pháp môn bốn thừa chẳng qua là một thứ phương tiện đưa người đến cửa tuyệt đối mà bản thể tuyệt đối là mục đích cuối cùng, đạt đến mục đích rồi thì phương tiện cũng phải bỏ hẳn.

Giá trị chân chính của Phật Thích Ca là đặt trên bản thể tuyệt đối cuối cùng, hễ đến bản thể tuyệt đối này thì tất cả vấn đề tương đối như sanh tử, thiện ác, tồn tại và hủy diệt v.v.... đều tự nó giải quyết xong.

Người nghiên cứu Phật pháp trước tiên nên rõ điểm này rồi đối với Phật pháp mới khởi sanh ra sự hiểu lầm, như phương pháp tiểu thừa là ngưng nghỉ lục căn mà trung thừa thì lại phản đối ngưng nghỉ lục căn mà ngưng nghỉ nhất niệm vô minh, phương pháp của đại thừa thì phản đối cả ngưng nghỉ lục căn và nhất niệm vô minh mà lợi dụng lục căn và nhất niệm vô minh để phá vô thủy vô minh, tối thượng thừa thì trực tiếp biểu thị Phật tánh tuyệt đối, nếu người học công phu thuần thục "chạm nhằm cơ duyên” liền được tiến vào cửa tuyệt đối.

Bốn thừa khác biệt và đối lập thực là mâu thuẫn biết bao, nhưng hễ bước lên khu vườn tuyệt đối thì tất cả mâu thuẫn kể trên liền biến thành hoàn toàn thống nhất.

Xưa nay nhà triết học Tây phương và Đông phương chưa thấy rõ toàn diện của Phật pháp, thường hay lấy một bộ phận nhỏ trong quá trình Phật pháp bèn tự cho là toàn bộ Phật pháp như thế này hoặc như thế kia, từ đó phồng mang trợn mắt hồ đồ dùng ngòi bút sắc bén của họ để phê bình công kích Phật pháp tự thấy đắc ý mà chẳng biết Phật Thích Ca nghe xong cũng không nổi giận mà lại tỏ vẻ nhân từ rằng : "Chúng sanh thiếu thốn trí tuệ như thề, thô thiển như thế, hiểu lầm ý nghĩa và mục đích cuối cùng của tôi, thật là rất đáng thương xót.”

Có người thấy sự dứt lục căn của tiểu thừa bèn quả quyết rằng Phật pháp là chủ nghĩa diệt dục.

Có người thấy sự dứt tư tưởng (nhất niệm vô minh) của Trung thừa lọt vào chấp "không” bèn quả quyết rằng Phật pháp là chủ-nghĩa hư-vô.

Có người thấy Phật pháp phủ định tất cả bèn quả quyết rằng Phật pháp là chủ nghĩa tiêu cực.

Những người đánh giá như thế còn là người thông minh đáng kính và tự cho là có học thức về triết học, còn bọn thô thiển thiếu trí thức xưa nay chưa từng xem qua một cuốn kinh sách Phật nào, chỉ dựa theo con mắt ngu dại của họ, thấy một số thiện nam tín nữ cúng kiếng lễ bái liền lớn tiếng la lên rằng : "Ấy là qủy thần giáo, ấy là tôn giáo mê tín”.

Học giả Tây Phương xưng Phật pháp là Buddistic Nihlism (Thuyết Hư Vô của Đạo Phật) tức là bằng chứng nhận lầm phương pháp của tiểu thừa cho là toàn diện của Phật pháp. Kỳ thực trung tâm tư tưởng của Phật pháp là bản thể tuyệt đối chân thật chẳng phải quan niệm hoặc tượng trưng, cũng như một vật cụ thể rất chân thật có thể dùng tay cầm nắm được cho nên Phật Thích Ca gọi nó là thực tướng, nay đem thực tướng xem thành hư vô há chẳng phải hoàn toàn trái ngược ư!

Đối với người trung thừa lọt nơi hư vô, tiểu thừa diệt dục dứt lục căn, Phật Thích Ca luôn luôn chỉ trích mắng họ vô dụng như "tiêu nha bại chủng” - hạt lúa bị cháy không thể làm giống được nữa - (ghi trong kinh Niết Bàn), ý là muốn họ vượt qua hư vô để tiến lên Đại thừa.

Phật Thích Ca thường dùng khẩu hiệu "đại vô úy, sư tử rống (23)” hiệu triệu quần chúng và thúc đẩy môn đồ khiến họ dũng mãnh tiến tới cho đến quốc độ tuyệt đối cuối cùng, rồi cả thế giới ô uế đều biến thành thế giới trong sạch tự do bình đẳng, chẳng tiếc hy sinh tất cả để đạt đến mục đích này. Hành vi tích cực như thế có lẽ nào bị xem là tiêu cực!

Nói đến phương diện mê tín nên truy cứu theo truyền thống của dân tộc tính, hiện tượng mê tín này trong quá trình biện chứng từ mê tín tiến lên đến chánh tín cũng là điều ắt phải có. Hiện tượng này sanh ra rồi cũng phải bị phủ định, chẳng dính dáng với trung tâm tư tưởng của Phật bởi vì sự trang nghiêm của tự tánh không một ảnh tượng nào của tương đối có thể ô nhiễm được.

Phật Thích Ca dạy bảo chúng sanh bước thứ nhất là muốn chúng sanh tin rằng : "Tự kỷ tức là Phật chẳng có chúa tể khác”. Chúng ta ngày nay sở dĩ thành con người là hoàn toàn do tự mình tạo thành theo luật nhân quả "gieo nhân nào thì được quả nấy”, nếu chúng ta muốn thành Phật cũng chỉ nhờ tự mình nỗ lực tự tu tự chứng, Phật Thích Ca chẳng qua chỉ là một đạo sư mà chẳng phải chúa tể, Ngài chỉ có thể dẫn dắt ông đến trước cửa tuyệt đối, vào được hay không được là việc của ông, theo đó mà xem thì còn có ý gì gọi là thần bí và mê tín.

Một số truyện tích kỳ lạ trong kinh điển cũng chẳng phải mê tín hoặc thần thoại, ấy là hình thức văn học của dân tộc Ấn Độ. Người Ấn Độ từ xưa nay hay làm những tác phẩm ngụ ngôn tuyệt diệu như những sách cầm dụ, thú dụ v.v.... Bậc thánh của Phật Giáo đem lý Phật nạp vào trong hình thức của truyền thống này để mong sự truyền bá thu hoạch được hiệu quả rộng lớn hơn, vì theo lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ để biểu thị chỉ có thể nhờ những truyện tích kỳ dị mong cho con người được khai phát trí huệ phần nào. Như Kinh Lăng Nghiêm nói : "Phật bảo A-Nan : Hôm nay Như Lai nói thật với ngươi những người có trí cần phải dùng thí dụ mà được khai ngộ.”
Chúng ta nên ghi nhớ rằng chúng ta học Phật pháp là vì muốn phủ định sanh tử tiến vào tuyệt đối để rồi độ chúng sanh, chẳng muốn làm cho đầu óc mình bị hồ đồ thêm hoặc là cư trú trong màng lưới của pháp-chấp cho là chỗ an thân lập mạng của mình.

Trong Đại tạng kinh có nhiều kinh điển hoàn toàn dùng phương thức ngụ ngôn viết thành như : Lục Độ Tập Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, Bá Dụ Kinh,
Tạp Thí Dụ Kinh, Đại Trang Nghiêm Kinh, Soạn Tập Bá Duyên Kinh, Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh, Tạp Bảo Tạng Kinh v.v... giá trị văn học rất cao.

Tổ sư ngộ đạo Thiền Tông đối với ngụ ngôn trong kinh đều dùng thái độ tuyệt đối để quét sạch nghi hoặc của con người. Hiện nay đề ra một chuyện để dẫn chứng : Như trong Thích Ca phả nói Thích Ca ra đời, Đông Tây Nam Bắc mỗi phương bước đi bẩy bước, mắt nhìn bốn phương một tay chỉ trời một tay chỉ đất rằng : "Trên trời dưới đất duy ngã độc tôn”, ấy là biểu thị Phật tánh từ thể khởi dụng "đứng cùng tam thế ngang khắp mười phương”, nghĩa là cùng khắp thời gian và không gian, cũng là tuyệt đối chẳng hai.

Kẻ không hiểu ý nghĩa ngụ ngôn thường cho là thần thoại do bày đặt mà ra, hoặc cho Phật Thích Ca là chúa tể kiêu mạn hoặc độc tài không có bình đẳng, kẻ ngu dại lại cho Phật Thích Ca là sinh ra có thần tánh đặc dị, ấy đều là không rõ cách diễn tả về văn học của ngụ ngôn Ấn Độ và trong đó có ám thị lý tuyệt đối.

Có người đem truyện trên hỏi Vân Môn Thiền Sư, Vân Môn nói : "Khi ấy nếu tôi gặp thấy, một gậy đánh chết cho con chó ăn để mong thiên hạ được thái bình”. Sau này Lăng Nha Thiền Sư bình phẩm Vân Môn về công án này rằng : "Hết lòng phụng sự vô số cõi, ấy mới gọi là đền ơn Phật.”

Vậy mới biết thái độ của Tổ Sư Thiền Tông đều là sáng tỏ chính xác mà không thoả hiệp với kẻ khác, bởi vì đã tiến vào tuyệt đối nên chẳng có kẻ nào làm lay động được (Phật Thích Ca ám thị nghĩa bất nhị, Vân Môn cũng ám thị nghĩa bất nhị).

Người nghiên cứu Phật pháp chớ nên xem theo các thứ mầu sắc kỳ lạ của lớp áo ngoài, áo ngoài ấy chẳng qua là những đặc tính của dân tộc, trải qua bao nhiêu không gian thời gian kết hợp những hình thức mâu thuẫn như quan niệm truyền thống, phong tục tập quán mà thành. Trái lại nên cho ánh sáng con mắt thấu qua lớp áo ngoài mà nhìn vào tinh túy của Phật pháp, ấy mới là chân lý của tuyệt đối không bao giờ biến đổi.

Các tông Đại Thừa đều có một bộ áo ngoài của họ gồm đủ mầu sắc kỳ lạ khiến người xem cảm thấy kinh ngạc và chới với, ông chẳng nên bị nó làm cho kinh sợ mà lui sụt. Ông nên xem rõ các công năng chính xác của nó chẳng qua là muốn từ tương đối đạt đến tuyệt đối, khi đến tuyệt đối rồi liền bỏ hẳn nó đi.

Các nhà triết học Tây Phương thế kỷ 18 đều cho Arthur Schopenhauer chịu ảnh hưởng nhiều của Phật pháp Đông Phương, ông ấy phủ định lý chí, phủ định khái niệm, phủ định tất cả, cuối cùng lại được một chữ vô, vì vậy nói ông ấy là tiêu cực. Chúng ta thừa nhận A. Schopenhauer chịu ảnh hưởng của Phật pháp kết quả được chữ vô thành tiêu cực ấy cũng là lẽ dĩ nhiên, nhưng A. Schopenhauer chịu ảnh hưởng của Phật pháp về giai đoạn nào mà được kết quả này, điểm này rất cần chú ý, chúng ta nên xét cho rõ chớ nên hàm hồ làm cho người đời sau hiểu lầm.

Thực ra sai lầm của A. Schopenhauer là vì đem tiểu thừa của Phật pháp cho là toàn diện của Phật pháp, ông chỉ biết phủ định tất cả mà chưa đạt đến chỗ khẳng định tất cả, nên ông bị chữ vô cuốn ngã đọa vào hầm sâu đen tối mênh mông. Ông ấy tiếp thụ khổ quán của tiểu thừa mà chủ trương phủ định dục vọng, phủ định tất cả, xem giống như hình thức Đông Phương, nhưng ông không tiếp thụ phương pháp dứt lục căn của tiểu thừa, ông không chịu đóng bít cánh cửa cảm giác mà muốn dùng nghệ thuật âm nhạc để mong đắc Niết Bàn nghĩa là lại trở thành hình thức Tây Phương vậy.

A. Schopenhauer muốn dùng nghệ thuật âm nhạc để cầu giải thoát, cầu tạm thời tiêu diệt cái ngã của cá nhân, mong tạm thời giải toả tất cả dục vọng thống khổ nhưng ông chẳng biết làm như thế cái ngã cá nhân tạm thời tiêu diệt đó khi ấy đã thấm nhập trong cái ngã của nghệ thuật âm nhạc rồi. Cái ngã của nghệ thuật âm nhạc này tức là pháp ngã, cũng gọi là pháp chấp, vẫn bị thời gian không gian hạn chế, ấy là giải thoát của tương đối chẳng phải giải thoát của tuyệt đối. Khi thời gian không gian chuyển biến thì ông sẽ lại rơi trở lại trong gông cùm của tự ngã nữa.

A. Schopenhauer dùng phương pháp của hình thức Tây Phương để mong thu nhiếp nhất niệm vô minh vào một cảnh giới đơn thuần để được tự do an lạc, thực tế thì chẳng khác gì với chủ nghĩa ma túy. Ông dùng nghệ thuật âm nhạc để làm say mê con người, như vậy so với việc dùng rượu chè mỹ nữ cũng để làm say mê con người đâu có cao hơn bao nhiêu?

Người tiểu thừa đóng bít cánh cửa cảm giác, người Tây Phương xem thế lấy làm kinh sợ cho nên họ không dám đi theo thử mà lại dùng một cách khác với mức độ nhẹ hơn, nhưng cả hai đều sai lầm vì cùng là phương pháp tương đối, chẳng thể đạt đến Niết Bàn của tuyệt đối.

Cái ngã của triết học Tây Phương tức là nhất niệm vô minh của Phật pháp, cái vô ngã của triết học Tây Phương tức là vô thủy vô minh của Phật pháp.
Nhất niệm vô minh bắt đầu tức là tự ngã bắt đầu, khi nhất niệm vô minh trở về cảnh giới vô thủy vô minh tức là vô ngã vậy. Lúc vô thủy vô minh bị kích thích mà tái phát nhất niệm vô minh nghĩa là từ cảnh giới vô ngã té trở lại cảnh giới ngã vậy. Ngã và vô ngã là tương đối, thay phiên nhau không chừng cho nên chẳng phải thực tại của tuyệt đối.Âm nhạc là hóa thân của nhất niệm vô minh, nó có thể thu nhiếp cả vũ trụ tư tưởng cảm giác vào trong hơi thở của sinh mạng nhờ vậy mà nhất niệm vô minh, qua sự cảm giác của nhĩ căn, đắc được Niết Bàn của tương đối. Khi nhĩ căn đắc được Niết Bàn tạm thời thì ngũ căn kia cũng đồng thời được cùng một hiệu quả, lúc ấy, tức là nhất niệm vô minh hồi phục lại trạng thái nguyên thủy (vô thủy vô minh).

Người tiểu thừa dứt lục căn là lợi dụng ý căn thuộc về phạm vi tư tưởng, ấy là lợi dụng pháp ngã ở cấp tối cao. Người tiểu thừa dứt lục căn là mong đóng bít cánh cửa tư tưởng cảm giác khiến hoàn toàn cách tuyệt với tự ngã, lúc ấy, trong tâm thanh thanh tịnh tịnh cảm thấy an lạc, nhưng muốn duy trì cảnh giới thanh tịnh thì chẳng thể buông bỏ cái nhất niệm của thanh tịnh, cho nên lúc ấy nhất niệm vô minh dù về nơi thống nhất nhưng chưa phải hoàn toàn ngưng nghỉ vẫn bị không gian thời gian hạn chế. Lúc không gian đổi dời, thời gian qua đi tức là âm nhạc đã hết, vở kịch diễn xong, tai mắt lìa khỏi nghệ thuật từ trong cảnh định của tiểu thừa chạy ra rồi cũng phải té trở lại trong gông cùm của tự ngã.

Người trung thừa thì muốn nhờ pháp ngã để mong đắc được giải thoát, nhưng chẳng biết giải thoát ấy chưa đến cứu kính nên họ từ Tiểu thừa tiến thêm một bước đem nhất niệm vô minh hoàn toàn ngưng nghỉ tức là đem tư tưởng cảm giác hoàn toàn tiêu diệt. Cảnh giới lúc ấy rất đáng kinh sợ, là vô tri vô giác, chỉ còn hô hấp chưa ngưng nghỉ ngoài ra hoàn toàn đồng như gỗ đá, mênh mông trống rỗng chẳng còn gì cả. (Cái vô của Arthur Schopenhauer chẳng qua là cái vô trên lý luận, còn cái vô của trung thừa này là cái vô trên thực nghiệm).

Cái cảnh giác vô do thực nghiệm sở đắc này tức là cái cảnh giới vô thủy vô minh vậy. Cảnh giới này giống như thuần nhất cho nên nhiều người nhận lầm cho đó là bản thể cuối cùng của tuyệt đối, nhưng cảnh giới vô thủy vô minh này vẫn còn chủng tử tập khí rất vi tế, chủng tử này bao gồm tinh thần lẫn vật chất, đương lúc ẩn giấu giống như rỗng không nhưng hễ bị kích thích liền phát sinh thành nhất niệm vô minh. Cho nên vô thủy vô minh với nhất niệm vô minh tức là tương đối, tức là đại diện cho Vô và Hữu. Một là thể một là dụng, một là tịnh một là động, từ thể khởi dụng tức là nhất niệm vô minh, tức dụng quy thể là vô thủy vô minh, thay phiên tuần hoàn, có sanh có diệt, chẳng phải bản thể tuyệt đối cuối cùng, bản thể tuyệt đối là bất sanh bất diệt phi động phi tịnh.

Cái lầm nhận cảnh giới vô thủy vô minh cho là bản thể tuyệt đối cuối cùng này Phật Thích Ca gọi nó là Không Chấp. Cần phải đả phá không chấp này mới có thể đạt tới bản thể tuyệt đối cuối cùng tức là chân như Phật tánh. Cái phương đả phá không chấp này chẳng phải Lý Luận mà là Thực Chứng (cần phải tham cứu Tổ Sư Thiền mới có thể thực chứng được.)

Cái bản thể tuyệt đối cuối cùng này nếu chẳng phải chân thật đạt đến thì những lời nói kể trên đều biến thành hư vọng suông mất rồi. Nhưng tôi dám quả quyết rằng cái bản thể tuyệt đối là chân thật có thể chứng nhập. Phật Thích Ca đã đích thân chứng nhập bản thể này, về sau có rất nhiều tổ sư, hành giả cũng dùng phương pháp của Phật Thích Ca và đã chứng nhập bản thể tuyệt đối này, có kinh điển đại thừa và tổ sư ngữ lục để chứng minh đời nào cũng có chư tổ kiến tánh thành Phật cho đến cá nhân tôi sở dĩ dám cả gan trình bày như thế cũng là vì sở chứng của tôi với sở chứng của Phật Thích Ca hoàn toàn đồng nhất.

A. Schopenhauer tự mình chưa đạt đến cảnh giới cuối cùng, ông chẳng dùng phương pháp đại thừa để chứng thực mà chỉ nhờ tư tưởng cảm giác suy luận, kết quả lọt nơi rỗng không. Ông chỉ biết cảnh giới cuối cùng là vô ý chí, vô quan niệm, vô thế giới, ấy là nhận lầm cảnh giới vô thủy vô minh cho là cảnh giới tuyệt đối cuối cùng mà chẳng biết khi chứng nhập tuyệt đối rồi thì ý chí, quan niệm, thế giới đều được khẳng định trở lạk, đều là tồn tại của tuyệt đối.

Trong kinh điển đại thừa của Phật Thích Ca luôn luôn biểu thị tuyệt đối, lịch đại tổ sư thường dùng hét gậy chửi mắng cũng để biểu thị tuyệt đối. Các ngài gặp mặt trình nhau trọn vẹn đưa ra, chỉ đáng tiếc là ông không chịu thừa đường, chẳng thể lãnh ngộ mà thôi. Ví như Phật Thích Ca đem pháp thiền trực tiếp của Đại thừa tuyệt đối truyền lại cho người đời sau, ấy là kinh nghiệm quý báu của Ngài tự đã chứng qua, nếu ông không chịu theo phương pháp ấy thực hành thì cũng như có chìa khóa mà không chịu mở khóa rương thì làm sao đắc được bảo vật trong rương vậy.

Hai câu danh tiếng : "Sắc tức thị không, Không tức thị Sắc” trong Bát Nhã Tâm Kinh thường bị một số người hiểu lầm lạm dụng dẫn chứng giải thích bậy bạ. Theo đúng ý kinh là : "Hiện tượng tức là Bản thể, Bản thể tức là Hiện tượng”, bởi vì lúc ấy tất cả hiện tượng và sắc chất chướng ngại đều biến thành tuyệt đối mà chẳng thể phân chia, tinh thần và vật chất đến đây đều biến thành bản thể của tuyệt đối, duy tâm luận với duy vật luận đến đây mới bỏ hết oán thù từ xưa nay, hai phái hoan hỉ hòa hợp thành một chẳng còn gì khác biệt nữa. Ấy là công lao vĩ đại của Phật Thích Ca nay tôi trình lại với
đại chúng xem cho minh bạch.

Thiền Tông vốn không có áo ngoài bởi vì họ dùng "bất lập văn tự chỉ thẳng tâm người” làm tông chỉ. Nếu chúng ta nhất định muốn tìm ra cái áo ngoài của Thiền tông vậy thì những cách chư tổ thường dùng để tiếp dẫn người mậu học như phương pháp hét gậy chửi mắng và những lời nói cử chỉ kỳ lạ ghi trong lịch sử Thiền tông tức là cái áo ngoài chẳng thể biết của họ vậy.

Thiền tông cũng là từ tương đối tiến vào tuyệt đối, là pháp thiền rất trực tiếp chẳng phải qua nhiều lớp phủ định, chỉ có một phủ định sau cùng, tức là phương pháp trực tiếp đả phá vô thủy vô minh thẳng vào quốc độ tuyệt đối chân như. Nhưng sau khi ông tiến vào tuyệt đối thì cái áo ngoài chẳng thể biết ấy ông lại có thể biết được những lời nói cử chỉ kỳ là như hét gậy chửi mắng v.v..... vốn là trực tiếp biểu thị thể dụng của tuyệt đối. Lúc ấy, nhân sinh vũ trụ vạn sự vạn vật đều trở nên tuyệt đối, đều được khẳng định lại vậy

Triết học Tây Phương chỉ có hai giai đoạn ngã chấp, pháp chấp ở trong phạm vi nhất niệm vô minh tức là tư duy và lý niệm. Tư duy lý niệm đều là hóa thân của nhất niệm vô minh cũng là tác dụng của bộ não.

Mục đích của Triết học Tây Phương ở nơi truy cứu lý, tìm hiểu biết nên không chịu lìa nhất niệm vô minh, tại vì hễ vào phạm vi vô thủy vô minh thì cảm thấy mênh mông trống rỗng chẳng có lý gì để truy cứu chẳng có điều hiểu biết gì để tìm, trái với mục đích của họ. Nên nhà triết học Tây phương từ xưa nay chưa ai tiến vào cảnh giới vô thủy vô minh, không vào cảnh giới vô thủy vô minh thì chẳng thể phá vỡ không chấp cũng chẳng thể tiến vào tuyệt đối.

Mục đích của nhà triết học Tây phương là cứu lý tìm hiểu mà mục đích của người tu trì Phật pháp ở nơi liễu sanh thoát tử.

Triết học Tây Phương chú trọng lý luận mà Phật pháp thì chú trọng thực tiễn nghĩa là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng đến tuyệt đối.

Các thứ học thuyết của khoa học Triết học tung ra đủ thứ đủ loại, bề ngoài so với Phật pháp hình như phong phú hơn, nhưng đều thuộc về chân lý tương đối, chẳng ai đạt đến tuyệt đối, vì bản thân của nhất niệm vô minh chính là tương đối vậy.

Phật pháp vì xét thấy nhất niệm vô minh hư huyễn chẳng thật nên siêu việt nhất niệm vô minh thẳng vào giai đoạn vô thủy vô minh rồi lại phủ định giai đoạn vô thủy vô minh để đạt đến bản thể tuyệt đối cho nên nhà Phật rất chú trọng phương pháp thực hành.

Giai đoạn ngã chấp là giai đoạn tiểu thừa, người tiểu thừa cho ngã với thế giới vạn vật đều là thật có, là kẻ chủ quan duy vật luận, chỉ hướng ngoại quan sát, tất cả đều lấy cảnh ngoài làm đối tượng để quan sát, cho nên phương pháp của họ cũng là lấy vật làm đối tượng.

Họ xem thế giới vạn vật đều ở trong quá trình thành trụ hoại không, còn loài người thì ở trong quá trình sanh-trụ-dị-diệt, tuần hoàn không dứt. Ở đây họ phát hiện cội nguồn của tương đối, nghĩa là tất cả đều ở nơi sanh thành và hoại diệt, ấy là mâu thuẫn tự nhiên, là vô thường. Tất cả mâu thuẫn và vô thường sanh ra khổ não và bất an. Họ muốn vượt qua vòng này cho nên mong cầu "thường”, mong cầu bất sanh bất diệt, đối với nhân sanh thì mong cầu liễu sanh thoát tử.

Họ cho rằng muốn giải thoát sự mâu thuẫn và khổ não của sanh tử duy có phủ định tự ngã, muốn phủ định tự ngã duy có đoạn diệt lục căn vì tất cả khổ não đều do lục căn chiêu tập vào vậy.

Nhà Triết học Hòa Lan Benedick, Baruch de Spinoza (1632-1677) cho rằng : "Muốn nghiên cứu hình thái tư duy nhất định của tinh thần con người trước tiên cần phải nghiên cứu sự hoạt động của cơ thể.”. Việc này so với người tiểu thừa đem khổ não quy về trên lục căn là có chỗ giống nhau vậy.

Giai đoạn tiểu thừa này thành lập quá trình nhận thức là sắc thọ tưởng hành thức, gọi là ngữ uẩn (24), cũng là lấy vật làm đối tượng. Sắc tức là hiện tượng tự nhiên của ngoại cảnh, Thọ là lục căn thu nhiếp hiện tượng tự nhiên vào, tưởng là chịu ảnh hưởng rồi sanh khởi tư tưởng, hành là do tư tưởng mà hành động, thức là do kinh nghiệm hành động mà được nhận thức.

Hai chữ Thanh-Văn (Văn Phật Thanh Giáo : nghe tiếng Phật dạy mà ngộ đạo gọi là Thanh-Văn), cũng có ý nghĩa duy vật tức là vật (âm thanh) từ bên ngoài vào trong vậy.

Phương pháp dứt lục căn tức là đóng bít cánh cửa tư tưởng cảm giác khiến trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chẳng bị ảnh hưởng bên ngoài. Hiện tượng bên ngoài là mâu thuẫn xung đột, đã chẳng vào được tức là không có "Thọ”, đồng thời đem ý căn ngưng lại thì không có "Tưởng”. Lúc này trong tâm chỉ còn nhất niệm thanh tịnh, nhất niệm này tức là nhất niệm vô minh, nó dù tạm thời ngưng lại nhưng vẫn chẳng thoát khỏi tác dụng của cơ thể, phải chịu hạn chế của thời gian. Cho nên người tiểu thừa nhập định dù trải qua bao nhiêu thời gian đi nữa cũng chẳng thể duy trì mãi, cần phải xuất định, huống là khi đóng bít các cửa lục căn vẫn cần phải có một niệm thanh thanh tịnh tịnh để duy trì nó cũng là việc cần phải ra sức.

Hễ xuất định thì đọa trở lại trong gông cùm tư tưởng cảm giác của tự ngã, cho nên người tiểu thừa mặc dù muốn phủ định ngã chấp nhưng kết quả vẫn không thể vượt ra ngoài phạm vi của ngã chấp.

Nhà triết học Hy Lạp Plato chia ra hai thứ hiện thực, một thứ là thế giới cảm giác của tương đối, một thứ khác là thế giới lý niệm của tuyệt đối (kỳ thực thế giới lý niệm vẫn là tương đối, chưa vượt qua phạm vi nhất niệm vô minh). Ông mong siêu việt thế giới cảm giác mà tiến vào thế giới lý niệm nhưng ông chẳng có cách nào vĩnh viễn sinh tồn nơi thế giới lý niệm của ông, kết quả vẫn đọa lại gông cùm của thế giới cảm giác.

Cái mong cầu siêu việt cảm giác đó cũng giống như người tiểu thừa. Người tiểu thừa đem cánh cửa tư tưởng cảm giác hoàn toàn đóng bít mà Plato thì ở trong tư tưởng khai thác một thế giới khác để mong làm chỗ giấu thân. Nhưng nói đúng sự thực thì thế giới của ông vẫn còn ở trong phạm vi nhất niệm vô minh, chẳng qua chỉ là từ đầu này (cảm giác) chạy qua đầu kia (lý niệm), rốt cuộc vẫn chưa ra khỏi "chuồng người).

Cho nên phương pháp phủ định ngã chấp của tiểu thừa đã thất bại, phải đến bàn tay người trung thừa phương pháp phủ định ngã chấp mới được hoàn thành.

Giai đoạn pháp chấp : người trung thừa xét thấy sự hướng ngoại quan sát là không đúng, cái kết quả đoạn dứt lục căn của tiểu thừa chẳng thể siêu việt phạm vi nhất niệm vô minh, do đó quay đầu lại hướng trong tâm quan sát thấy tất cả tương đối đều từ nhất niệm vô minh sanh khởi. Giữa các thứ đối lập có một sự tác dụng liên kết làm nhân duyên với nhau, ly hợp vô thường, khi hợp thì sanh khi ly thì diệt, ví như cơ thể do tứ đại và ngũ uẩn hợp thành, tứ đại ngũ uẩn ly tán thì cơ thể liền tiêu diệt, cơ thể đã diệt thì cái ngã chẳng thể tồn tại, cho nên nói : "Tất cả vạn vật đều là "khởi duy pháp khởi, diệt duy pháp diệt”, ngoài nhân duyên ly hợp ra tất cả đều chẳng thể tồn tại.”

Trung thừa dùng Thập Nhị Nhân Duyên để giải thích quá trình của nhân sanh (tức là vô minh - là nhất niệm vô minh chẳng phải vô thủy vô minh - duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão Tử), mười hai nhánh này bao gồm quá trình tuần hoàn của tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai).

Vô minh tức là nhất niệm vô minh (cũng gọi nhất niệm vọng động tánh, vì bất giác khởi niệm sanh ra các thứ hoạt động gọi là Hành, hai nhánh này là nhân sở tác của kiếp trước; Thức là do hành động mà tạo thành nghiệp thức, ví như thân trung ấm bị nghiệp lôi kéo mà đến đầu thai; Danh Sắc là khi ở trong thai sắc thân chưa thành tựu, bốn uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỉ có tên gọi chưa có sắc chất; Lục Nhập là chỗ nhập của lục trần tức là lục căn đã hoàn thành; Xúc là sau khi thai sanh ra lục căn tiếp xúc lục trần; Thọ là lãnh thọ tất cả hoàn cảnh, Năm nhánh này là quả sở thọ của đời này; Ái là đối với cảnh trần móng khởi ái dục; Thủ là do ái mà muốn chiếm có; Hữu có nghĩa là nghiệp, tức là kiếp này tạo nghiệp kiếp sau thọ báo, ba nhánh này là nhân sở tác của đời hiện tại; Sanh là tùy theo chủng tử nghiệp đã gieo đời nay mà thọ sanh đời sau; Lão Tử là khi đã có sanh ắt phải có lão tử, hai nhánh này là cái quả đời sau phải chịu. Đó là giải thích Thập Nhị Nhân Duyên theo thuyết xưa.

Biện Chứng Trong Phật Pháp Tuyệt Đối

Thế giới quan của Phật là Thành Trụ Hoại Không, vì vạn vật đều đang lưu chuyển, đang biến hóa chẳng ngừng, đang ở trong quá trình sanh thành và tiêu diệt, ấy là pháp biện chứng đơn sơ của Nguyên Thủy.

Pháp biện chứng của người Hy Lạp thời xưa đối với toàn thể quan hệ giữa các thứ hiện tượng trên thế giới và trong sự vật cá biệt cũng chưa được sáng tỏ, trong khi đó thập nhị nhân duyên của Phật pháp lại thuyết minh thành một thế hệ hoàn hảo hơn.

Pháp biện chứng của Phật là muốn nhắc nhở những quan niệm và lập trường của Bà La Môn và các tông phái khác (tức là những truyền thống tôn giáo và thần thoại) để họ tự xét lại.

Nhà Triết học Hy Lạp Heraclitus (535-475 trước Tây lịch) nói : "Mặc dù đang yên tịnh kỳ thực đang biến hóa”. Lời này giống như duy-thức-học. Lại nói : "Thần là ban ngày cũng là ban đêm, là mùa đông cũng là mùa hè, là chiến tranh cũng là hòa bình, là no cũng là đói, lá tất cả đối lập.” Chữ Thần của ông nói tức là nhất niệm vô minh vậy.

Plato mặc dù cho lý niệm là bản chất của tồn tại, là thế giới nguyên hình hiện thực của tất cả vật thể và quan hệ, chỉ có lý niệm mới là cao nhất chân thật nhất, nhưng ông lại nói :"Lý niệm chỉ có thể từ khái niệm của tư duy đắc được, quyết chẳng thể từ trong khái quát của kinh nghiệm cảm giác nắm lấy được nhận thức chân chính.”

Khoa học thì chẳng thể chỉ từ cảm giác mà được, cần phải từ nguồn suối tư duy của pháp biện chứng mới được. Còn ông Plato lại cho là lìa khỏi cảm giác toàn nhờ tư duy có thể đắc được tuyệt đối.

Kỳ thực, cảm giác cố nhiên chẳng thể đạt đến tuyệt đối, tư duy cũng chẳng thể đạt đến tuyệt đối vậy.

Học thuyết hiện tượng biến động của Aristote rõ ràng phản ảnh ở trong học thuyết đối lập vật của ông. Cái tư tưởng về đối lập vật thống nhất (giống như lý bất nhị) là công lao vĩ đại của nhà triết học Hy Lạp này.

Aristote đối với tư tưởng Hữu và phi Hữu, thấy cùng một tánh chất thống nhất. Ông dù có mãnh liệt đấu tranh nhưng lại chẳng thể tiến thêm một bước để giải quyết, ông mặc dù muốn nghiên cứu tánh chất của mâu thuẫn lại không thiết tha thực hành theo.

Trong triết học Tây Phương, luận về sự nhị nguyên và thoả hiệp sở dĩ lọt vào sự mâu thuẫn đều tại chưa thể chân chính đạt đến tuyệt đối mới sanh ra kết quả như vậy.

Tổ sư của Thiền Tông đều là nhà thực tiễn mà chẳng phải nhà lý tưởng, họ rất phản đối ảo tưởng hoặc mộng tưởng. Thiền tông đem tất cả tâm và vật đều biến thành tuyệt đối vô hạn và hoàn toàn chứng thực nó.

Bản thân thực thể của Spinoza ở trên bản chất đã có tánh chất của hình nhi thượng học, nó siêu việt thời gian mà tồn tại, bất vận động bất biến hóa, phủ định tất cả vận động vì chỉ là trạng thái biến hình của thật thể. Thật thể bản thân lại có cái tánh chất bất động của trừu tượng. Thật thể lìa khỏi vật hữu hạn của thế giới biến hóa mà tồn tại và đã đi trước trên thế giới này.

Kỳ thật, thực thể này chỉ là không tưởng nên mới có mâu thuẫn như vậy. Vì bản thể này là do suy nghĩ sanh ra, chẳng phải đích thân thấy bản thể của tuyệt đối vốn saün có nên không thể đạt đến tự do của tuyệt đối.

Có người cho rằng người lý trí nhiều chừng nào thì lìa khỏi sự thực nhiều chừng nấy, đúng "logic” nhiều chừng nào thì phản bội tự nhiên nhiều chừng nấy.

Nhận định này hợp với nguyên tắc của tương đối, do đó có người chủ trương dùng trực giác, tưởng làm như thế thì có thể gần với chân thật.

Kỳ thật trực giác và lý trí cùng ở trong phạm vi nhất niệm vô minh, trực giác mặc dù gần với nguyên thủy của nhất niệm vô minh hơn nhưng vẫn chẳng thể tiến vào tuyệt đối. Giữa trực giác và tuyệt đối còn có một khoảng sa mạc mênh mông ngăn cách, trực giác không cách nào thông qua được.

Nhà triết học Pháp Henri Bergson (sanh 1859 tại Paris) chính là người chủ trương dùng trực giác để đạt đến chân thật, ông mong muốn ở trong phương pháp huyền học Đông Phương tìm ra một đường lối nhưng ông không hiểu phương pháp chứng nhập tuyệt đối của Phật và có thể vì hiểu lầm thiền-pháp của Bà La Môn mới có chủ trương này, nên ông đã bị thất bại vậy.

Người ta thường xem vật ở bên ngoài cho là tự nhiên. Kỳ thực cái tên gọi tự nhiên chỉ là do một người có học thức danh tiếng nào đó đặt ra cái tự nhiên của tự mình mà thôi.

Vậy tự nhiên là gì? E rằng chỉ có Phật Thích Ca mới chân chính hiểu biết. Chỉ có Phật mới rõ cái mặt mũi bổn lai của tự nhiên, nó ẩn giấu sau lưng của vũ trụ tương đối, ở ngoài phạm vi giới hạn của tư tưởng cảm giác con người tức là bản thể của tuyệt đối vậy.

Phật Thích Ca gọi bản thể này là Phật-tánh, là Chân-Như, là Như-Lai. Nói Chân-Như tức là chân thật như bản thể, nói Như-Lai tức là bổn lai như thế.
Khi tất cả sự vật trong cảm giác của con người giải phóng ra rồi thì tất cả trở về bản lai diện mục (Tự Tánh) ấy mới là tự nhiên của chân chính.

Nếu người ta muốn thấy cái tự nhiên chân chính này chỉ có cách đả phá cội nguồn của tương đối (vô thủy vô minh) thì sẽ tiến vào quốc độ của tự nhiên tuyệt đối vậy.

Piere Joseph Proudhon (1809-1865) người Pháp nói : "Tài sản tức là tang vật.” Tôi thì nói : "Tư tưởng tức là tang vật”, vì nó làm ô nhiễm tự tánh, nó là tang vật của tự tánh trong sạch.

Hỡi con người đáng thương xót kia! Tại sao ông lấy tang vật của ông mà tự hào vậy? Những đồ ô uế, hôi thối khắp trời kia, con ruồi đáng thương xót kia sao ông vĩnh viễn không muốn lìa khỏi nó, cho đến mất cả sinh mạng mà cũng không chịu lìa!

Ông muốn nhận thức nhất niệm vô minh chăng? Nay tôi giải thích thêm để ông dễ hiểu hơn: Khi ông an lạc thì nó gọi là an lạc, khi ông thống khổ thì nó gọi là thống khổ, khi ông bi ai thì nó gọi là bi ai, khi ông phẫn nộ thì nó gọi là phẫn nộ, khi ông yêu thì nó gọi là yêu, khi ông ghét thì nó gọi là ghét, khi ông tham thì nó gọi là tham, khi ông sân thì nó gọi là sân, khi ông si thì nó gọi là si, khi ông cảm thấy hạnh phúc thì nó gọi là hạnh phúc, khi ông cảm thấy tội lỗi thì nó gọi là tội lỗi, khi ông v.v...., nói tóm lại tất cả đều là hóa thân của nhất niệm vô minh. Nhất niệm vô minh biến hóa vô thường đều là tương đối, cho nên những hóa thân của nó cũng là tương đối.

Con người bị nhất niệm vô minh chi phối mà tự chẳng biết, suốt ngày mừng giận buồn vui biến hóa không chừng, nên nhà triết học Đông Phương nói : "Con người ứng dụng hằng ngày mà chẳng tự biết.”

Thêm nữa, nhất niệm vô minh là do một niệm bắt đầu mà phát triển thành vũ trụ phức tạp của tương đối bao gồm sinh mạng, tư tưởng, cảm giác, dục vọng, ý chí, đạo đức, nhân nghĩa v.v.... Nó hiện diện khắp không gian thời gian, không chỗ nào lúc nào mà không có nó, cho đến khi nó trở về vô thủy vô minh mới tạm ngưng hết lại. Đến đây chỉ cần đả phá vô thủy vô minh để tiến vào tuyệt đối mà thôi.

Luận Về Bốn Tướng

Phật Thích Ca đem tất cả hiện tượng vũ trụ nhân sinh do nhất niệm vô minh cảm biết được (tội gọi nó là vũ trụ tương đối) đều gọi là Tướng. Tướng tức là tương đối, là biến hóa, là hữu lậu (25) là hữu hạn, là chẳng thật, do đó khiến chúng sanh mê vọng. Cả vũ trụ nhân sanh cho đến các phương pháp nhận thức luận đều là tương đối đều nên phủ định.

Trái lại, Phật Thích Ca đặt tên bản thể tuyệt đối cuối cùng gọi là Tánh. Tánh tức là Phật tánh, cũng gọi là tự tánh, chân như, những danh từ này so với những danh từ trong triết học Tây Phương như lý tánh, tánh chất, tánh tình.... ý nghĩa chẳng đồng.

Tánh của bản thể tuyệt đối này tức là tồn tại chân thật, là bất biến, là vô lậu, là vô hạn, là chân thật, là bổn lai như thế nên cũng gọi là Như-Lai, là khẳng định tuyệt đối, tôi gọi nó là vũ trụ tuyệt đối.

Muốn đạt đến vũ trụ tuyệt đối trước tiên phải phủ định vũ trụ tương đối, muốn phủ định vũ trụ tương đối trước tiên phải tìm chủng tử tương đối của vô thủy tức là cội nguồn của tương đối, đem chủng tử cuối cùng này phủ định rồi thì chẳng có gì để phủ định nữa liền tiến vào tuyệt đối.

Trong quá trình phát triển đại thừa Phật pháp ở Ấn Độ có một phái chủ trương phát huy từ bản thể gọi là Tánh-Tông, còn một phái khác chủ trương từ hiện tượng dẫn dắt vào bản thể gọi là Tướng-Tông.

Kỳ thực, Phật pháp cuối cùng đạt đến vũ trụ tuyệt đối rồi thì bản thể và hiện tượng hợp một, tánh tướng bất nhị cho nên cái Tánh của bản thể tuyệt đối này Phật Thích Ca gọi nó là Thực Tướng, là chỉ rõ khi tiến vào tuyệt đối thì tướng cũng biến thành chân thực tuyệt đối vậy. Nhưng khi chưa nhập tuyệt đối, tướng tức là tương đối chẳng thật, muốn tiến vào bản thể tuyệt đối cần phải phủ định Tướng đạt đến "không, vô tướng, vô tác” mới cho là được giải thoát bước đầu tiên.

Phật Thích Ca đem tất cả tướng chia thành bốn loại tức là : Ngã Tướng, Nhơn Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng, gọi chung là tứ tướng. Bốn tướng này đại diện cho tất cả hiện tượng của nhân sinh vũ trụ tương đối, có thể dùng để giải thích nội tâm của con người đối với vũ trụ vạn vật sở sanh đủ thứ sai lầm.

Ví như bốn tướng trong kinh Viên Giác (26) là chuyên dùng để chỉ rõ người tu hành nhận lầm bốn thứ cảnh giới nội tâm, bốn tướng trong kinh Kim-Cương thì cũng cùng mục đích độ chúng sanh mà chỉ rõ ràng chúng sanh vì chấp bốn tướng mà sanh khởi sai lầm; bốn tướng trong kinh Lăng-Già thì dùng để phê bình cái chấp trước do ngoại đạo sở kiến lập.

Bởi vì tất cả tư tưởng và hành vi của chúng sanh đều chẳng thể vượt qua phạm vi bốn tướng này, do đó muốn chúng sanh giác ngộ sự sai lầm của họ tốt nhất là dùng bốn tướng này để thuyết minh.

Cái phương pháp của Phật Thích Ca này rất cao minh và có hệ thống ấy là vì Ngài đã đích thân tiến vào tuyệt đối, đã thấu rõ tất cả nội tâm và ngoại vật của nhân sanh vũ trụ, biết tất cả chúng sanh sở dĩ lầm vào lối tẻ, trầm luân biển khổ đều do chấp tướng cho nên mới đặt cái phương pháp này để phá vỡ nó.
Con người từ khi biết dùng bộ não và cảm giác để quan sát tất cả là đã trải qua một quá trình lâu dài, ban sơ hướng bên ngoài quan sát tức là quan sát sự biến đổi của con người và cảnh giới thiên nhiên v.v... Kế đó, trở lại quan sát hoạt động tư tưởng cảm giác thay đổi không chừng của bản thân bộ não tức là quan sát cái công cụ mà bản thân dùng để quan sát đó. Công cụ này gọi là Tâm.

Khi chưa kiến tánh tác dụng của bộ não là giả, thế giới vạn vật do bộ não quan sát được cũng là giả : Giả + Giả = Giả. Nếu theo đó tu hành thì kết quả vẫn là giả nên lao nhọc mà chẳng có công hiệu.

Khi đã kiến tánh thì bộ não là chân, thế giới vạn vật đều là chân : Chân + Chân = Chân. Một chân thì tất cả chân nên chẳng cần tu gọi là vô tu vô chứng (27), ấy là chuyển thức thành trí, thế giới tương đối biến thành thế giới tuyệt đối.

Chúng ta muốn có sự đánh giá chính xác đối với Phật pháp thì chẳng nên xem theo chi tiết thế hệ mà phải thấu đạt trung tâm. Thể hệ của Phật mặc dù chia thành nhiều môn nhiều loại rất phức tạp, nhưng trung tâm tư tưởng của toàn thể hệ chính là Phật tánh (tức là Tuyệt-đối-luận), còn những cái khác đều từ đó suy diễn mà ra như Tứ-Thánh-Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Sáu Ba La Mật, và Tam Giới Thân v.v... đều xuất phát từ trung tâm lý luận này vậy.

Học thuyết của Plato sở dĩ thành cội nguồn của nhị nguyên luận là tại ông đem cảm giác với lý tánh phân chia cho là đúng, như vậy không những hoàn toàn khác biệt mà lại đốI nghịch với nhau, do đó làm cho hai lý không cách nào dung thông được. Cái nhị nguyên luận của ông ắt phải hiển hiện nơi đối lập của quan niệm và vật chất, tái hiện nơi đối lập của cảm giác và tư tưởng, lại hiện nơi đối lập của nhục thể với linh hồn nữa.

Ông đem chân lý với thực tại để trên phương diện lý tánh mà chẳng để trên phương diện cảm giác, lý ấy dù đúng nhưng cảm giác với lý tánh mặc dù phân chia thành khác biệt lại cũng cần phải nhất trí, nghĩa là cả hai cần phải khác suối mà đồng nguồn mới được.

Diệu lý của Phật thì chẳng có khuyết điểm kể trên, nó là rất viên mãn, rất nhất nguyên. Nó ban sơ phủ định cảm giác, cho cảm giác là hư vọng nên phủ định nó, nhưng cái cội nguồn hư vọng này chẳng phải lỗi của bản thân cảm giác mà do bị vô minh che khuất. Khi màn đen vô minh mở ra thì hư vọng tiêu diệt, lúc ấy cảm giác tức đồng với lý tánh nghĩa là với Phật tánh chẳng khác. Cho nên cảm giác với Phật tánh ban sơ mặc dù phân chia cuối cùng vẫn đồng một thể.

Cái cửa ải khó khăn của nhà triết học Hy-Lạp và Tây Phương ở nơi sau khi siêu việt cảnh giới cảm giác nhập vào cảnh giới tư tưởng thuần túy rồi lại đọa trở lại trong gông cùm của cảnh giới cảm giác nữa.

Phật thì siêu việt hai cảnh giới này và đạt đến chỗ cảnh giới mà triết gia Tây Phương chưa thể đến tức là cảnh giới Phật tánh vậy.

Cảnh giới này chẳng thể dùng tư tưởng suy lường, chẳng thể dùng ngôn ngữ văn tự diễn tả, cần phải thực chứng rồi mới biết được. Sau khi chứng ngộ tất cả cảm giác tư tưởng đều không lìa Phật tánh, nên nói : "Duy có kẻ chứng với kẻ chứng mới biết được.”

Về cảnh giới biểu thị trong Kinh và Ngữ lục Tổ-sư hoặc nói hoặc nín, kẻ chứng thì thấu hiểu rõ ràng, kẻ chưa chứng thì suy nghĩ mãi cũng không hiểu, cũng như phương pháp "niêm hoa thị chúng” của Phật và "hét gậy chửi mắng” của Tổ Sư đều vậy.

Có vô thủy vô minh rồi mới có nhất niệm vô minh cho nên vô thủy vô minh với nhất niệm vô minh là tương đối, có niệm thứ nhất thì có niệm thứ nhì, có niệm thứ ba v.v...., cho đến cái niệm vô cùng vô tận, nghĩa là từ tương đối sanh ra vô số tương đối. Cho nên tương đối là chẳng thể cùng tận, không có chỗ dứt, chẳng thể truy cứu như cái vòng tròn chẳng có đầu mối nên gọi là luân hồi.

Con người hễ sanh ra tức là tương đối, có da trắng, da đen, da vàng, da đỏ v.v... do đó sanh khởi nhiều mâu thuẫn và phiền não, nghĩa là con người sanh ra thì phải chịu đựng cái vận mạng bi thảm vậy.

Phật Tánh Siêu Việt Luận Lý

Nói Logic là thuộc về việc của tư tưởng, là phạm vi tương đối, Phật tánh là siêu việt tương đối chẳng phải tư tưởng có thể đến nên nói siêu việt logic.

Văn tự trong kinh giải thích tuyệt đối của Phật tánh đều chẳng thể dùng logic để chứng minh vì Phật tánh vốn chẳng thể giải thích. Phật vì lợi ích chúng sanh đã dùng mọi phương pháp để mong giải thích một phần nào nên văn tự lời nói ấy phải trải qua bao sự khó khăn mới được cấu tạo thành kinh Phật.

Người đọc bỗng nhiên chẳng thấy hợp logic, thực ra thì đã siêu việt phạm vi logic mà nhập với cảnh giới nghĩa cú tuyệt đối. Nếu thấu đạt ý này thì chỗ nào cũng là logic nhưng logic đó là logic của tuyệt đối vậy.

Tuyệt đối luận tức là Phật tánh luận, Phật tánh cùng khắp không gian và thời gian, chẳng hoại chẳng tạp, vô chứng vô thủ, chẳng bị huân nhiễm, xưa nay saün đủ nên gọi là Tuyệt Đối. Còn vũ trụ vạn tượng đều thuộc về Thành-trụ-hoại-không, hư vọng chẳng thật nên gọi là tương đối.

Nay tôi làm luận này phải dùng văn tự lời nói để giải thích. Văn tự lời nói đều thuộc về tương đối nhưng vì muốn hiển bày tinh lý của Phật nên phải nhờ sự phương tiện của văn tự này để hiển bày chánh lý, độc giả chớ nên kẹt nơi văn tự, cần phải được ý quên lời vậy.

Triết học Tây Phương có đại ngã, tiểu ngã, là tương đối mà Phật, chúng sanh, ngã đều bất nhị là tuyệt đối. Tương đối thì bất bình đẳng, tuyệt đối thì bình đảnh. Bất bình đẳng nên có tranh luận có đấu tranh, bình đẳng nên không tranh luận không đấu tranh.

Pháp thân phải dựa theo thời gian không gian rồi mới biết sinh mạng là vật gì, nó kéo dài thời gian, nó hoạt động không gian, như vượt qua thời gian không gian thì chẳng nói là sinh mạng nhưng chẳng phải không có sinh mạng vì bản thân của sinh mạng tức là tuyệt đối cũng gọi là pháp thân.

Con người chỉ biết ở nơi thời gian không gian để nhận biết sinh mạng tương đối mà không chịu siêu việt thời gian không gian để nhận biết sinh mạng tuyệt đối, do đó sinh mạng bị thời gian không gian sở phủ định.

Kẻ sinh mạng tuyệt đối lại phủ định thời gian không gian nên nói : "Trời đất chưa sanh vật này đã có, trời đất hủy hoại vật này chẳng hoại.”

Cảnh Giới An Lạc Của Tuyệt Đối

Tự ngã là gông cùm của con người. Con người chỉ ở lúc quên tự ngã mới đắc được an lạc. Muốn quên tự ngã phải nhờ trợ giúp của pháp ngã.

Pháp ngã tức là cái ngã của vạn sự vạn vật ở ngoài tự ngã ví như âm nhạc, nghệ thuật, vận động v.v..., đều là pháp ngã. Chúng ta khi nghe âm nhạc hoặc thưởng thức nghệ thuật sẽ được quên tự ngã. Lúc ấy có thể tự do an lạc hơn, nhưng tự ngã dù quên lại lọt nơi phạm vi pháp ngã. Pháp ngã vẫn bị hạn chế trong thời gian không gian ví như nghe âm nhạc chỉ được ở trong một khoảng thời gian nào, khi thời gian qua đi vẫn té trở lại trong gông cùm, tự ngã mà tiếp tục chịu đựng thống khổ, do đó chúng ta muốn tìm một an lạc lớn hơn nên bỏ pháp ngã vào nơi Không ngã.

Không Ngã thì an lạc hơn, chỗ đó chỉ là mênh mông không tịch, tất cả vật ngoài chẳng thể xâm nhập, đây là cảnh giới diệt tận định (28) của Tiểu Thừa Thiền. Khi ấy, thân tâm khinh an, đạm nhiên tự đắc, là một thứ cảnh giới Niết Bàn của tương đối, nhưng Không Ngã vẫn bị thời gian hạn chế, khi ông bước ra cảnh Không, ông vẫn bị té trở lại trong gông cùm tự ngã nữa.

Cho nên ông nếu muốn đắc được an vui triệt để cần phải bỏ cái Không Ngã để chứng nhập cảnh giới chân như Phật tánh, lúc ấy mới không bị thời gian không gian hạn chế, nghĩa là giải thoát tất cả khổ của con người, mới là tự do tự tại của tuyệt đối, mới là an lạc của tuyệt đối.

Immanuel Kant muốn nhờ toán học cấu tạo một màng lưới vũ trụ để bắt con cá to của tuyệt đối, kết quả chẳng những không được gì cả trái lại tự thân lại bị bọc trong màng lưới mà chẳng thể tự thoát.

Thiền tông Trung Quốc có kẻ tiều phu dốt nát nghe một lời nói liền chứng ngộ tuyệt đối, có kẻ thì thấy hoa đào nở liền chứng tuyệt đối, có kẻ thì nghe tiếng trúc mà ngộ tuyệt đối. Chẳng biết người Tây Phương đến năm nào mới hiểu được những việc này.

Nhà triết học Tây Phương đang sinh sống nơi thế giới tương đối, họ được mâu thuẫn tự nhiên của tương đối khơi động, lợi dụng toán học và vật lý học của tuyệt đối trong tương đối để phủ định vật chung quanh của tương đối, ấy là dùng phương pháp tương đối để phủ định tương đối vì họ chưa hoàn toàn biết rõ bản thân của Toán học và Vật lý học tức là tương đối. Nếu lìa khỏi thời gian không gian của tương đối thì Toán học và Vật lý học cho đến tất cả khoa học đều không thể hoạt động gì được nữa. Sau hết, khi Toán học và Vật lý học siêu việt thời gian không gian của tương đối tiến vào thời gian không gian của tuyệt đối, thì Toán học và Vật lý học tất cả đều thành tuyệt đối. Lúc ấy bản thân của Toán học và Vật lý học tức là tuyệt đối, hoàn toàn thoát khỏi bộ não ngu dại của con người mà tự tồn tại nơi vũ trụ của tuyệt đối, họ do đó đắc được vĩnh sanh vậy.

Tuyệt đối nguyên là đại diện cho Phật pháp Đại thừa ấy là tư tưởng tối cao của con người chẳng ai có thể vượt qua. Vì nó siêu việt không gian và thời gian nên trải qua muôn kiếp cũng như mới, vì nó chẳng lìa thời gian và không gian nên trong đời sống ứng dụng hàng ngày mà chẳng có chướng ngại. Nay muốn ở trong tự điển của Triết học Tây Phương để tìm một tên gọi cũng không thể được.

Cái nhất nguyên luận của Tây Phương là nhất nguyên luận của tương đối, cái tuyệt đối luận của Tây Phương là tuyệt đối luận của tương đối, so với cảnh giới tuyệt đối của Đại thừa Phật pháp thì chưa được đúng đắn. Duy có tuyệt đối nhất nguyên của Đại thừa Phật pháp mới là tuyệt đối luận chân chính.

Muốn xem nó là bản thể luận thì không đúng, gọi nó là hình nhi thượng học cũng không đúng bởi vì ở cảnh giới tương đối chân như, bản thể và hiện tượng đã đồng một, hình nhi thượng (tư duy trừu tượng) với hình nhi hạ (hiện tượng cụ thể) cũng chẳng có khác biệt. Nói tóm lại, nào là duy tâm, nào là duy vật, nào là bản thể, nào là hiện tượng, nào là nhận thức, nào là nhân sinh v.v.... đều bao gồm hết trong đó chẳng thiếu sót, chúng ta chẳng có tên gì để gọi, tạm gọi nó là Tuyệt Đối Nhất Nguyên của Đại Thừa Phật Pháp vậy.

Kết Luận Của Dịch Giả

Ngài Nguyệt Khê là người đã kiến tánh, tịch năm 1965 ở Cửu Long, Hồng Kông. Đại Thừa Tuyệt Đối luận này tác giả có ý muốn giúp ích người Tây Phương, trong đó luận về pháp biện chứng của triết học Tây Phương, cho thấy hầu hết đều lẩn quẩn trong phạm vi tương đối tức là nhất niệm vô minh, cũng có người suy ra đến vô thủy vô minh, nhưng chưa có ai đạt đến chỗ tuyệt đối cuối cùng. Tất cả đều vì không biết đường lối thực hành, chỉ nhờ bộ não để suy lý mà thôi, nên Ngài Nguyệt Khê dùng pháp biện chứng của Phật Thích Ca để chứng minh và giới thiệu cách thực hành tức là pháp Thiền Trực Tiếp truyền từ Phật Thích Ca.

Nếu người Tây Phương chịu theo đó thực hành thì sẽ được đả phá vô thủy vô minh mà tiến vào vũ trụ tồn tại tuyệt đối vậy.

Ngoài ra, chúng tôi có ấn hành riêng Đường Lối Thực Hành và Cơ Bản Tham Tổ Sư Thiền là pháp Thiền trực tiếp của Phật Thích Ca đích thân truyền dạy, đọc giả có thể tìm xem (Từ Ân Thiền Đường có ấn tống).


Chú Thích

1. Ngã chấp, Pháp chấp, Không chấp :
Chấp thật cái thân thể và sự suy nghĩ cũa bộ não là Ta gọi là Ngã chấp.
Chấp thật vạn sự vạn vật trong vũ trụ pháp giới do ta hiểu biết được cho là có Thật Tánh Thật Tướng, gọi là Pháp Chấp.
Phá được Ngã chấp, Pháp chấp, thấy tất cả đều không, chấp cái không này là thật Không gọi là Không Chấp.

2. Chân Như :
Là biệt danh của Tự Tánh, Tự Tâm. Chân thật đúng như bản thể của Tự Tánh Tự Tâm gọi là Chân Như.

3. Trung Đạo : Nghĩa thường là không có nhị biên tương đối, nói sát nghĩa hơn là vô-sở-trụ, cũng như chẳng trụ nơi có, chẳng trụ nơi không, chẳng trụ nơi cũng có cũng không, chẳng trụ nơi chẳng có chẳng không, gọi là Trung Đạo.

4. Phật Tánh : Phật nghĩa là giác ngộ, có tánh giác ngộ gọi là Phật tánh.

5. Bồ Đề : là tiếng Phạn, dịch nghĩa là giác ngộ.

6. Pháp môn bất nhị :
Bất nhị có nghĩa hiển bày thể dụng của Tự Tánh cùng khắp không gian và thời gian, chẳng thể dùng tư tưởng để suy lường nên vượt ra ngoài đối đãi và cũng chẳng phải Một. Pháp môn tu tập để đưa đến chỗ bất nhị này gọi là pháp môn bất nhị.

7. Pháp nhất thừa : tức là Phật thừa. Kinh Pháp Hoa nói chẳng hai cũng chẳng ba là nghĩa này vậy.

8. Khổ quán : cho tất cả là khổ. Khổ tức nhiên là khổ rồi, vui lại làm nhân cho khổ nên cũng là khổ.

9. Hoát nhiên đại ngộ : không có qua bộ óc lý giải mà chơn tâm đột ngột sáng tỏ, tự động hiểu biết đúng như thực tế trùm khắp không gian thời gian.

10. Nhất niệm vô minh : từ nguồn gốc vô thủy vô minh (cũng là chỗ vô niệm của bộ óc) khởi lên một niệm gọi là nhất niệm vô minh.

11. Vô thủy vô minh : nguồn gốc phát sinh ra ý thức phân biệt sai lầm gây tai hại từ lâu đời. Cũng là chỗ mịt mù đen tối.

12. Bát Nhã : thể dụng của trí huệ Tự Tánh, không cần qua bộ óc tác ý, tự động tùy duyên hiện ra sức dụng gọi là Bát Nhã.

13. Chân Ngã : tức là Tự Tánh, cũng gọi là chân như Phật tánh.

14. Mười Phương chư Phật : tất cả Phật ở trong không gian.

15. Vô dư Niết Bàn : Niết là không sanh, Bàn là không diệt. Bản thể của Niết Bàn cùng khắp không gian và thời gian chẳng còn chỗ nào lúc nào thiếu sót nên gọi là Vô dư Niết Bàn.

16. Vô lậu giải thoát : lậu là tập khí phiền não. Chẳng còn phiền não được tự tại gọi là vô lậu giải thoát.

17. Phật nhãn : chiếu soi cùng khắp không gian thời gian không có chỗ nào lúc nào thiếu sót.

18. Mở mắt chiêm bao : lúc ngủ chỉ một mình thức thứ 6 (ý thức) hoạt động hiện ra cảnh giới chiêm bao gọi là "nhắm mắt chiêm bao”. Lúc thức tỉnh thì
thức thứ 6 cùng với tiền ngũ thức (gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức) đồng thời hoạt động hiện ra cảnh giới cuộc sống hàng ngày đều gọi là ở trong "mở mắt chiêm bao”.
Nhắm mắt chiêm bao thì sau khi ngủ đủ rồi sẽ tự động thức tỉnh, còn mở mắt chiêm bao thì không bao giờ tự động thức tỉnh được, phải tham thiền đến kiến tánh mới được thức tỉnh, cũng gọi là giác ngộ.

19. A-Lại-Da-Thức : cũng gọi là thức thứ 8 hay Tạng Thức (Tạng là kho chứa) chuyên chứa các thứ chủng tử của vạn sự vạn vật.

20. Tham thoại đầu : Thoại là lời nói, khi chưa nổi niệm muốn nói là thoại đầu, nếu đã nổi niệm muốn nói dù chưa nói ra miệng cũng là thoại vĩ rồi. Như vậy thoại đầu tức là khi một niệm chưa sanh. Tham là nghi, nghi là không hiểu không biết. Nếu một việc gì đã hiểu biết rồi thì hết nghi, hết nghi tức là không có tham.Vậy tham thoại đầu tức là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh, không biết đó là cái gì, Thiền Tông gọi là nghi tình, có nghi tình mới được gọi là tham thoạI đầu. Do nghi tình này đưa đến chỗ giác ngộ gọi là kiến tánh thành Phật.

21. Định-huệ-bình-đẳng : Định là thể, huệ là dụng. Tâm chẳng loạn là định, dụng chẳng sai là huệ. Khi định thì tự động hiện ra huệ, lúc huệ thì phải ở trong định, tức là ngoài định không có huệ, ngoài huệ không có định, cho nên nói định huệ bình đẳng.

22. Bồ Tát : theo tiếng Phạn là Bồ Đề Tát Đỏa, nói tắt là Bồ-Tát nghĩa là giác ngộ hữu tình. Hữu tình được giác ngộ mới có thể lìa khổ được vui, chuyên độ cho chúng sanh lìa khổ được vui gọi là Bồ Tát.

23. Bốn Thừa : gồm ba thừa (Tiểu, Trung, Đại Thừa) thêm Tối Thượng thừa nữa là bốn.

24. Đại vô úy, sư tử hống : đây là thí dụ về uy lực thuyết pháp của Phật. Bá thú đều sợ sư tử, sư tử không sợ bá thú. Cũng vậy, khi Phật thuyết pháp thì không sợ tà mà khuấy rối nên gọi là đại vô úy.

25. Ngũ uẩn : là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là tế bào của cơ thể do tứ đại kết hợp thành. Thọ là lãnh thọ sự buồn, vui, thương, ghét v.v.... của cảm tình. Tưởng là tư tưởng suy lường. Hành là sự sanh diệt biến đổi của tế bào và hành vi. Thức là tác dụng của bộ óc hay nhận thức phân biệt tất cả sự
vật sanh diệt trong vũ trụ.

26. Hữu lậu : còn tập khí phiền não gọi là hữu lậu.

27. Bốn tướng trong kinh Viên Giác, Kim Cương và Lăng Già : Nói chung tả sự nhận lầm bốn thứ cảnh giới nội tâm. Bốn tướng có 2 thứ :
1. Bốn tướng mê thức của phàm phu :chấp nhận cái thân ngũ uẩn này là Ta gọi là Ngã tướng
Bỏ Ngã tướng chấp vào toàn nhân loại gọi là Nhân tướng
Bỏ nhân loại chấp vào toàn chúng sanh gọi là Chúng sanh tướng.
Chấp có thời gian chân thật gọi là Thọ giả tướng.
2. Bốn tướng mê trí của bậc thánh :

Bậc thánh tâm biết có cơ sở chứng, dù chứng đến mức nào đều thuộc về Ngã tướng. Nay ngộ thêm một bậc, biết chẳng phải ta chứng, siêu việt tất cả chứng, nhưng còn cái tâm năng ngộ gọi là Nhân tướng. Nay tiến thêm một bậc nữa, liễu tri năng chứng năng ngộ là Ngã tướng, Nhân tướng, chỗ Ngã tướng Nhân tướng chẳng thể đến, chỉ còn tâm liễu tri, gọi là chúng sanh tướng. Rồi tiến thêm một bậc nữa, chiếu soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ một giác thể thanh tịnh, gọi là cứu kính giác, tất cả tịch diệt, cũng gọi là Niết Bàn. Nếu còn trụ nơi Niết Bàn thì mạng căn chưa dứt, gọi là thọ giả tướng.

28. Vô tu vô chứng : Thể dụng của tự tánh cùng khắp không gian và thời gian, thần thông trí huệ vốn saün đầy đủ bằng như chư Phật. Ví như vàng thật ẩn trong quặng, quặng được bỏ tạp chất thì tự hiện vàng thật, cũng vậy, tâm được bỏ tập khí phiền não thì tự hiện thể dụng của tự tánh, chẳng do tu mới thành chẳng do chứng mới có nên gọi là vô tu vô chứng.

29. Diệt tận định : có 2 thứ : Là cõi trời tứ không, đã diệt hết tất cả vọng tưởng nhưng chưa tận gốc, còn chấp A Lại Da Thức là ngã, chưa ra khỏi luân hồi. Là diệt tận định của A-La-Hán, đã dứt hết kiến hoặc và tư hoặc của tam giới, chẳng còn nhân-ngã nên được ra khỏi luân hồi.