Quán Thân bất tịnh Quán Tâm vô thường Quán Pháp vô ngã Quán thọ thị khổ. 1. Quán thân bất tịnh: Quán nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát cho thấu đáo. Bất tịnh nghĩa là không sạch. Quán thân bất tịnh nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát một cách tường tận về sự dơ bẩn của cái thân ta. Nói cái thân là bất tịnh, chắc có nhiều người ngạc nhiên, phản đối cho là Phật đã nói quá đáng. trong đời còn cái gì quý báu hơn cái thân đâu? Người ta bảo bọc nó, nâng niu nó, cung phụng nó đủ điều. Người ta cung cấp cho nó đủ thức ngon vật lạ; người ta đùm bọc nó trong hàng lụa, là, gấm vóc; người ta che chở nó trong nhà cao cửa lớn; người ta dám làm tất cả những việc bát nhân tổn đức để cho nó được sung sướng. Cái thân được qúy chuộng, tôn trọng như thế, mà bảo rằng nó là dơ bẩn, gớm ghiếc thì ai mà nghe được. Song bình tĩnh mà xét lại, cái thân nầy thật không có gi là trong sạch cả. Ngay từ khi mới đầu thai, cái thân nầy đã bất tịnh rồi, vì nó là do hai thứ nhơ nhớp là phụ tinh và mẫu huyết mà cấu thành. Ở trạng thái đầu tiên, nó chẳng khác gì một con hộ trùng, rồi dần dần lớn bằng hạt đậu, rồi bằng miếng thịt, nằm lẫn trong máu me nhơ nhớp. Về sau, nhờ sự duy trì của nghiệp thức nó tượng thành hình người, chìm ngập trong một cái bọc đầy máu huyết. Cái thân nằm co rút trong đó cho đến chín tháng mười ngày, rồi chun theo một con đường rất bẩn thỉu, để ra khỏi bụng mẹ. Từ đó, nhừ những thực phẩm phần nhiều cũng không được tinh khiết gì như thịt cá, mà cái thân lớn dần. Nếu xét về sự tiêu hóa của thức ăn thì chúng ta cũng không khỏi lấy làm khó chịu: những món ngon vật lạ, mới nuốt vào thì cũng ưa thích, nhưng khi đã nuốt vào khỏi cổ cách một đem đẽ biến thành đồ bất tịnh khi bài tiết ra thì không ai chịu nổi, ngay đến chủ nhân của nó. Chưa nó đâu xa, cái thân nầy vài ngày chưa tắm đã thấy bẩn thỉu, rít rắm; cái miệng sáng dạy chưa súc, đã nghe có mùi hôi rồi. Trong thân, chín lỗ thường trôi chảy ra những đồ bất tịnh như: đại, tiểu, ghèn, rái, mũi, dãi...lắm chuyện nhơ nhớp. Ðó là mới nói bề ngoài, bề trong thân người lại dơ hơn thập phần. Khi mổ bụng một con gà, con heo ta thấy một đống nào bọc chứa, ruột non, ruột già, tim, gan, phèo, phổi, bong bóng...như thế nào, thì các bộ phận trong cơ thể ta cũng chẳng khác gì thế ấy. Nhất là bộ tiêu hóa là chỗ chứa đựng đủ thứ vật thực hôi thúi, chẳng khác gì một thùng phân. Ðó là mới nói khi lành mạnh, còn khi đau ốm lại càng dễ sợ hơn: nào đàm, nào mũi, thúi tha tanh hôi không sao chịu được, nhất là gặp những bệnh nan y như lao, cùi, giang mai, hoa liễu, thì thật là không ai dám lại gần. Ðó là khi trẻ, còn khi già đầu bạc răng long, lưng còm, da nhăn, má cóp, đi đứng yếu ớt, không còn đủ sức để sửa soạn bề ngoài thì lại càng nhớp nhúa hơn nữa. Ðến khi chết, nghiệp thức không còn duy trì để thay lớn mới đổi lớp cũ, thì da thịt rã rời, đụng đâu rệu đấy. Nếu không đem chôn cất cho kín, thì ruồi bọ, troi giòi rúc rỉa, mùi hôi thúi xông lên không ai chịu nổi. Vậy cái thân nầy quả thật là bất tịnh, không còn chối cãi vào đâu được. Nhưng người đời vì không xét kỹ nên mới yêu quí nó, cưng dưỡng nó đủ điều: hễ thân ưa thì mình ưa, thân ghét thì mình ghét; làm nô lệ cho thân, gây nghiệp, chịu quả báo đời đời kiếp kiếp không dứt. Cũng vì thân, mà tham, sân, si nổi lên; cũng vì thân mà sát, đạo, dâm sinh ra; cũng vì thân mà cọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiện, ác khẩu hoành hành. Trăm ngàn vạn điều lỗi lầm, cũng vì quá cưng dưỡng cái thân nầy mà tạo thành ra. vậy hành giả cần phải quan sát rõ cái thân là bất tịnh, mới tránh được những nghiệp tham ai. Nhưng quán sát như thế nào? Xưa ở Ấn độ, khi một hành giả muốn quán sát thân bất tịnh, thì tìm đến khu rừng người ta bỏ xác người chết, gọi là thi lâm(1) để quán theo lối" Cửu tưởng quán" của Phật dạy: Phép quán này gồm các giai đoạn như sau: a) Trướng tưởng: Ngày đầu ở gần bên cạnh thay chết, quán thây sình trướng to lên. b) Thanh ứ tưởng: Ngày thứ hai quán thây bị gió nắng xanh xám. c) Hoại tưởng: Ngày thứ ba quán thây bị rã nát. d) Huyết đồ tưởng: Ngày thứ tư, quán thây máu thịt rơi rớt lai láng. đ) Nồng lãnh tưởng: Ngày thứ năm, quán thây chết da thịt rục rã. e) Hám tưởng: Ngày thứ sáu, quán chim thú đến mổ ăn thây. f) Tán tưởng: Ngày thứ bảy, quán sau khi chim thú ăn, gân xương, đầu mình, tay chân chia tan nát vỡ. g) cốt tưởng: Ngày thứ tám, quán huyết thịt đã hết, chỉ còn bộ xương trắng bừa bãi. h) Thiêu tưởng: Ngày thứ chín, quán bộ xương trắng đốt cháy thành tro đất. Chín phép quán tưởng nầy, để đối trị lòng tham sắc dục. Một khi phép quán nầy đã thuần thục, thì kẻ tu hành thấy một cách tường tận như ở trước mắt, thân mình và tất cả mọi người điều bất tịnh, không có gì đáng quý chuộng, ham muốn. Do đó, có thể đối trị được bịnh tham sắc dục là một bịnh rất trầm trọng và nguy hiểm của con người trên bước đường tu hành. Nhưng quán thân bất tịnh là để trừ lòng tham sắc dục, chứ không phải để ghê tởm thân mình, đến nỗi hũy bỏ mạng sống, như sáu mươi vị Tỳ Kheo trong thời Phật tại thế, sau khi qúan thân bất tịnh thuần thục ròi, thấy ghê tởm mình và người chung quanh, đến nỗi thuê người giết đi. Ðấy là một điều mà đức Phật nghiêm cấm. Ngày nay chúng ta không có được huệ nhãn như Phật để trỏ vào bọn nữ sắc mà Thiên ma sai đến để quấy rối, và bảo rằng: "Những cái túi da đựng toàn những đồ dơ bẩn kia, hãy đi đi, ta không dùng ! ". Nhưng nhờ khoa học đã phát minh ra quang tuyến, chúng ta có thể thấy được rõ ràng những bộ xương sườn, xương sống, đầu lâu, tim, gan, phèo, phổi của một tuyệt thế giai nhân, qua ống rọi kiến , và chỉ chừng ấy củng đủ cho chúng ta quan niệm rằng: Cái đẹp chỉ là bộ mã bên ngoài , là lớp gia bọc, chứ bên trong thì bộ xương nào cũng giống nhau cả, và chiếu qua quang tuyến X, thì cái đầu lâu của một người đẹp , cũng chẵn khác gì cái đầu lâu trắng phêu đang nằm lăn lóc ngoài bãi tha ma. Hỡi Phật tử, nếu ai đã phát tâm chân thật tu hành, thì hãy cố gắng thi hành pháp "quán thân bất tịnh "; nếu chưa đủ phương tiện để thực hành phép quán ấy, thì cũng đừng bao giờ nên quên rằng: thân người không trong sạch, không có gì đáng say mê đắm đuối để đến nỗi phải gây ra bao nhiêu tai hại, tội lỗi không lường cho mình và người chung quanh. 2. Quán tâm vô thường: Bốn niệm xứ là bốn lãnh vực mà tất cả các cánh cửa của các pháp tu và sự sống đều phải đi ngang qua. Do đó nó chứa đựng tất cả nhân sinh quan và vũ trụ quan của chúng sanh. Dù là con kiến nó cũng có bốn lãnh vực của thân, thọ, tâm và pháp. Nhưng cái chủ thể của 4 niệm này vẫn là Tâm niệm xứ. Cái tâm này thì luôn vô thường,bởi vì nó duyên theo thân mà khởi niệm và tạo ra muôn pháp. Cái thân luôn biến dịch ,tương tục thay đổi, không thể có hai cái thân đồng nhất trên dòng chảy của thời gian. Giống như không thể dặm chân hai lần trên một dòng nước chảy, cho nên tâm duyên nơi thân mà cũng cảm nhận các pháp thay đổi vô thường. Thân có sanh lão bệnh tử, thì tâm cũng có hỷ, nộ, ái, ố......bảy tình cảm biến động theo duyên pháp trần. Vì cái tâm có tính chất chạy theo duyên sanh , nên vô thường biến đổi sai khác chứ không cố định. Đây là một sự thật hiển nhiên của thế gian, nên gọi là thế gian vô thường, cỏi nước của chúng sanh bở dòn dễ đổ vỡ không bền chắc. Vì vậy gọi các pháp là vô ngã vì không có chủ thể trụ cột. Tâm vô thường là thế gian tục đế. Do vọng tưởng của chúng sanh dựa theo duyên trần mà thành lập thế giới tục đế. Nếu rời vọng tưởng ra thì thế giới chỉ như giấc mộng không thật. Cái thế giói của thế gian pháp được thành lập từ tâm vô thường nên khổ đau vì hư ngụy mà ôm chấp bảo thủ, cái vô thường mà muốn nó thường, cái vô ngã mà tưởng có ngã. Cái Vô sanh mà tưởng là có sanh. Cái bất diệt mà tưởng là diệt. Bởi chính nơi tâm vô thường mà khởi vọng nghiệp, sanh vọng tưởng, chấp thân là thường còn nên điên đão vọng tưởng. Nay muốn rời cái thế gian điên đão thì phải dùng giới pháp thanh tịnh của Phật chế tác ra để trị bệnh nghiệp tham vọng và dục tưởng. Rời tham vọng và dục tưởng thì có chánh định. Tứ nợi chánh định mà có tuệ giác chiếu soi hành nghiệp của mình mà tự giác. Có tự giác thì việc của mình mới dứt đươc mê lầm. Cái chúng sanh tâm vô thường của mình có được soi sáng thì mới biết được Chơn tâm thường trụ , thể tánh tịnh minh của chúng sanh là viên giác thường trụ, còn cái tâm vô thường này của nghiệp thân tương tục chỉ là hư ảo, do biến dịch mà sanh thân tương tục. Còn chơn tâm vẫn thường trụ như hư không. Thấy được tướng thường trụ của xuất thế gian pháp thì giải thoát khỏi luân hồi của thế gian pháp mà không hề phá hoại thế gian pháp. Đây là Chơn Đế Không rời Tục Đế mà vẫn tự tại nơi tâm vô thường. Người đã giác ngộ thì tự tại trong sanh tử, việc đáng làm thì làm, người đáng độ thì độ. Phải sống thì sống, phải chết thì chết vì sanh tử là không hai, chơn đế và tục đế là vô nhất. Do đó dung thông chánh định nơi Nhị Đế là tục Đế và Chơn Đế. Đế là sự thật chắc thật. Cả hai chơn và tục đều là sư thật chắc thật. Phải quán niệm sự sống của mình nơi 4 niệm xứ thì tự mình sẽ tự giác vì không ai có thể sống và chết thay cho mình được.
------ Quán tâm vô thường thì thấy được chơn thường của giác tánh.. Quán pháp vô ngã thì thấy được thực tướng của thế gian. Quán thân bất tịnh thì thấy được nghiệp thân tương tuc của chúng sanh. Quán thọ thị Khổ thì rời được bệnh luyến ái thân của chúng sanh. Đó là giáo lý cơ bản của phật học. Nếu không tu thì không thể quán chơn thật tướng của Pháp Bảo.
------ Có sách giải rằng quán thân bất tịnh thì thấy cái thân này toàn là của nợ bất tịnh nhơ uế không đáng ưa, ví phải quán thấy đúng sự thật này thì mới trừ được dục tưởng ái luyến thân. Thật ra thì đã luyến ái thì dù biết thân là bất` tịnh nhơ uế chúng sanh vẫn không chừa bỏ được thân. Bởi vì bỏ thân thì còn cái thân nào đây ? Còn thân bất tịnh thì lại khác thân nhơ uế, bởi vì là bất tịnh thì luôn biến dịch thay đổi, thay đổi nên có cái thân tương tục, mất thân này sanh thân khác. Muốn thân không mất mà cố định như củ thì cũng không thể được. A không bao giờ luôn luôn là A, .- A của phút giây trước và phút giây sau là không phải một cũng không phải khác.. Cái đó chính là bất tịnh, là biến dịch chứ không phải là cấu uế hay trong sạch. Tâm duyên theo thân mà sanh niệm nên tâm đó là tâm vô thường của thế gian pháp. Thế gian pháp thì vô ngã vì không có gì là chủ thể. Cái niệm cảm thọ nếu sanh luyến ái thì chính là nguyên nhân của khổ. Nếu không có ái nghiệp thì đâu có khổ. Thọ khổ là do luyến ái thân. Cái niệm khổ thọ là ái dục tưởng mà sanh khởi. Nêứ không có cái tôi bị đau thì thọ chỉ là thọ chứ không khổ. Vì khổ chính là có cái tôi .Tứ cái tôi bị khổ nên mới đi tìm đạo.thoát khổ. Nhờ có khổ mà có con đường đi tới đạo giáo hay tôn giáo. Nếu không có cảm thọ cái tôi bị khổ thì cũng chẳng có con đường giải thoát nào được đề ra cho chúng sanh. Không ai tìm đến các thứ chủ nghĩa và tôn giáo để thoát khổ.
Trong chuyện kể của đạo Phật về điển tích có câu chuyện của ông Lưong Y tài giỏi nhất thời đức Phật tại thế là Ông Kỳ Bà. Ông chuyên chửa bệnh và khám bệnh để dạy cách phòng bệnh cho Vua quan và dân chúng thời đó là hay nhất. Vua phái ông đến khám bệnh cho Phật và chư đệ tử thời đó nên khi chết ông có phước sanh về cỏi trời hưởng phước. Thầy của ông là Ngài Mục Kiền Liên thương ông vì chỉ lo cứu người mà không học và tu theo chánh Pháp. Vì vậy Ngài mới lên cỏi trời tìm ông Kỳ Bà để dạy học Phật Pháp cho ông biết tu. Nhưng khi gặp được Ông Kỳ Bà thì ông chỉ chắp tay chào Thầy rồi đi chơi ngay. Bởi vì cỏi trời quá vui và ông phải dùng tất cả thì giờ để vui. Rốt cuôc thầy ông không có cách nào có cơ hội để dạy cho ông để ông biết tu. Như vậy là đành trở về, vì cỏi trời vui quá nên ông không có thì giờ rãnh để nghe pháp mà tu . Do đó mà có câu Phật ngữ là : Làm thiện nghiệp mà quên mất tâm bồ đề là làm ma sự. Bởi vì quả thiện vui quá, đến khi phước hết thì bị đọa. Chúng sanh có cái` khổ, vậy mà có cái phứoc, vì từ khổ mà biết quán niệm phật pháp để tu. Do quán thọ khỗ niệm mà có giải thoát. Bởi vậy họa phước gì thì cũng là con dao hai lưởi, nếu theo cái vui mà quên mất con đường chuyển hóa nghiệp khổ thì vui xong thì liền khổ. Thân cỏi trời hay thân cỏi người thì cũng có tâm vô thường làm chủ nghiệp báo. Nếu không khéo quán niệm thì cứ bị ảo hóa của vô thường làm ông chủ. Bởi vì ông chủ của chúng sanh chính là Tâm.Vô Thường.
QUÁN TÂM VÔ THƯỜNG - QUÁN PHÁP VÔ NGÃ -.3. Quán pháp vô ngã:Pháp, theo tiếng Phạn là Dharma. tàu dịch là quỹ trì, nghĩa là năm giữ phạm vi của mình, như vuông, dài, tròn méo...để mỗi khi người ta trông đến, liền nhận biết cái nầy là gi, và khỏi lẫn lộn với vật khác. Nghĩa chữ Pháp rộng lớn mênh mông, chỉ cho tất cả mọi sự thật trên vũ trụ, chẳng những các vật hữu hình, cho đến các vật vô hình tưởng tượng như lông rùa, sừng thỏ, cũng gọi là Pháp CẢ. Còn Ngã có nghĩa là chủ lễ, là riêng có tự tướng của mình. Người ta thường chấp các pháp đều có tự tướng của người, vật có tự tướng của vật, thế giới có tự tướng của quốc gia, xã hội có tự tướng của xã hội. Ðã chấp có tự tướng của mình, tất nhiên thấy có tự tướng của người khác. Ðối với tự tướng của một vật, hễ về mình thì không về người khác, còn về người khác thì không về mình. Do đó, sinh ra tâm niệm nhân, ngã, bỉ thử, quí trpngj, khinh rẽ, tranh chấp, đấu tranh trong xã hội. Song, xét ra cho kỹ thì các pháp nào phải thật có "tự tướng"? Nói về lục trần thì sắc đối với không, động đối với tịnh, sanh đối với diệt...nào có cái gì riêng một mình thật có tự tướng đâu? Trần đối với căn mà có hình tướng, căn đối với trần mà có tác dụng, ngoài trần không có căn, ngoài căn không có trần. Như thế, thì biết tất cả các pháp, dù căn, dù trần cũng đều không có tự tướng. trong kinh Lăng Nghiên có câu: "Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sanh, nhân duyên biệt ly, hư vọng hữu diệt". Nghĩa là: các nhân duyên nhóm họp thì giả dối có sanh, các nhân duyên chia rẽ, thì giả dối có hoại diệt. Vậy đủ biết: tất cả các pháp làm nhân duyên cho nhau, in tuồng là có, chứ không có tự tướng. Không có tự tướng, tức là "vô ngã". Ví như trong giấc chiêm bao, vì nhân duyên chiêm bao hiện ra thấy có cảnh nầy cảnh khác. Ðương khi ấy, người chiêm bao, cũng lầm tưởng là thật có, đến khi thức dậy, mới nhận ra đó là cảnh giả dối trong chiêm bao. Chúng ta cũng thế, vì mê lầm nên không nhận ra được sự giả dối của sự vật. Trong khi tâm duyên với cảnh, cảnh duyên với tâm, vạn pháp hiện ra giữa vũ trụ, chúng ta tưởng là thật có. thật ra, các pháp đều không tự tướng, đều là "vô ngã". Chúng ta không biết lý "pháp vô ngã", cho nên ngoài bị hoàn cảnh kích thích, trong bị phiền não lay động, quay cuồng theo sự múa rối của giả cảnh. Vì thế, tuy muốn tự tại mà chưa lúc nào chúng ta được tự tại, muốn an vui mà chưa lúc nào được an vui, muốn thường trụ mà vẫn phải trôi lăn trong vòng sanh tử. nếu chúng ta chứng được pháp vô ngã rồi, thì một thể vô ngã trùm khắp cả pháp giới. Cảnh cũng vô ngã, tâm thức cũng vô ngã, thì còn cái chi mà ghét, mà thương, mà chịu sanh tử luân hồi nữa. Pháp vô ngã là lối tu giải thoát rốt ráo. Nếu ai ai cũng biết tu hạnh vô ngã một đôi phần thì đâu có sự ích kỷ hại nhân, và cảnh tượng thế giới hòa bình đâu phải là điều không thể thực hiện được? 4. Quán thọ thị khổ: Thọ là chịu, nhận lãnh. Thọ thi khổ nghĩa là có nhận lãnh là có khổ. Nhận lãnh đây là nhận lãnh cái gì? Nhận lãnh ở đây có nghĩa vô cùng rộng rãi, nghĩa là nhận lãnh tất cả những gì mà người đời có thể nhận được trong cuộc sống. Trước tiên nhận lãnh cái thân nầy là cái thân rioêng của ta, cái tâm nầy là cái tâm riêng của ta. Sự thọ nhận nầy là nguồn gốc đầu tiên để thọ nhận những cái khác nhau về sau: để giữ gìn thân mạng, ta thọ cái ăn, thọ cái mặc, thọ cái ở, thọ sắc, thanh, hương, vị, xúc; thọ những cái gì làm cho ta khoái trá, thích thú, vui vẻ. và lòng tham càng nhiều, thì thọ lại càng lắm. từ cái thọ cần thiết cho cuộc sống, ta tiến dần đến những cái thọ ít cần thiết, rồi đến những cái thọ xa xỉ, thừa thải vô ích, nhưng vì thói quen óp nhặt, tham lam, ta không thể bỏ qua được. Nói tóm lại, mỗi chúng sanh, mỗi cuộc đời là một chuỗi thọ nhận liên tiếp. Và chính thọ nhận ấy là mần chính của đau khổ. Trước tiên ta thọ nhận cuộc đời; nhưng cuộc đời là gì nếu không phải là một trường đau khổ, như chúng ta đã thấy trong phần khổ đế? nào sanh, nào lão, nào bệnh, nào tử, nào yêu mà phải xa lìa, nào oán mà phải gặp gỡ v.v...thật là toàn những khổ nhưng đó là mới nói những nỗi khổ căn bản. Ngoài ra, còn bao nhiêu nỗi khổ khác, cũng do thọ mà ra như: nhận được một cái gì cho là quý thì nơm nớp sợ mất, lo tìm kiếm cách nầy, chước nọ để giữ gìn nó. Nhưng cuọc đời đã là vô thường thì còn cái gì là tồn tại mãi? Ngay cuộc đời của ta mà cũng không giữ mãi được thì còn cái gì được nữa? Do đó, sanh buòn thương, tiếc nuối, mất ăn bỏ ngủ. Và người càng thọ nhiều chừng nào lại càng khổ chừng ấy. Kẻ giàu thì sợ mất của, kẻ có địa vị thì sợ mất địa vị, kẻ có người yêu đẹp thì sợ mất người yêu, kẻ có danh vọng lớn thì sợ mất danh vọng... Nhưng có phải muốn thọ lãnh thì bao giờ cũng được thọ lãnh theo ý muốn đâu? Thọ mà may gặp thuận cảnh thì được thỏa dạ trong phát đầu tiên, nhưng thọ mà gặp nghịch cảnh thì càng thêm đau khổ. Ở đời, thuận cảnh thì ít, mà nghịch cảnh thì quá nhiều. Thường thường, ta ngửa tay mong nhận lãnh một cái nầy, mà một cái trái ngược khác lại rơi vào tay ta ! Do đó, sanh giận dữ, thất vọng, khổ đau. Ðó là nghĩa của "Thọ thì khổ". Phép quán nầy mục đích đối trị bệnh tham là một bệnh trầm trọng nhất trong các bệnh phiền não, đã ăn sâu gốc rễ trong lòng chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp. Vậy Phật tử chúng ta, muốn diệt trừ tánh tham, phải quán "thọ thị khổ". ta phải luôn luôn nhớ lời Phật dạy: hễ có lãnh thọ thì có khổ; càng lãnh thọ nhiều thì càng khổ lắm. càng ít lãnh thọ, thì khổ đau càng ít. Tất nhiên chúng ta không thể xả bỏ tất cả trong một lúc; nhưng chúng ta nên tuần tự xả những gì dễ xả, có thể xả được, rồi đi dần đến những cái khó xả. Càng xả chứng nào lại càng nhẹ gánh đau thương. Người đời thường cho rằng càng gánh nhiều vàng bạc châu báu, danh vọng, địa vị, sắc đẹp, vui thú, lại càng sướng; nhưng đã gọi là gánh gì thì gánh cũng là gánh, và càng gánh nặng thì vai càng đau, chân càng mỏi, đi càng chậm; tóm lại khổ càng nhiều. Trái lại, nếu chúng ta không lãnh thọ, như sắc đẹp, mùi ngon, vị lạ v.v...thì thân tâm ta không bị lay động. Ðối với cảnh ta thấy không có gì đáng ưa, cũng không có gì đáng khổ sở. Như thế mới được an nhiên tự tại thoát vòng khổ đau. C. Kết Luận "Tứ niệm xứ" là gíao lý căn bản trong phần Ðạo đế. Có hiểu được giáo lý nầy một cách tường tận thì sự tu hành mới vững chắc được. Nó đánh đổ được một cách rốt ráo bón thánh kiến sai lầm lớn lao của con người là: tưởng thân mình là quý báu tốt đẹp trong sạch; tưởng tâm mình là vĩnh viễn thường còn, như một linh hồn bất diệt; tưởng mọi sự vật trên đời nầy chắc thật trường cữu; tưởng thu nhận tom góp được nhiều chừng nào thì sung sướng chừng ấy. Nhưng sự thật lại rất trái ngược: 1) Thân thì bất tịnh, như một cái đãy đựng đồ dơ, không đáng nâng niu chìu chuộng. 2) tâm thì vô thường, luôn luôn biến đổi theo với hoàn cảnh bên ngoài, không có gì là trường tồn, bất diệt. 3) Pháp thì vô ngã, không có tự tánh nhất định, không chắc thật mà đều là như huyễn như hóa. 4) thọ thì khổ, chẳng hạn, ta thọ lãnh cái thân, thì cái thân là dơ bẩn; ta thọ lãnh cái tâm, thì tâm là vô thường là luôn luôn biến đổi; ta thọ lãnh sự vật ở chung quanh, thì sự vật đều là giả trá, như khói, như mây. Do đó, càng thọ lãnh nhiều chừng nào, lại càng đau khổ nhiều chừng ấy. vậy chúng ta phải luôn luôn quán sát, ghi nhớ bốn sự thật trên đây. Càng chứng được bốn sự thật ấy chừng nào thì sự chấp ngã, chấp pháp, tham, sân, si lại càng bớt dần chừng ấy. Phật tử càng nắm vững bốn sự thật ấy chừng nào, thì sự tu hành theo các môn trong Ðạo đế sau nầy, như bốn món chánh cần, bốn món Như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực v.v...mới dõng mãnh và chópng có kết quả chừng ấy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.13/5/2015. |
Tuesday, May 12, 2015
Tứ Niệm Xứ.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment