Saturday, November 1, 2014

Ý Nghĩa 53 Vị Thiện Tri Thức.

      
 

    Bồ Tát Văn Thù thuyết giảng về phương pháp phát tâm cho các tỳ kheo rồi. Ngài liền đi qua Phương Nam tời Phước Thành, Ngài dừng lại cửa phía đông, an trụ nơi đạo tràng trang nghiêm trong rừng Ta La. Nơi đó có một ngôi cổ tháp rất to lớn. Đây là nơi trước kia chư Phật trãi qua nhiều kiếp an trụ để giáo hoá chúng sanh.
    Là nơi xưa kia Đức Phật tu hạnh Bồ Tát xả bo ûvô lượng những điều khó bỏ và đây cũng là nơi cả Trời, Rồng cùng các bộ Thần, phi nhơn đều đến cúng dường: Ngài Văn Thù Bồ Tát khi đến Phước Thành rồi liền thuyết pháp giáo hoá hàng Thiên Long, đều thấm nhần khế kinh Phổ Chiếu. Thính chúng đều phát tâm cầu chánh đạo, thâm tâm điều phục, ý căn thanh tịnh trí huệ tỏ sáng, dân chúng trong Phước Thành nghe tin Ngài Văn Thù Bồ Tát đến nghe pháp giáo hoá nên hàng cư sĩ nam, cư sĩ nữ và thanh niên nam nữ cùng đến dưới chân Ngài Văn Thù đảnh lể Ngài ba lần rồi ngồi một bên. Trong số những người thanh niên đến nghe pháp Ngài chú ý đến một người có những tư cách đặc biệt đó là Thiện Tài Đồng Tư .û
         Thiện Tài khi còn ở trong thai thì trong nhà hiện những thứ châu báu, ẩn tàng nơi lầu các hoặc ở dưới trần nhà, hiện ra nào mỏ vàng ,mỏ bạc,lưu ly, pha lê, mã não…Thiện Tài ở trong thai tạng cũng có tác dụng làm cho ngôi nhà ngời sáng. Do nhân duyên đó nên khi Thiện Tài vừa sanh, cha mẹ mời các thầy tướng cùng nhau đặt là Thiện Tài. Thiện Tài Đồng Tử nhiều kiếp đã từng cúng dường qúa khứ chư Phật, trồng sâu căn lành, đức tin rộng lớn sức hiểu biết sâu xa. Thiện Tài cũng hay thường gần gũi vui ưa các vị Thiện Tri Thức , cũng hay thường hành Bồ Tát đạo, cầu nhấy thiết trí, thành tựu pháp khí, tâm tánh thanh tịnh cũng như hư không thường xa lìa chướng ngại. Thiện Tài là vị Bồ Tát tái sanh nên căn lành rộng lớn mới được Ngài Văn Thù tìm đến khai ngộ.
        Bồ Tát Văn Thù nói pháp cho Thiện Tài mở mang, ân cần khuyên nhắc, khiến cho thế lực tăng trưởng, phát tâm rộng lớn . Ngài Văn Thù khai ngộ ngay dạy cho Thiện Tài đạo Bồ Đề để nhận được khổ đau sanh tử trầm luân của trần thế mà không bị đắm nhiễm .
    Thiện Tài sinh ra đời, việc đầu tiên là phải gặp Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát trước, do căn lành nhờ hội đủ nhân duyên nên có Bồ Tát hiện thân giúp và khai ngộ cho Thiện Tài . Ở đây cho chúng ta thấy trong quá trình tu, được khai ngộ chưa đủ mà còn  đòi hỏi chúng ta phải hạ thủ công phu, không ngại gian lao để tầm sư học đạo và chụi cực khổ,rèn luyện đức tính tốt trau dồi trí năng ,mới trở thành một người có khả năng giư gìn đạo Pháp .
         Sau khi được Văn Thù Bồ Tát   khai tâm Thiện Tài  cảm thấy một cuộc đời mới bắt đầu, cuộc đời của một hữu tình vừa giác ngộ, muốn học cầu Bồ Tát  đạo ,tu Bồ Tát hạnh . Sau khi từ tạ tôn sư, Thiện Tài một mình dong duổi đường  xa dấn thân vào chốn núi rừng u tịch, hoang vắng lạnh lùng, lặn lội mấy tháng trường Thiện Tài đến núi Diệu Phong hùng vĩ, cây đá mịt mù trong vùng mây trắng lẫn sương pha. Đứng giữa chốn núi rừng hiu hắt Thiện Tài vừa cảm thấy nóng lòng đã bảy ngày len lỏi qua từng bụi cây, bám víu từng bờ đá để tiến bước mong tìm gặp minh sư nhưng bóng Ngài đâu chẳng thấy, chỉ mịt mù những mây trắng với cây xanh. Phải chăng đây là sự thử thách của Ngài trên bước đường cầu đạo.
         Thiện Tài tha thiết đi tìm chân lý, vì vậy mà không quản khổ nhọc, gian lao đi hỏi đạo khắp nơi nhưng Thiện Tài không một chút nào thoái tâm.Đang lúc Thiện Tài lắng lòng quán tâm bổng nhưng Ngài Đức Vân xuất hiện .
                  “ Đã bảy hôm tìm chưa kiến
                  Sáng nay sao bổng được tương phùng”
       Với tấm lòng chí thành chí thiết của Thiện Tài thì con người có thể cảm thông cùng thánh, Thần, Trời, Phật. Suốt bảy ngày phóng tâm ra ngoại cảnh để tìm cầu, Thiện Tài chỉ thấy những núi cùng mây, nhưĩng cây cùng đá, đến khi lắng tâm rũ bỏ những xôn xao với một phút hồi quang tìm về tâm địa, Thiện Tài gặp lại chồi nụ Bồ Đề trong tâm thức của mình, chính Bồ Đề tâm đó là lòng thành của Thiện Tài thêm chí thiết, sự chí thiết đã giúp cho Thiện Tài không còn thấy một chướng ngại nào trước mắt nữa. Thiện Tài không những cảm nhận được mà  chính Tỳ Kheo Đức Vân cũng thông suốt cả tâm tư của người đệ tử.
       Bài học đầu tiên dành cho một Bồ Tát  sơ phát tâm “ức niệm nhứt thiết chư phật cảnh giới trí huệ quang minh phổ kiến”.
       Muốn thấy vô số phật, muốn vào tất cả cảnh giới phật đừng vọng tưởng tìm phật ở bên ngoài hãy trở về tự tâm để chăm sóc cây Bồ Đề hãy giữ gìn sự phát tâm chí thiết lúc ban đầu khi đã trụ tâm Bồ Đề thì thấy pháp ở cùng khắp. Mục đích của Thiện Tài là “nhập pháp giới” vì vậy trên lộ trình muốn cầu học Bồ Tát đạo, tu Bồ Tát hạnh phải trải qua quá trình gian nan đầy cam go thử thách. Trải qua 53 vị thầy học đạo thiện tài đã được 53quả vị từ Hiền đến Thánh và Bồ Tát mà trong Hoa Nghiêm đã vạch ra để dẫn dắt thiện tài đi từ sự đến lý, từ tướng đến tánh.
      53 giai đoạn này gồm có:
    Thập Tín Thập Trụ                                    -bậc hiền
    Thập Hạnh
    Thập Hồi Hướng                                        -bậc thánh
    Thập Địa                                                    - bậc Bồ Tát
    Diệu giác
    Viên giác
    Quả vị phật
      Vị thầy đầu tiên của Thiện Tài là Văn Thù Bồ Tát  tượng trưng cho trí huệ và vị Thiện Tri Thức sau cùng là Ngài Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho hạnh nguyện. Đây là sự phối hợp hài hoà giữa trí và hạnh, người muốn tu học Bồ Tát đạo phải có trí huệ sáng suốt phải tìm mọi cách để phát huy nguồn linh quang sẳn có nơi mình, nhưng sự tu học chỉ có sự viên thành nếu như Thiện Tài thực sự hạ thủ công phu, đầy đủ hạnh nguyện. Trí huệ tượng trưng cho lý tánh là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta.
       Hạnh nguyện tượng trưng cho sự tướng ví như đôi chân bao giờ “lý sự viên dung”, “tri hành hợp nhất” thì tánh tướng vô ngại dung thông chúng ta ung dung bước vào toà nhà như lai.
        Thiện Tài là một phật tử tha thiết tình chân lý mà chân lý một thực thể tuyệt đối, tuy thường hằng nhưng đa dạng, tuy chói sáng nhưng ảo diệu lung linh ví như một viên như ý bảo châu tuy bản thể của nó chỉ là một mà lại toả ra muôn ngàn tia sáng long lanh và chiếu ra muôn màu sắc. Muốn nhận ra nó và nắm giữ được nó phải trải tìm hiểu nó qua trăm ngàn khía cạnh khác nhau. ngưới tìm hiểu chân lý muôn mặc là tránh đi các lỗi lầm. Chính vì lẽ đó màThiện Tài không quản bao công lao khó nhọc đi hỏi đạo khắp nơi, tuy biết rằng lẽ đạo nhiệm màu nhưng trước sau chỉ có một mà thôi, tốn công lao trong mấy chục năm trời, lặn lội chân trời gốc biển, hết thọ giáo với vị này theo lời chỉ dẫn tìm đến vị khác, chẳng phải Thiện Tài đã thực hiện đủ ba phương pháp Văn, Tư, Tu. chính cuộc hành trình gian lao và vĩ đại ấy đã giúp cho Thiện Tài Đồng Tử.
    • Lãnh hội những lời kinh ngọc của các bậc Thiện Tri Thức là Văn
    • Nghe xong lại lên đường, quãng đường đôi khi lại quá dài, nhưng thuận tiện cho Thiện Tài có đủ thời giờ để chiêm nghiệm, thấm nhuần bài học vừa qua hầu thông đạt lý nghĩa sâu xa của bài học đây là Tư.
    • Đường đi lắm lúc quá gian lao lại thêm những cảnh trạng luôn luôn bày ra trước mắt có khi vào chốn thị tứ phồn hoa, nơi đó con người hay phân biệt hơn thua, hay tranh giành cấu xé lẫn nhau, khi thì băng qua rừng thẳm hoang vu, nơi mà sức mạnh của chúa sơn lâm ngự trị cũng có khi Thiện Tài Đồng Tử cũng được ân cần giúp đỡ của Bác tiều phu, được sự chăm sóc của khách bộ hành không quen biết… tất cả những điều đó đôi khi Thiện Tài mệt mỏi, chán nản. Thiện Tài vội định tâm không để thất tình chi phối, dùng các phép quán các pháp môn đã học để chặn đứng những ý nghĩ đen tối của mình đây là Tu.
       Tu là phải trãi qua nhiều thử thách để gạn lọc tâm trần cấu của mình. Có đủ Văn, Tư, Tu một cách nhuần nhuyễn thực hành phương pháp ấy. Thiện Tài đã nắm được chìa khoá mở cửa ngôi nhà chánh pháp. Bởi vậy khi gặp Bồ Tát Phổ Hiền nghe Ngài giảng về mười hạnh nguyện của người hành Bồ Tát đạo thì Thiện Tài tự cảm thấy sự tu học của mình đã hoàn mãn trong quá trình viễn du nhờ phương pháp Văn Tư, Tu mà Thiện Tài Đồng Tử đã khế nhập đến chỗ “lý sự viên dung” “tri hành hợp nhất” từ lúc nào không biết.
       Thiện Tài hằng ngày thường giao tiếp với các Thiện Tri Thức thường được nghe những lời dạy thì chủng tử thiện ngày càng tăng trưởng, làm cho chủng tử ác phải tiêu mòn. Ở nơi cõi cực lạc của Đức Phật A Di Đà thường làm bạn với các bậc Thánh Hiền luôn được nghe pháp, nên có thể tiến lên đến địa vi Bất Thối.
        Sau đây chúng ta lần lược tìm hiểu về Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng.
    1. Thập Tín:
      1. Tín tâm trụ                                     6. Bất thối tâm
      2. Niệm tâm trụ                                 7. Hộ pháp tâm
      3. Tinh tấn tâm                                  8. Hối hướng tâm
      4. Huệ tâm trụ                                   9. Giới tâm trụ
      5. Định tâm trụ                                 10. Nguyện tâm trụ
    2. Thập trụ:
      1. Phát tâm trụ                                  6. Chánh tâm trụ
      2. Trị tâm trụ                                     7. Bất thối trụ
      3. Tu hành trụ                                   8. Đồng chơn trụ
      4. Sanh quý trụ                                 9.  Pháp vương trụ
      5. Phương tiện cụ túc trụ                 10. Quán đảnh trụ
    3. Thập hạnh :
    1. Hoan hỷ hạnh                                            6. Thiện hiệu hạnh
    2. Nhiêu ích hạnh                                          7. Vô trước hạnh
    3. Vô sanh hận hạnh                                      8. Tôn trọng hạnh
    4. Vô tận hạnh                                               9. Thiện pháp hạnh
    5. Ly si loạn hạnh                                         10. Chơn thật hạnh
    4. Thập hồi hướng:
    1. Cứu độ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng
    2. Bất hoại hồi hướng
    3. Đẳng nhất thế Phật hồi hướng
    4. Trí nhất thế xứ hồi hướng
    5. Vô tận công đức tạng hồi hướng
    6. Tuỳ theo bình đẳng thiện căn hồi hướng
    7. Tuỳ thuận đẳng quán nhất thế chúng sanh hồi hướng
    8. tướng chơn như hồi hướng
    9. Vô trước, vô phược giải thoát hồi hướng
    10. Nhập pháp giới vô lượng hồi hướng
    Trên bước đường tiến tới quả vị Thập địa, hàng Bồ Tát tu pháp Thập địa công hạnh rất sâu xa. Trước hết phải trải qua hàng tam hiền đó là Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng sau đó mới tiến đến Thập địa đó là bậc Thánh
    Thập địa là nấc thang chót hết trong quả vị Bồ Tát rồi mới vào thẳng quả Đẳng giác, Diệu giác, Viên giác.
    Thiện Tài có trí huệ siêu đẳng cũng không dám từ tôn, tự địa, lúc nào cũng khiêm nhường trên bước đường tu, phải khép mình trong quy củ để xứng đáng là người biết tu biết học, biết tôn trọng nề nếp ở trong chốn Thiền gia. Mặc dầu Thiện Tài Đồng Tử có minh sư hướng dẫn có Thiện Tri Thức dắt dìu tinh thần của Thiện Tài sáng suốt xứng danh là người minh triết, có trí đức cao nhã.
    nói đến Thập địa là nói đến công đức thù thắng của hàng Bồ Tát có quả vị cao tột trong đạo Phật. Bậc Bồ Tát này gọi là Ma Ha Tát tiêu biểu cho vị Bồ Tát có tâm địa rộng lớn, có ý trí cao vời, có đức hạnh siêu đẳng, có trí tuệ tột bực.
    Pháp tu Thập địa là pháp tu của những bậc siêu xuất thế gian, có khả năng tiến lên ngôi vị Đẳng giác, Diệu giác và Viên giác để nối dõi mạng mạch Phật pháp, truyền trì chánh pháp độ tận chúng sanh. Hàng Bồ Tát Thập địa thắp sáng ngọn đèn chánh giác dùng huệ nhật chiếu rọi khắp nơi.
    Kinh Hoa Nghiêm có nêu rõ Thập địa là mười đoạn đường cũng là mười nấc thang mà hành giả bước qua để hoàn thành Bồ Tát đạo tức là phải thâm đạt đến chỗ “Tánh, tướng hợp nhất” “Sự, lý viên dung”. Nhưng vì lý đốn, sự tiệm, nên Thiện Tài phải tiến hành từng giai đoạn tức là từ sơ địa đến bát địa hay thập địa đều có sự tương dung, tương nhiếp.
    Thập địa là pháp môn phương tiện mà ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát đã thừa thần lực của Phật lập ra cho chúng hội, Bồ Tát vốn sẵn đủ lòng từ bi rộng lớn và trí huệ thanh tịnh để giúp chư vị này tiến đến ngôi vị Phật.
    Thập địa gồm mười cảnh giới như sau:
    1. Hoan hỷ địa                                   6. Hiện tiền địa
    2. Ly cấu địa                                      7. Viễn hành địa
    3. Phát quang địa                               8. Bất động địa
    4. Diệm huệ địa                                 9. Thiện huệ địa
    5. Nan thắng địa                                 10. Pháp vân địa
    1. Sơ địa tức hoan hỷ địa :
    Sơ địa là địa vị của hàng Bồ Tát sơ phát tâm nhờ tin hiểu phật pháp lại lập địa nguyện vững chắc, trồng sâu các căn lành từ nhiều khiếp trước mà Bồ Tát có đủ thiện duyên bước vào cảnh giới Bồ Tát các vị này có đủ lòng từ bi, trí huệ lãnh thọ phật pháp cứu độ chúng sanh và thỉnh Phật chuyển pháp luân. Bồ Tát thường gần gũi chư Phật nên sanh lòng hoan hỷ không bị phiền não vô lậu làm nhiễu hại, thường phát tâm đại bi để nhiếp độ tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Hàng Bồ Tát ở bậc sơ địa lấy đại bi tâm làm căn bản và lấy trí Bát Nhã làm ngọi đuốc soi đường. Bồ Tát không còn tâm phân biệt, không còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả. Bồ Tát bố thí không thấy mình thí, không thấy vật thí và cũng không thấy người nhận của thí, Bồ Tát không phân biệt thân sơ, thương ghét, bạn thù, không bị phiền não thô lậu làm não hại, tuỳ theo căn bệnh của chúng sanh mà cho thuốc. Đại nguyện của Bồ Tát rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường như hư không. “Học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát  đạo”. Đó là mục tiêu của hạng Bồ Tát sơ pháp tâm. Tâm nuyện này phát xuất từ tâm bi rộng lớn của Bồ Tát lòng từ bi làm phát sanh vô lượng hạnh nguyện, những hạnh nguyện này có công năng củng cố làm tăng trưởng tâm đại Bồ Đề, nhờ sự tương quan hai chiều này mà Bồ Tát tiến mãi. Khi thành tựu bậc sơ địa Bồ Tát chứng đắc các hạnh vị.
    • Đàn Ba La Mật được tăng trưởng
    • Phát khởi nhất thiết trí
    • Xa rời ngã tướng
    • Không sân hận cũng chẳng kinh sợ
    • Tâm lần lần sáng sạch
    1. Đệ nhị địa tức ly cấu địa:

    Rũ sạch trần duyên dạ trắng trong
    mới hay thanh tịnh ở nơi lòng mình
    Giới điều, quy luật công chuyên nhất
    Sáu dục, bảy tình ngộ tánh không
    Bậc ly cấu địa nương vào giới luật để gột rửa những ô nhiễm vi tế từ nhiều đời nhiều kiếp và đối với chúng sanh thành tựu pháp Ái Ngữ. Bồ Tát trụ bậc ly cấu địa hiện thân chuyển luân thánh vương đủ phương tiện thừa sự phật pháp nhiếp hoá chúng sanh. Bồ Tát bậc này nhiếp trì mười thiện nghiệp, trì giới Ba La Mật.
    • Bố thí và Ái Ngữ
    • Xả ly ngã chấp
    Bồ Tát tu những hạnh như vậy thì sẽ chứng các quả như sau:
    • Có giới hạnh oai nghi
    • Dứt hẳn mọi ham muốn, kiềm chế được lục dục thất tình.
    1. Đệ tam địa tức phát quang địa:
    Bồ Tát vào bậc tam địa này quán sát chân tướng của các pháp hữu vi thấy chúng đều vô ngã, vô thường bất tịnh và khổ não. Tâm của Bồ Tát thanh tịnh rộng lớn cứu vớt chúng sanh. Bồ Tát quán tưởng thiền định từ sơ thiền tiến tới nhị thiền, tam thiền và an trú nơi bậc tứ thiền dứt bỏ được thọ tưởng vượt lên trên các cõi trời Vô sắc, không vô biên sứ, thức vô biên xứ và phi hữu tưởng sứ, phi vô tưởng sứ.
    Bồ Tát ở bậc sơ địa thường dùng lợi hành trong các độ, thường hành pháp nhẫn nhục Ba La Mật để cứu vớt chúng sanh. Bồ Tát ở bậc tam địa phần nhiều hiện thân là thiên vương ở trời đao lợi dùng nhiều phương tịên làm cho chúng sanh lìa bỏ tính tham dục.
    1. Đệ tứ địa còn gọi là Diễm huệ địa:
    lửa lòng tam muội lập nên công
    Đốt cháy vàng, than rõ thấu lòng
    Ngoại cảnh, nội tâm đều sáng tỏ
    Viên dung, quả mãn chí làu thông.
    Bồ Tát bậc tứ địa nhờ dùng lửa tam muội của Bát Nhã quán sát mười phương pháp giới, thấy rõ thực tướng của các pháp từ nội tâm đến ngoại cảnh thảy đều “Không”, vô tướng vô tác và các thọ thảy đều giả huyễn. Bồ Tát ở địa này tu tứ niệm sứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, tinh tấn Ba La Mật thành tựu đầy đủ lực vô uý. Bồ Tát bậc đệ tứ thiền về đồng sự trong Ba La Mật, thiên về tinh tấn. Bồ Tát ở bậc này phần nhiều hiện làm Dạ Ma Thiên Vương để độ chúng sanh, Bồ Tát chuyên về tứ nhiếp pháp tu các hạnh Bố thí, Ái ngỡ, lợi hành, đồng sự. Bồ Tát có thể tự tại thị hiện thân Phật với vô số Bồ Tát làm quyến thuộc, nhưng lúc nào cũng không rời niệm phật, niệm Pháp, niệm Tăng dẫn đến nhất thiết chủng trí.
    1. Đệ ngũ địa tức là Nan thắng địa :
    Muôn ngàn gian khó chẳng nài công
    Chí quyết vươn lên chớ phụ lòng
    Thiền định vững vàng tâm nhẫn lại
    Đường về Diệu giác một bề thông
    Bồ Tát ở đệ ngũ địa này tiến tu đạo nghiệp thanh tịnh phát tâm vô thượng Bồ đề với tâm thanh tịnh bình đẳng vô phân biệt, Bồ Tát tu các pháp Bồ Đề đa phần nương vào khổ đế trong Tứ Thánh Đế để khai thị chúng sanh, lìa bỏ sanh tử, nhưng vẫn không xa rời thiền định để trí huệ được quang minh tới Bát Nhã Ba La Mật, khi trí huệ sáng ngời Bồ Tát đạt tới chỗ bình đẳng nhất như “Lý sự viên dung” “Sự sự vô ngại”.Nghĩa là thấy rõ vạn vật đồng nhất thể, không có sự vật nào mâu thuẫn nhau trong pháp giới trùng trùng duyên khởi, cho nên chân đế và tục đế khế hợp nhau. Bồ Tát Nan thắng địa dung hợp những tư tưởng sai biệt và đạt được tâm bình đẳng giữa mọi vật trong vũ trụ. Bồ Tát làm được những việc khó làm, chữa được những bệnh khó chữa là Tham, Sân, Si do chấp ngã, Ái ngã gây ra. Bồ Tát tu 37 phẩm tợ đạo học hết tất cả các pháp thế gian mà không xa rời pháp tu thiền định, phần nhiều các vị này làm vị Thiên Vương ở cõi trời Đâu Xuất.
    1. Đệ lục địa tức hiện tiền địa
    Bồ Tát, ở bậc hiện tiền này quán 12 nhân duyên trong hai chiều hướng nghịch và thuận, nhờ quán các pháp duyên khởi nên biết rõ là vô ngã, vô nhơn, vô thọ, vô mạng tự tánh không, chẳng có tác giả, không có thọ giả liền được pháp môn không, giải thoát hiện tiền. Bồ Tát lục địa nhờ tu ba môn giải thoát như vật mà lìa được tướng ngã, tướng tác giả, tướng thọ giả, tướng hữu, tướng vô. Đây là từ “Vô phân biệt trí” mà quay về để đạt tới Bát Nhã Ba La Mật khiến cho pháp chơn như vô vi luôn luôn hiện tiền, sáng ngời và ứng dụng khắp nơi.
    Bồ Tát dùng tâm bình đẳng quán các pháp thấy chúng đều vô tướng, vô thể, vô sanh, vô diệt v.v… Từ bản lai vẫn tịch tĩnh như huyễn, như mộng, như bóng, như trăng dưới nước… Bồ Tát tu Thất Bồ Đề phần không trụ vào pháp hữu vi.
    7. Đệ thất địa còn gọi là Viễn hành địa
    Cất bước ra đi chẳng ngại xa
    Khai thông chân lý há dần dà
    Nhơn duyên thù thắng Ba La Mật
    Vượt khỏi sông mê thoát ái hà.
    Bồ Tát tu mười môn phương tiện Huệ, phát khởi đạo thù thắng, được vô lượng công đức giáo hoá chúng sanh chẳng nhiễm thế pháp, không hề vướng vào các sự tướng, vô tướng nên không trụ vào một hình tướng nào cả. Đến đây Bồ Tát đã vượt qua được cả hai đường lối tu hành của đạo thế gian và xuất thế gian, đạt đến chỗ tột cùng của chơn như nên gọi là Viễn Hành Địa.
    1. Đệ Bát Địa còn gọi là Bất Động Địa.
    Bậc Bồ Tát này thân, khẩu, ý nghiệp đều dứt trừ và an trụ nơi đạo hạnh. Bồ Tát tu tập Bát Nhã Ba La Mật tăng thượng đại bi dùng phương tiện thiện xảo khéo phát khởi đại nguyện. Bồ Tát dùng tâm vô phân biệt để làm mọi sự mà không hề lay chuyển tâm chơn như bất động của mình. Trí tuệ bậc này đã viên minh, phần nhiều làm vị thiên vương ở cõi trời Đại Phạm, làm chủ cả ngàn thế giới có thể ban bố đạo pháp Ba La Mật cho hàng Thanh Văn Bích Chi Phật hay Chư Bồ Tát .
    1. Đệ Cửu Địa còn gọi là Thiện Huệ Địa
    Bậc Bồ Tát có trí Bát Nhã viên mãn liền tu tập như lai trí huệ nhập các pháp môn Đà La Ni tam muội, như lai bí mật pháp, quán sát bất tư nghì, đại Bồ Tát bậc cửu địa bản tánh thanh tịnh có đủ thần thông quản đại vào thế giới sai biệt chuyển pháp luân. Bồ Tát tuỳ thuận trí huệ, thường dùng “tứ vô ngại trí” mà chuyển bánh xe pháp trong không gian và thời gian vô tận để hoá độ chúng sanh nên gọi là Thiện Huệ Địa.
         Trong mười môn Ba La Mật Bồ Tát , bậc này thường làm vị Thiên Vương của cõi trời Đại Phạm làm chủ cả nhị thiên thế giới làm lợi ích chúng sanh, đem pháp tam thừa độ chúng sanh.
     
    1. Đệ Thập Địa tức là Pháp Vân Địa.
    Từ Cữu Địa Bồ Tát muốn lên Thập Địa phải dùng Giác Huệ Thắng Thượng nhập cảnh giới Như Lai, được tam muội tối hậu tên là Thọ Nhứt Thiết Trí Thắng chức vị.
    Đại Bồ Tát có trí huệ sáng suốt thần thông tự tại tuỳ tâm niện của mình hiện khắp mười phương thế giới tất cả quang minh Ma Ni bửu châu. Bồ Tát ở địa này tặng thượng nơi trí Ba La Mật. Đại Bồ Tát này thường làm vị Thiên Vương ở cõi trời Ma Hê Thủ La, tự tại nơi các pháp hay trao truyền hạnh Ba La Mật cho tất cả Thinh Văn, Duyên Giác và các Bồ Tát . Ngôi pháp Vân Địa còn gọi là Đẳng Giác, đạt đến đây phải tu tập hai quả chuyển y và kim cương dự định thì mới tiến đến đại Niết Bàn vô thượng Bồ Tát gọi là Diệu Giác.
     Qua 53 tiến trình tu học của Thiện Tài Đồng Tử cho chúng ta thấy rằng hạt giống Bồ Đề của Thiện Tài đã được 53 Thiện Tri Thức giữ gìn, tưới nước, vun phân hết sức tận tình nên nay trở thành cây Bồ Đề có tàng cao râm mát làm nơi an nghỉ cho chúng sanh.
      Kinh Hoa Nghiêm cũng như các kinh đại thừa đều lấy trí huệ làm hàng đầu “ Duy tuệ thị nghiệp” Thiện Tài học 53 cái biết đạt đến chỗ Nhất Thiết Trí, khi ấy Bồ Tát Phổ Hiền mới ấn chứng cho Ngài Thiện Tài hành Bồ Tát hạnh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/11/2014.
     

    No comments:

    Post a Comment