Saturday, October 31, 2015

NHỮNG TÍCH BỐ THÍ.


Những tích bố thí dưới đây, được trích dịch tóm tắt từ các bộ Apādāna, bộ Vimānavatthu, bộ Chú giải Dhammapadaṭṭhakathā, bộ Chú giải Aṅguttaranikāya, v.v....




Tích Bố Thí Những Vật Dụng.




Vào thời kỳ Ðức Phật Padumuttara xuất hiện trên thế gian, tiền thân Ngài Ðại Ðức Pilindavaccha [Bộ chú giải Aṅguttaranikāya, phần Etadaggavagga] là một cận sự nam có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật Padumuttara.
Một hôm, người cận sự nam này đến nghe thuyết pháp, nhìn thấy Ðức Phật tuyên dương một Tỳ khưu xuất sắc đệ nhất trong hàng Thanh Văn đệ tử về đức hạnh, làm cho chư thiên yêu mến. Người cận sự nam này có nguyện vọng mong muốn được địa vị như vị Tỳ khưu ấy, nên làm phước bố thí cúng dường Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng những vật dụng như y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh; và được Ðức Phật Padumuttara thọ ký rằng: "Trong tương lai, còn 100 ngàn đại kiếp nữa, đến thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, người cận sự nam này sẽ xuất gia trở thành Tỳ khưu, rồi sẽ được địa vị xuất sắc đệ nhất đức hạnh, làm cho chư thiên yêu mến, như vị Tỳ khưu đệ tử của Như Lai".

Người cận sự nam ấy, sau khi chết, do phước thiện bố thí những vật dụng cho quả, khi thì tái sanh làm chư thiên cõi trời dục giới hưởng đầy đủ mọi sự an lạc trên cõi trời ấy; khi thì tái sanh làm người trong gia đình giàu sang phú quý, đầy đủ những món vật dụng quý báu trong cõi người, kiếp nào cũng như vậy, suốt 100 ngàn đại kiếp trái đất không hề sa đọa trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh); chỉ tái sanh những cõi thiện giới: cõi người, cõi trời mà thôi.
Ðến kiếp chót, được tái sanh làm người trong gia đình Bà la môn dòng dõi cao quý, đặt tên Pilindavaccha. Vào thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, Ngài đến nghe pháp rồi phát sanh đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, xin xuất gia trở thành Tỳ khưu, tiến hành thiền định và thiền tuệ, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả cùng với Tứ tuệ phân tích và Lục thông.
Ðức Phật tuyên dương Ngài Ðại Ðức Pilinda-vaccha rằng:
"Etadaggaṃ bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ devatānaṃ piyamanāpānaṃ yadidaṃ Pilindavaccho".
"Này chư Tỳ khưu, trong hàng Tỳ khưu Thanh Văn đệ tử của Như Lai, Pilindavaccha là Tỳ khưu cao quý nhất về đức hạnh, làm cho chư thiên yêu mến".

Như vậy, sự việc đã thành tựu đúng theo nguyện vọng của Ngài và đúng theo lời thọ ký của Ðức Phật Padumuttara trong quá khứ.



Tích Bố Thí Thuốc




Tiền thân của Ngài Ðại Ðức Bākula được tóm lược như sau__
Thời kỳ Ðức Phật Anomadassī xuất hiện trên thế gian, tiền thân Ngài Bākula là một vị đạo sĩ chứng đắc 8 bậc thiền, có ngũ thông, đến hầu Ðức Phật nghe pháp, xin thọ Tam quy nơi Ðức Phật.
[Bộ Chú giải Aṅguttaranikāya, phần Etadaggavagga; Thời kỳ Ðức Phật Anomadassī đến Ðức Phật Padumuttara cách 1 a tăng kỳ]


Một thời nọ, Ðức Phật Anomadassī bị lâm bệnh phong hàn, vị đạo sĩ (tiền thân Ngài Ðại Ðức Bākula) đi tìm thuốc đem về làm phước bố thí cúng dường đến Ðức Phật. Nhờ uống thuốc ấy, Ðức Phật khỏi bệnh.
Vị đạo sĩ cầu nguyện rằng: do nhờ phước thiện bố thí thuốc, trị khỏi bệnh của Ðức Phật, kiếp nào con cũng có sắc thân không bệnh hoạn ốm đau.

Vị đạo sĩ ấy sau khi chết, do năng lực bậc thiền sở đắc của mình được tái sanh lên cõi trời phạm thiên, những kiếp kế tiếp suốt 1 a tăng kỳ tái sanh làm người hoặc chư thiên, phạm thiên.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Padumuttara [*], tiền thân Ngài Bākula sanh trong gia đình quý tộc, thường đến nghe Ðức Phật thuyết pháp. Một hôm, Ngài nhìn thấy Ðức Phật tuyên dương một vị Tỳ khưu xuất sắc nhất về đức hạnh ít bệnh hoạn ốm đau. Ngài rất hoan hỉ có nguyện vọng muốn được địa vị xuất sắc nhất ấy, Ngài cố gắng tạo mọi phước thiện bố thí cúng dường đến Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng, nhất là bố thí cúng dường thuốc trị bệnh. Ngài được Ðức Phật Padumuttara thọ ký, trong vị lai, vào thời kỳ Ðức Phật Gotama, Ngài sẽ là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Ðức Phật Gotama xuất sắc nhất về đức hạnh ít bệnh hoạn ốm đau. Ngài vô cùng hoan hỉ tạo mọi phước thiện đến trọn kiếp, do thiện nghiệp ấy cho quả chỉ tái sanh làm người hoặc chư thiên nơi cõi trời mà thôi.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Vipassī [*] xuất hiện trên thế gian, tiền thân Ngài Ðại Ðức Bākula sanh trong dòng dõi Bà la môn cao quý. Khi trưởng thành Ngài xuất gia trở thành đạo sĩ chứng đắc các bậc thiền, thường đến hầu Ðức Phật nghe pháp, thọ Tam quy nơi Ðức Phật. Vị đạo sĩ thường đến hộ độ Ðức Phật.
[*] Thời kỳ Ðức Phật Padumuttara cách trái đất của chúng ta 100 ngàn đại kiếp trái đất. Thời kỳ Ðức Phật Vipassī cách trái đất của chúng ta 91 đại kiếp trái đất.
Một lần nọ, có một số Tỳ khưu bị bệnh, vị đạo sĩ đi tìm thuốc về làm phước bố thí chữa trị cho những vị Tỳ khưu ấy đều khỏi bệnh. Ðến khi vị đạo sĩ hết tuổi thọ, do năng lực sắc giới thiện nghiệp cho quả tái sanh lên cõi phạm thiên. Suốt 91 đại kiếp chỉ tái sanh làm người hoặc chư thiên nơi cõi trời mà thôi.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian, tiền kiếp Ngài Ðại Ðức Bākula sanh trong gia đình giàu sang phú quý; Ngài đã xây cất chánh điện, trai đường, nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà thương dâng cúng đến chư Tăng, đặc biệt thích làm phước bố thí thuốc trị bệnh đến chư Tỳ khưu Tăng. Khi hết tuổi thọ, do phước thiện ấy cho quả được tái sanh cõi trời và cõi người, không hề sa đọa trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh).
Kiếp hiện tại, cũng là kiếp chót, Ngài sanh trong gia đình phú hộ xứ Kosambī. Ngài sanh ra đời đến ngày thứ năm, theo tục lệ, những người vú nuôi bồng ẵm Ngài xuống dòng sông Yāmunā để tắm cho khỏi bệnh. Một con cá lớn nhìn thấy đứa trẻ tưởng là miếng mồi, bơi đến nuốt chửng Ngài vào bụng. Dầu Ngài nằm trong bụng con cá vẫn cảm thấy an lạc. Do năng lực phước thiện của Ngài, làm cho con cá cảm thấy nóng nảy bơi suốt 3 do tuần đến xứ Bārāṇasi thì bị mắc lưới của dân chài xứ ấy. Dân chài bắt con cá đem bán cho gia đình phú hộ Bārāṇasī không có con. Do năng lực phước thiện của Ngài, khiến cho bà phu nhân phú hộ tự tay mình mổ bụng con cá phát hiện một đứa trẻ nằm trong bụng con cá, bà vô cùng vui mừng, hạnh phúc được một đứa trẻ, bà reo lên "tôi được một đứa con trong bụng cá". Tiếng lành phi thường lan rộng, ông bà phú hộ Kosambī đến nhìn nhận là đứa con trai của chính mình cưu mang đủ 10 tháng sinh ra, đứa bé bị con cá nuốt vào bụng. Như vậy, đứa bé này đúng là con của họ, không phải con của gia đình ông bà phú hộ xứ Bārāṇasī. Hai gia đình phú hộ tranh chấp, không bên nào nhường bên nào. Họ đem sự việc trình Ðức vua phán xử. Ðức vua phán rằng: đứa bé này là con chung của hai gia đình phú hộ: phú hộ xứ Kosambī và phú hộ Bārāṇasī. Do đó, đặt tên Ngài là Bākulakumāra có nghĩa là đứa bé của hai gia đình. Ngài được hai gia đình nuôi dưỡng, mỗi gia đình 4 tháng. Ngài ở gia đình bên này suốt 4 tháng rồi đến gia đình bên kia 4 tháng, và cứ thế thay phiên như vậy.
Cuộc đời Ngài hưởng sự an lạc của hai gia đình phú hộ suốt 80 năm.
Trong thời kỳ Ðức Phật Gotama, một thuở nọ, Ðức Phật ngự đến xứ Kosambī, Ngài Bākula đến hầu Ðức Phật lắng nghe chánh pháp, nhàm chán đời sống tại gia, xin Ðức Phật cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu. Sau khi đã trở thành Tỳ khưu được 7 ngày, qua đến sáng ngày thứ 8 Ngài tiến hành thiền tuệ, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả cùng với Tứ tuệ phân tích, hoàn thành xong phận sự của bậc xuất gia.
Ðức Phật tán dương Ngài Ðại Ðức Bākula rằng:
"Etadaggaṃ bhikkhave, mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ appābādhānaṃ yadidaṃ Bākulo".
"Này chư Tỳ khưu, trong hàng Thanh Văn đệ tử của Như Lai, Bākula xuất sắc nhất về đức hạnh ít bệnh hoạn ốm đau".

Những quả báu đều bắt nguồn từ phước thiện bố thí thuốc trị bệnh đến Ðức Phật Anomadassī.
Ngài Ðại Ðức Bākula ít bệnh hoạn ốm đau nhất, xuất gia trở thành Tỳ khưu được 80 hạ. Ngài tịch diệt Niết Bàn lúc tròn 160 tuổi, là người có tuổi thọ, sống lâu nhất trong giáo pháp của Ðức Phật Gotama.



Tích Bố Thí Ðèn




Tiền thân của Ngài Ðại Ðức Pañcadīpaka là một cận sự nam trong thời kỳ Ðức Phật Padumuttara xuất hiện trên thế gian [Bộ Apādāna, tích Pañcadīpaka apādāna].
Người cận sự nam nhìn thấy những người Phật tử có đức tin nơi Ðức Phật, thường đến lễ bái cúng dường tại đại cội Bồ Ðề của Ðức Phật Padumuttara. Một hôm, Ngài phát sanh đức tin trong sạch bố thí những ngọn đèn thắp sáng chung quanh cúng dường đại cội Bồ Ðề.
Do năng lực bố thí đèn cúng dường đại cội Bồ Ðề ấy, Ngài được tái sanh làm vua cõi Tam thập tam thiên hưởng sự an lạc trong cõi trời ấy; khi tái sanh làm người là Ðức Chuyển luân thánh vương, hoặc làm Vua một nước lớn hưởng sự an lạc trong cõi người, suốt 100 ngàn đại kiếp trái đất, chỉ tái sanh những cõi thiện giới: cõi người và cõi trời, không hề bị sa đọa trong 4 cõi ác giới.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, Ngài sanh trong gia đình quý tộc. Khi trưởng thành, một hôm đến nghe Ðức Phật thuyết pháp phát sanh tâm nhàm chán đời sống tại gia, xin Ðức Phật cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu. Sau khi trở thành Tỳ khưu, Ngài tiến hành thiền định, tiến hành thiền tuệ chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả với Tứ tuệ phân tích, Lục thông, hoàn thành xong phận sự của Sa môn.
Như vậy, tất cả quả báu đều bắt nguồn từ bố thí đèn thắp sáng chung quanh cúng dường đại cội Bồ Ðề của Ðức Phật Padumuttara.



Tích Bố Thí Vật Thực




Trong bộ Vimāvatthu, tích Bhikkhādāyakavi-māna được tóm lược như sau:
Người cận sự nam ở trong nhà, rửa tay sửa soạn dùng vật thực, đang xới cơm ra đĩa để ăn, nhìn thấy một vị Tỳ khưu đi khất thực đang đứng trước cửa nhà. Người cận sự nam đem đĩa cơm, có một món đồ ăn ra để vào bát vị Tỳ khưu. Vị Tỳ khưu cầu nguyện an lành xong rồi đi. Người cận sự nam vô cùng hoan hỉ nghĩ rằng: "Hôm nay, ta nhịn ăn, dành vật thực làm phước bố thí cúng dường đến vị Tỳ khưu ấy".

Về sau người thí chủ ấy chết, do năng lực phước thiện bố thí vật thực ấy cho quả, được tái sanh làm vị thiên nam ở cõi Tam thập tam thiên có lâu đài bằng vàng cao 12 do tuần, xung quanh lâu đài có 700 phòng lớn, những cây cột bằng ngọc quý, những đồ trang trí toàn bằng những vật quý giá.
Vị thiên nam có nhiều oai lực, có hào quang sáng ngời mọi phương hướng, có nhiều thiên nữ hầu hạ ngày đêm....
Tất cả mọi quả báu phát sanh do phước thiện bố thí vật thực đến vị Tỳ khưu.



Tích Bố Thí Dép




Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna bay lên cõi Tam thập tam thiên, nhìn thấy một lâu đài nguy nga tráng lệ, có nhiều thiên nữ hầu hạ, bèn hỏi rằng:
- Này thiên nữ, tiền kiếp cô đã tạo phước thiện gì, kiếp này cô hưởng sự an lạc như vậy?
Thiên nữ Upāhanadāyikā trả lời Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna:
- Kính bạch Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna, con là thiên nữ Upāhanadāyikā. Kiếp trước, khi ở cõi người vào thời Ðức Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian, con nhìn thấy vị Tỳ khưu đang đi bát, con có dâng một đôi dép đến vị Tỳ khưu. Do năng lực phước thiện bố thí dép ấy, cho quả được tái sanh lên cõi Tam thập tam thiên, trong lâu đài xinh đẹp, có thiên nữ hầu hạ, hưởng sự an lạc như thế này.



Tích Bố Thí Hoa




Thời kỳ Ðức Phật Sikhi xuất hiện trên thế gian, một người bán hoa lài, đem hoa từ rừng ra, giữa đường gặp Ðức Phật Sikhi ngự đi khất thực, người ấy phát sanh đức tin trong sạch, để giỏ hoa xuống đảnh lễ Ðức Phật rồi cúng dường Ðức Phật một nắm hoa lài. [Thời kỳ Ðức Phật Sikhi cách trái đất chúng ta 31 đại kiếp trái đất.]
Ðức Phật muốn làm cho người bán hoa phát sanh đức tin, nên hóa phép thần thông ghép những đóa hoa thành lọng che trên đầu Ngài, cho đến khi ngự trở về chùa mới biến mất. Người bán hoa nhìn thấy vô cùng ngạc nhiên, vô cùng hoan hỉ. Ðến khi hết tuổi thọ, do phước thiện bố thí cho quả được tái sanh lên cõi Tam thập tam thiên. Do năng lực phước thiện bố thí hoa ấy, chỉ cho quả tái sanh cõi trời, cõi người suốt 31 đại kiếp trái đất, không hề bị sa đọa trong 4 cõi ác giới.
Thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, hậu thân của người bán hoa, cũng do năng lực phước thiện bố thí hoa ấy cho quả tái sanh làm người, gặp Ðức Phật Gotama xin phép xuất gia trở thành Tỳ khưu, hành thiền tuệ chứng đắc đến A-ra-hán Thánh Quả.



Tích Bố Thí 4 Quả Xoài




Trong bộ Vimānavatthu, tích Phaladāyaka-vimāna được tóm lược như sau:
Một người làm vườn xoài của Ðức vua Bimbisāra, một hôm, Ðức vua truyền gọi người làm vườn xoài đến và phán rằng:
- Này ngươi, Trẫm muốn thưởng thức xoài; ngươi có thể làm cách nào để có xoài, đem đến dâng Trẫm được hay không?
- Tâu bệ hạ! Lúc này không phải mùa xoài, xin bệ hạ ráng đợi một thời gian ngắn, hạ thần sẽ cố gắng làm cho cây xoài ra quả sớm.
Ðức vua ưng thuận, người làm vườn xoài chọn một cây xoài rồi chăm sóc đặc biệt, làm cho cây xoài ra bông, kết trái chín được 4 quả. Người ấy đem đến dâng Ðức vua, trên đường đi, nhìn thấy Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna đang đi khất thực, liền nghĩ rằng: "Những quả xoài này trái mùa rất ngon, ta nên làm phước bố thí để bát đến Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna, dầu Ðức vua có giết ta hoặc đuổi ta ra khỏi nước, ta cũng chấp nhận. Nếu ta đem 4 quả xoài này đến dâng cho Ðức vua, thì ta chỉ được bỗng lộc trong kiếp hiện tại mà thôi; còn như ta làm phước thiện bố thí dâng 4 quả xoài này đến Ngài Ðại Ðức, thì ta không những được quả báu ở kiếp hiện tại mà còn vô lượng kiếp vị lai nữa".

Nghĩ vậy, người ấy đem 4 quả xoài đến cung kính làm phước để bát dâng đến Ngài Ðại Ðức. Khi dâng xong, tâm cảm thấy vô cùng hoan hỉ, đi đến hầu Ðức vua tâu rõ mọi việc rồi xin chịu tội.
Nghe tâu xong, Ðức vua truyền lệnh cho một vị quan điều tra xem chuyện này thực hư như thế nào, rồi về trình Ðức vua.
Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna đem 4 quả xoài kính dâng đến Ðức Phật, Ðức Phật độ 1 quả, còn 3 quả, Ngài ban phát cho Ngài Ðại Ðức Sāriputta, Ngài Mahāmoggallāna, Ngài Mahākassapa mỗi Ngài 1 quả.
Vị quan trở về tâu Ðức vua biết sự việc ấy, nghe vậy, Ðức vua vô cùng hoan hỉ nghĩ rằng: người làm vườn là bậc Thiện trí, dám hy sinh sanh mạng để mưu cầu phước thiện thanh cao.
Ðức vua ban thưởng cho người làm vườn một làng để thu thuế, vàng, bạc, vải, đồ đạc... và Ðức vua yêu cầu rằng: "Nhà ngươi có cơ hội tốt làm phước thiện bố thí 4 quả xoài đến Ngài Ðại Ðức, vậy nhà ngươi hãy chia phần phước thiện ấy đến cho Trẫm với".

Người làm vườn xoài tâu rằng:
- Tâu bệ hạ! Kính xin bệ hạ hoan hỉ phần phước thiện ấy.
Về sau, người làm vườn xoài ấy chết, do năng lực phước thiện bố thí ấy cho quả tái sanh làm thiên nam cõi Tam thập tam thiên trong lâu đài bằng vàng cao 16 do tuần, có 700 phòng lớn, cột bằng ngọc quý, những đồ trang trí quý giàu; là một thiên nam có nhiều oai lực, có hào quang sáng ngời khắp mọi phương, có rất nhiều thiên nữ hầu hạ, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời.
Ðó là quả báu của phước thiện bố thí 4 quả xoài đến Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna.



Tích Bố Thí Cơm Cháy




Trong bộ Vimānavatthu, tích Ācāmadāyikā-vimāna được tóm lược như sau:
Một bà già nghèo khổ ăn mày, sống nhờ đằng sau hiên nhà người khác, người ta nhìn thấy bà đáng thương nên thường cho cơm, cháo và miếng cơm cháy... để bà sống qua ngày.
Một hôm, Ngài Ðại Ðức Mahākassapa vừa xả diệt thọ tưởng định, quán xét nên đi khất thực để tế độ người nào. Ngài nhìn thấy một bà già nghèo khổ, gần chết, nếu bà chết có thể sa đọa địa ngục. Ngài nghĩ nên đi khất thực tế độ bà, để cứu vớt bà tránh khỏi bị sa đọa địa ngục, do nhờ phước thiện bố thí miếng cơm cháy, còn cho quả tái sanh lên cõi Hóa lạc thiên.
Xét thấy như vậy, vào buổi sáng, Ngài mặc y mang bát đi đến chỗ ở của bà. Trong khi đó vua trời Sakka biến hóa thành người già đem vật thực đến để bát dâng cho Ngài, Ngài biết người già đó là vua trời Sakka, nên bảo rằng:
- Này Ðức vua trời, ông không nên giành phước báu của người nghèo khổ.
Ngài không chịu dỡ bát, vẫn đứng yên trước bà già nghèo khổ kia. Bà nghĩ rằng: Ngài Ðại Ðức là bậc có giới đức lớn, được phần đông tôn kính, phận ta nghèo khổ không có gì quý giá để làm phước thiện bố thí đến Ngài, ta chỉ có nước cơm và miếng cơm cháy không ngon lành gì cả. Vã lại, còn đựng trong một đồ dùng không sạch sẽ, ta nào dám làm phước bố thí để bát đến Ngài được. Nên bà bạch rằng:
- Kính xin Ngài đi nơi khác. Bạch Ngài.
Ngài vẫn đứng yên không đi nơi khác, những người khác đem vật thực đến để bát dâng cúng, Ngài vẫn không dỡ nắp bát để nhận. Bà già nghĩ rằng: chắc chắn Ngài Ðại Ðức đứng đây để tế độ ta. Bà phát sanh đức tin trong sạch muốn làm phước thiện bố thí. Bà đem miếng cơm cháy đến, Ngài liền dỡ nắp bát, bà để vào trong bát cúng dường Ngài một cách tôn kính.

Ngài Ðại Ðức tỏ vẻ muốn thọ thực, để cho bà thấy, càng phát sanh đức tin trong sạch, hoan hỉ trong việc phước thiện bố thí của bà. Mọi người hiểu ý, trải chỗ ngồi, Ngài ngồi thọ thực miếng cơm cháy ấy. Uống nước xong, Ngài thuyết pháp, làm cho bà già hoan hỉ trong phước thiện bố thí của mình và cho bà biết được rằng; bà đã từng là thân mẫu của Ngài trong tiền kiếp. Bà càng có đức tin trong sạch nơi Ngài Ðại Ðức và vô cùng hoan hỉ phước thiện bố thí đã làm. Về sau, bà chết, do năng lực phước thiện bố thí cho quả, được tái sanh làm thiên nam cõi Hóa lạc thiên (cõi thứ năm trong 6 cõi trời dục giới) có nhiều oai lực, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy.



Tích Dâng Vật Thực Ðến Ðức Phật




Trong bộ Vimānavatthu, tích Bhikkhadāyikā-vimāna được tóm lược như sau:
Vào canh chót đêm, Ðức Phật nhập đại bi định, khi xả định quán xét chúng sinh nên tế độ, Ngài nhìn thấy một người đàn bà sắp hết tuổi thọ, sau khi chết, do ác nghiệp của bà đã tạo sẽ bị sa vào địa ngục. Ðức Phật muốn tế độ bà tránh khỏi cảnh địa ngục, được tái sanh cõi trời.
Sáng hôm ấy, Ðức Phật một mình mặc y mang bát ngự đến kinh thành Uttaramadhura để tế độ người đàn bà ấy. Người đàn bà nấu cơm xong, lấy hũ đi lấy nước, trên đường về nhà gặp Ðức Phật, bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, Ngài đã thọ nhận vật thực được hay chưa? Bạch Ngài.
- Chắc sẽ được. – Ðức Phật đáp.
Người đàn bà biết Ðức Phật chưa được vật thực, nên kính thỉnh Ðức Phật đến nhà bà để dâng cúng, Ðức Phật làm thinh nhận lời thỉnh mời của bà. Bà vô cùng hoan hỉ đi về nhà trước, sửa soạn trải chỗ ngồi chờ tiếp đón Ðức Phật vào nhà, ngồi chỗ cao quý, chính tự tay bà dâng cúng những vật thực. Ðức Phật thọ thực xong, thuyết pháp để cho bà hoan hỉ phước thiện bố thí của mình.
Sau đó 2 – 3 ngày bà chết, do năng lực phước thiện bố thí vật thực cho quả, được tái sanh làm thiên nữ trong lâu đài xinh đẹp, có ngàn thiên nữ hầu hạ, hưởng sự an lạc trong cõi trời.



Tích Bố Thí Bánh




Trong bộ Vimānavatthu, tích Uḷāravimāna được tóm lược như sau:
Cô gái sanh trưởng trong gia đình thường hộ độ Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna, cô có đức tin nơi Tam bảo, hoan hỉ trong việc bố thí, khi lớn lên cô có chồng, làm dâu trong gia đình ngoại đạo tà kiến.
Một hôm, Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna đi khất thực trong thành Rājagaha, đang đứng trước cửa nhà chồng, cô nhìn thấy liền thỉnh vào nhà, đảnh lễ Ngài xong, khi ấy mẹ chồng không có ở nhà, cô tự xem là con dâu trong nhà, cô mới dám lấy cái bánh mà mẹ chồng để trong tủ đồ ăn, đem làm phước thiện bố thí để bát đến Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna. Cô nghĩ rằng, khi mẹ chồng trở về, cô sẽ thưa lại, chắc mẹ chồng hoan hỉ lắm.
Ngài Ðại Ðức thuyết pháp, làm cho cô hoan hỉ phước thiện bố thí rồi đi ra.
Khi mẹ chồng trở về, cô thưa lại với bà rằng:
- Thưa mẹ, con đã lấy cái bánh mẹ để trong tủ đem làm phước để bát đến Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna rồi, xin mẹ hoan hỉ phần phước thiện bố thí này.
Mẹ chồng nghe như vậy, không hoan hỉ, lại còn tức giận mắng chửi nàng dâu thậm tệ rằng: Tại sao đem bánh cho Sa môn!
Vì tức giận quá, không còn biết tội lỗi nữa, bà mẹ chồng cầm cái chầy đâm tiêu đánh nàng dâu trọng thương, 2 – 3 ngày sau cô chết. Cô dâu vốn là người có đức tin nơi Tam bảo, có thiện tâm hoan hỉ trong sự bố thí, nhất là phước thiện bố thí để bát cái bánh cúng dường đến Ngài Ðại Ðức Mahāmoggallāna hiện rõ trong khi sắp chết. Cho nên, sau khi chết, do năng lực phước thiện ấy cho quả, được tái sanh làm một thiên nữ có nhiều oai lực cõi Tam thập tam thiên, trong lâu đài bằng vàng nguy nga tráng lệ, có nhiều thiên nữ hầu hạ đờn ca múa hát, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời.



Tích Một Lần Ðể Bát




Trong bộ Therī-apādāna, tích Ekapiṇṇapāti-katherī được tóm lược như sau:
Tiền thân của Ðại Ðức Tỳ khưu ni Ekapiṇṇapā-tikatherī là Hoàng hậu của Ðức vua Bandhumā vào thời Ðức Phật Vipassī xuất hiện trên thế gian, trong thời đại con người có tuổi thọ khoảng 80.000 năm, cách kiếp trái đất này 91 đại kiếp trái đất. Một hôm, có nguyện vọng muốn để bát, bà hoàng hậu đến tâu lên Ðức vua rằng:
- Tâu hoàng thượng! Thần thiếp có nguyện vọng muốn để bát một vị Tỳ khưu, kính xin hoàng thượng cho phép thỉnh một vị Tỳ khưu về cung để thần thiếp làm phước bố thí cúng dường vật thực.
Ðức vua chuẩn tấu xong, truyền vị quan thỉnh một vị Tỳ khưu vào cung.
Hoàng hậu có đức tin trong sạch nơi Tam bảo, vô cùng hoan hỉ cung kính lễ bái vị Tỳ khưu xong, tự tay mình để những vật thực vào bát cúng dường vị Tỳ khưu. Vị Tỳ khưu nhận vật thực xong, phúc chúc hoàng hậu rồi đi ra.
Với tác ý thiện tâm hoan hỉ đầy đủ 3 giai đoạn: trước khi làm phước thiện bố thí, đang khi làm phước thiện bố thí và sau khi đã làm xong phước thiện bố thí; dầu chỉ một lần để bát cúng dường đến vị Tỳ khưu ấy, nhưng hoàng hậu vô cùng hoan hỉ phước thiện bố thí, thường niệm tưởng đến phước thiện bố thí (cāgānussati). Hoàng hậu đến khi hết tuổi thọ (chết), do năng lực phước thiện bố thí để bát cúng dường một lần đến vị Tỳ khưu ấy, cho quả tái sanh làm thiên nữ cõi Tam thập tam thiên; suốt 30 kiếp làm Hoàng hậu của Ðức vua trời Sakka cõi Tam thập tam thiên; khi tái sanh cõi người, làm chánh cung Hoàng hậu của Ðức Chuyển luân thánh vương 20 kiếp; suốt 91 đại kiếp trái đất không hề sa đọa 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh) chỉ tái sanh cõi thiện giới: cõi trời và cõi người mà thôi.
Ðến thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, do thiện nghiệp ấy cho quả được tái sanh làm công chúa Mittā dòng Sakya, ở kinh thành Kapilavatthu. Khi Ðức Phật ngự trở về thuyết pháp tế độ hoàng tộc Sakya, công chúa nghe pháp, thọ Tam quy và thọ trì bát giới, đến khi bà Gotamī từ bỏ cung điện đi xuất gia trở thành Tỳ khưu ni cùng với 500 cô gái dòng Sakya, trong đó có công chúa Mittā. Sau khi trở thành Tỳ khưu ni, tinh tấn tiến hành thiền tuệ, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả trở thành bậc Thánh A-ra-hán, đến khi tịch diệt Niết Bàn chấm dứt khổ tử sanh luân hồi trong tam giới.
Những quả phước thiện bắt nguồn từ phước thiện bố thí để bát cúng dường một lần đến một vị Tỳ khưu, do đó, có tên là Ekapiṇṇapātikatherī: vị Ðại Ðức Tỳ khưu ni một lần để bát.



Tích Bố Thí Nước




Trong bộ Apādāna tích Ngài Ðại Ðức Tỳ khưu ni Udakadāyikātherī tóm lược như sau:
Thời kỳ Ðức Phật Vipassī xuất hiện trên thế gian, tiền thân Ngài Ðại Ðức Tỳ khưu ni Udaka-dāyikātherī, là người đàn bà nghèo, sống bằng nghề đội nước dùng đến các nhà phú hộ, nhà các vị quan, nhà giàu có... khi nhìn thấy những người giàu có làm phước thiện bố thí đến chư Tỳ khưu Tăng, bà suy xét rằng: "người ta có nhiều của cải, họ muốn làm mọi phước thiện bố thí thật dễ dàng, còn ta nghèo khổ thiếu thốn, không có vật gì đáng để làm phước thiện bố thí được cả; kiếp này ta đã nghèo khổ, ta không bố thí, kiếp sau ta lại càng nghèo khổ hơn nữa; tốt hơn, ta nên đội nước để làm phước thiện bố thí vậy".

Bà suy xét như vậy, từ đó về sau, hằng ngày bà làm phước thiện bố thí nước đến chư Tỳ khưu Tăng để uống, để dùng. Trong chùa, chỗ nào có đồ đựng nước uống, bà đổ đầy nước uống, chỗ nào đựng nước dùng, bà đổ đầy nước dùng, vì thế chư Tỳ khưu Tăng được đầy đủ nước uống, nước dùng. Sau khi bà chết, do phước thiện bố thí nước cho quả tái sanh cõi thiện giới: cõi trời và cõi người hưởng được mọi sự an lạc
Ðến thời kỳ Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, hậu thân người đàn bà ấy, do phước thiện cho quả tái sanh làm người, đến hầu Ðức Phật nghe pháp, xin Ðức Phật cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu ni. Sau khi trở thành Tỳ khưu ni không lâu, bà tiến hành thiền tuệ, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả cho đến A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả trở thành bậc Thánh A-ra-hán, khi hết tuổi thọ tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt khổ tử sanh luân hồi trong tam giới.
Bố thí nước có 7 quả báu
1- Ðược nhiều kiếp làm vua trời.
2- Ðược nhiều kiếp làm Ðức chuyển luân thánh vương.
3- Tránh khỏi sa vào 4 cõi ác giới: địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh.
4- Ở nơi nào, nơi ấy có nước đầy đủ.
5- Ít bệnh hoạn ốm đau, có sắc thân xinh đẹp.
6- Dầu mùa nắng hoặc mùa lạnh, khi cầu mưa, thì có mưa ngay.
7- Diệt được phiền não ô nhiễm.
Ðó là 7 quả báu của phước thiện bố thí nước.



Nhân Và Quả Tương Xứng




Quả tuỳ thuộc vào nhân. Nhân thế nào, quả thế ấy; nghĩa là nhân tốt thì cho quả tốt, nhân xấu thì cho quả xấu, lâu hay mau tuỳ theo năng lực của nghiệp ấy.
Như trong bài kinh Manāpadāyīsutta [1] tóm lược như sau:
Một thuở nọ, Ðức Thế Tôn ngự tại giảng đường Kutāgāra trong khu rừng lớn gần xứ Vesāli. Vào buổi sáng, Ðức Thế Tôn mặc y, mang bát ngự đi khất thực, vào biệt thự của ông cư sĩ Ugga, người dân thành Vesāli, ngồi trên toạ cụ cao quý. Khi ấy ông cư sĩ Ugga đảnh lễ Ðức Thế Tôn rồi ngồi nơi hợp lẽ, bèn bạch với Ðức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã từng nghe từ kim ngôn của Ngài rằng: "Người nào bố thí vật hài lòng, thường được vật hài lòng".

Như vậy, món ăn tên Sālapupphaka [2] thơm ngon như hoa sāla làm rất công phu, là món ăn mà con rất hài lòng ưa thích nhất; con đã kính dâng cúng đến Ðức Thế Tôn, Ngài đã có lòng từ bi tế độ thọ nhận món ăn ấy của con rồi.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã từng nghe từ kim ngôn của Ngài rằng: "Người nào bố thí vật hài lòng, thường được vật hài lòng"

Như vậy, món thịt heo loại ngon [3] (sampanna-varasukaramaṃsa) nấu rất công phu thật ngon lành, mà con rất hài lòng ưa thích nhất; con đã kính dâng cúng đến Ðức Thế Tôn, Ngài đã có lòng từ bi tế độ thọ nhận món ăn ấy của con rồi.
Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã từng nghe...: "Người nào bố thí vật hài lòng, thường được vật hài lòng".

Như vậy, món ăn Nāḷiyāsāka [4] là món rau trộn với bột gạo sāli chiên bơ rất thơm ngon, là món ăn mà con rất hài lòng ưa thích nhất, con đã kính dâng cúng đến Ðức Thế Tôn, Ngài đã có lòng từ bi tế độ thọ nhận món ăn ấy của con rồi.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã từng nghe...: "Người nào bố thí vật hài lòng, thường được vật hài lòng".

Như vậy, cơm nấu bằng gạo Sāli thượng hạng, cùng với các món đồ ăn ngon lành, là món ăn rất hài lòng nhất đối với con, con đã kính dâng cúng đến Ðức Thế Tôn, Ngài đã có lòng từ bi tế độ thọ lãnh món vật thực ấy của con rồi.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã từng nghe...: "Người nào bố thí vật hài lòng, thường được vật hài lòng".

Như vậy, một chiếc giường làm bằng gỗ quý có 4 chân chạm trổ hình thú dữ với nghệ thuật tuyệt vời, lót trải tấm vải làm bằng lông cừu màu trắng, phủ một lớp vải có thêu những đoá hoa rất xinh đẹp, có gối đầu, gối hai bên... là chiếc giường mà con rất hài lòng ưa thích nhất. Nhưng con biết rằng chiếc giường ấy không thích hợp với Ðức Thế Tôn. Con có chiếc giường khác làm bằng gỗ trầm hương [5], giá 100 ngàn kahāpana [6] cũng là một chiếc giường mà con rất hài lòng ưa thích nhất, con đã dâng cúng đến Ðức Thế Tôn, Ngài đã có lòng từ bi tế độ thọ nhận chiếc giường ấy của con rồi.
Sau khi ông cư sĩ Ugga bạch xong, Ðức Phật thuyết bài kệ rằng:
Người có đức tin tốt, bố thí vật hài lòng,
Thường được vật hài lòng. Người bố thí y phục,
Vật thực, nước, chỗ ở, thuốc men, vật dụng khác,
Với tâm rất hoan hỉ, đến bậc có giới đức.
Những vật bố thí rồi, là vật đã xả ly,
Không nghĩ lấy trở lại. Người ấy có trí tuệ,
Hiểu biết rõ ràng rằng, bậc Thánh A-ra-hán
Như phước điền cao thượng. Bố thí vật khó thí,
Gọi là vật hài lòng, thường được vật hài lòng.


Thuyết bài kệ tế độ làm cho ông cư sĩ Ugga xứ Vesāli vô cùng hoan hỉ xong, Ðức Phật rời khỏi tư thất của ông trở về chùa.
Sau đó thời gian không lâu, ông cư sĩ Ugga xứ Vesāli qua đời, do phước thiện ấy cho quả tái sanh lên cõi trời bậc cao trong nhóm chư thiên có tên Manomaya (thành tựu do tâm).

Ðức Thế Tôn ngự tại chùa Jetavana gần thành Sāvatthi, khi ấy, vào canh giữa đêm, vị thiên nam Ugga có hào quang sáng ngời hiện xuống ngôi chùa Jetavana, làm cho toàn ngôi chùa sáng ngời, đến hầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn xong, đứng một nơi hợp lẽ.
Ðức Thế Tôn bèn hỏi rằng:
- Này Ugga, những điều mong ước của con đã thành tựu rồi hay chưa?
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, những điều mong ước của con đã được thành tựu rồi, bạch Ngài.
Khi ấy Ðức Thế Tôn thuyết bài kệ rằng:
Người thí vật hài lòng, với thiện tâm hoan hỉ,
Thường được vật hài lòng. Người thí vật quý báu,
Thường được vật quý báu. Người thí vật tốt lành,
Thường được vật tốt lành. Người thí vật quý nhất,
Thường được vật quý nhất. Người thí vật quý báu,
Tốt lành và quý nhất, tái sanh cảnh giới nào,
Thường được sự sống lâu, sự hiển vinh, quyền lực.

[1] Aṅguttaranikāya, Pañcakanipāta, kinh Manāpadāyīsutta.
[2] Sālapupphaka: một món ăn làm bằng bột gạo sàli trộn với các đồ gia vị ngon lành, chiên bơ... là món ăn làm rất công phu, rất ngon có mùi thơm như hoa sàla.
[3] Chiếc giường bằng gỗ trầm hương, Ðức Phật cho cưa từng mảnh nhỏ, ban cho tất cả chư Tỳ khưu tán thành bột làm thuốc nhỏ mắt.
[4] Kahāpana: là thứ tiền vàng xứ Ấn thời xưa.
[5] Sampannavarasukaramaṃsa: món thịt heo ngon nấu với các đồ gia vị ngon lành, để cất kỷ một năm sau mới dùng.
[6] Nāḷiyāsāka: món rau làm rất công phu, rất ngon lành.



Ưu Thế Ðặc Biệt Của Thí Chủ




Ở trong đời này, người có phước thiện bố thí luôn luôn có ưu thế hơn người không bố thí.
Tìm hiểu bài kinh Sumanāsutta [Aṅguttaranikāya, Phần Pañcakanipāta, kinh Sumanāsutta] tóm lược như sau:
Sumanā là công chúa của Ðức vua Paseṇadi xứ Kosala. Cô công chúa có một đoàn nữ tuỳ tùng 500 người đến hầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn xong bạch rằng:
Kính bạch Ðức Thế Tôn, hàng Thanh Văn đệ tử của Ðức Thế Tôn có 2 vị có đức tin,giới, có trí tuệ đồng đều nhau. Song, một vị này có phước bố thí và một vị kia không có phước bố thí; cả hai vị ấy khi từ bỏ cõi đời này, do thiện nghiệp cho quả tái sanh làm chư thiên cùng một cõi trời dục giới giống nhau. Vậy, có gì đặc biệt khác nhau giữa hai chư thiên ấy hay không? Bạch Ngài.
Ðức Phật dạy rằng:
- Này Sumanā, hai vị thiên nam ấy có sự khác biệt nhau là:
Vị thiên nam vốn có phước bố thí có ưu thế hơn hẳn vị thiên nam vốn không có phước bố thí bởi 5 điều trong cõi trời là:
- Tuổi thọ sống lâu.
- Sắc đẹp tuyệt vời.
- An lạc tuyệt vời.
- Danh tiếng, tuỳ tùng đông.
- Quyền lực lớn trong cõi trời ấy.
Này Sumanā, vị thiên nam có phước bố thí đặc biệt hơn hẳn vị thiên nam không có phước bố thí bởi 5 điều trong cõi trời ấy như vậy.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, nếu hai vị thiên nam ấy sau khi chết từ cõi trời, đều tái sanh làm người. Cả hai người này cũng là loài người giống nhau. Vậy có gì đặc biệt khác nhau giữa hai người ấy hay không? Bạch Ngài.
- Này Sumanā, hai người này có sự khác biệt nhau là: người có phước bố thí có ưu thế hơn người không có phước bố thí bởi 5 pháp: sống lâu, sắc đẹp, an lạc, danh tiếng, tuỳ tùng đông và quyền lực lớn trong cõi người.
Này Sumanā, người có phước bố thí ưu thế hơn người không có phước bố thí bởi 5 pháp như vậy.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, nếu cả hai người đều xuất gia trở thành Tỳ khưu giống nhau. Vậy, có gì đặc biệt khác nhau giữa hai vị Tỳ khưu ấy hay không? Bạch Ngài!
- Này Sumanā, hai vị Tỳ khưu này có sự khác biệt nhau, vị Tỳ khưu có phước bố thí ưu thế hơn vị Tỳ khưu không có phước bố thí bởi 5 pháp là:
Tỳ khưu có phước bố thí,
- Nếu cần y, thì có được nhiều y; không cần y cũng có được ít y.
- Nếu cần vật thực, thì có được nhiều vật thực; không cần vật thực cũng có được ít vật thực.
- Nếu cần chỗ ở, thì có được chỗ ở to lớn; không cần chỗ ở cũng có được chỗ ở vừa.
- Nếu cần thuốc trị bệnh, thì có được nhiều thuốc trị bệnh; không cần thuốc trị bệnh cũng có được ít thuốc trị bệnh.
- Khi sống chung với những bạn đồng phạm hạnh nào, những người bạn ấy thường có thân, khẩu, ý đối xử tốt, đáng hài lòng nhiều hơn là đối xử xấu, không hài lòng; thường đem lại điều hài lòng nhiều hơn là điều không hài lòng.
Này Sumanā, vị Tỳ khưu có phước bố thí ưu thế hơn vị Tỳ khưu không có phước bố thí bằng năm pháp như vậy.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, nếu hai vị đều chứng đắc thành bậc Thánh A-ra-hán giống nhau. Vậy, có gì đặc biệt khác nhau giữa hai vị thánh A-ra-hán hay không? Bạch Ngài.
- Này Sumanā, Như Lai không nói đến có sự khác biệt giữa sự giải thoát (A-ra-hán Thánh Ðạo) của người này, với sự giải thoát (A-ra-hán Thánh Ðạo) của người kia.
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, thật là điều phi thường!
Kính bạch Ðức Thế Tôn, thật là điều chưa từng được nghe như vậy bao giờ!
Kính bạch Ðức Thế Tôn, như vậy, nên làm phước thiện bố thí, nên làm mọi phước thiện, bởi vì phước thiện này làm duyên hỗ trợ sau khi tái sanh cõi trời, cõi người, hay ngay sau khi xuất gia trở thành Tỳ khưu.
Ðúng như vậy Sumanā! Nên làm phước thiện bố thí, nên làm mọi phước thiện, bởi vì phước thiện này làm duyên hỗ trợ sau khi tái sanh cõi trời, cõi người, hay ngay sau khi xuất gia trở thành Tỳ khưu.



Bố Thí Có Quả Báu Vô Lượng




Bố thí để có được quả báu vô lượng, sự bố thí ấy phải hợp đủ 6 pháp. Thí chủ hợp đủ 3 pháp và người thọ thí hợp đủ 3 pháp, gồm đủ 6 pháp, chắc chắn quả báu vô lượng, đáng hài lòng hoan hỉ.
A- Ðối với người thí chủ hợp đủ 3 pháp là:
1- Trước khi bố thí, thí chủ có tác ý thiện tâm trong sạch và hoan hỉ.
2- Ðang khi bố thí, thí chủ có tác ý thiện tâm, có đức tin trong sạch, tin nghiệp và quả của nghiệp, có trí tuệ hiểu biết rõ nghiệp là của riêng mình.
3- Sau khi bố thí xong, thí chủ có tác ý thiện tâm trong sạch, có thiện tâm hoan hỉ phước thiện bố thí đã tạo xong; mỗi khi nghĩ đến phước bố thí ấy, thí chủ phát sanh thiện tâm trong sạch và hoan hỉ, không để ác tâm nào phát sanh xen lẫn làm cho tâm ô nhiễm.
B- Ðối với người thọ thí hợp đủ 3 pháp là:
1- Người thọ thí là bậc Thánh không còn tham ái (hoặc hành giả tiến hành thiền tuệ cốt để diệt tận tâm tham ái).
2- Người thọ thí là bậc Thánh không còn sân hận (hoặc hành giả đang tiến hành thiền tuệ cốt để diệt tận tâm sân hận).
3- Người thọ thí là bậc Thánh không còn tâm si mê (hoặc hành giả đang tiến hành thiền tuệ cốt để diệt tận tâm si mê).
Phước bố thí hợp đầy đủ 6 chi pháp như vậy, thì chắc chắn quả báu của phước bố thí vô lượng, sự an lạc vô lượng, tái sanh cảnh giới nào cũng được sự sống lâu, sắc đẹp, an lạc, sức mạnh, trí tuệ tuyệt vời trong cảnh giới ấy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/11/2015.

The Bound For owners of generosity Excellence.



Anathapindika rich man and his RESEARCH.




Formerly he was a rich Anathapinnika reach the south in Buddha's time Padumuttara [period Padumuttara periods Buddha Gotama Buddha 100 thousand eons, underwent 14 sequential Buddha appears on earth] appears on world. One day, he sat listening to the sermon Buddha; that occasion, the Buddha praised merit a male approach is the best benefactor of happy joyful generosity, in the male line benefactors reach his disciple. Hearing is finished, he was extremely delighted and wish to reach the people who want to become the best male benefactors of happy joyful generosity, in the south of a line access in the future Buddha.
The access to the south (the predecessor of the rich he Anathapinnika) that, from time to Buddha Padumuttara glasses with Venerable monks alms Boost works of merit, he vows to want to become benefactors access the best men for the well rejoice alms, as people reach the men of his benefactors. Buddha Buddha Padumuttara label use Futurism evident from the southern States should prophesies that:
Weather future, Gotama Buddha appeared on earth, near the south will become accessible the best male performance benefactors of happy joyful generosity, in the male line of access Gotama Buddha.

The access to the south was extremely delighted create merit until perpetual alms.
From the period of Buddha Gotama Buddha Padumuttara to time by 100 thousand aeons, experiencing 14 Buddha, near the south that, within samsara death and birth, good deeds and prayer so often been reborn force do men in heaven disasters, or man the human realm, rich family, had faith in clean, often rejoice in doing good deeds of generosity.
Present life, reborn as sons of rich families Sumana, parents named Sudatta. He Sudatta, the rich, established a charity camp, daily distributed food to those lonely and helpless. Therefore, life gives him a new name Anathapinnika, later, most people have known this new name, and the old name because parents put little known.
Once, the rich Anathapinnika leading 500 cargo carriages to the city Rajagaha, sold to the rich in his capital city, which is the brother-in-law together.
On that occasion, the rich Anathapinnika hear good news "Buddho" Buddha has appeared in the world, has heard the name "Buddho" he arises unprecedented joy, thinking: "in this world hears title Brand "Buddho" very rare, very difficult. " He wanted to almost Buddha right, but because the night is not convenient, so just wait until morning. While he only thoughts are to En Buddha "Buddho", so arises light, he thought almost immediately wake up the morning, he went to the Buddha in broth until almost night.
Buddha knows he Anathapinnika coming, he finished walking his wait. He has approached the Buddha called:
- Ehi Sudatta! Hey Sudatta, I take it back!


Listen Buddha Sudatta providing their name, he was extremely delighted, because long ago people only knew him by the name Anathapinnika only; even his real name because parents put, people no one mentions. Now, listening to him his real name, so he immediately arises pure faith, and with all respect to the Buddha, to almost bowed under his feet.
Then the Buddha sermon of his health, he listens, practice immediately realized the Four Noble Truths truth, attained in Save Sacred Path - Enter Save achievement, becoming saints in Save, he praised ca reciting the Buddha said,
Blessed transparent glass, I was extremely rejoice!
Blessed transparent glass, I was extremely rejoice!
The Buddha preached by many different methods, such as turning our backs concealed objects, or objects opened for a closer, or only way for people who are lost, or shed light shining in a dark place for people with bright eyes are seeing all that exists.
I am committed wholeheartedly sincere refuge Blessed rely place where Germany France, where Buddha Sangha.
Dear Blessed please accept children who reach the men have taken refuge in the Three Jewels from now until forever.

He has provided the way Anathapinnika super trailokya refuge (lokuttarasaranagamana).

He invited the Buddha and 1,000 glasses Venerable monks increase their offering to the next. That occasion, he invited the Buddha and gods glasses Venerable Savatthi Increase business coming to the fact that population. Buddha accepted by silence.
From the capital city of Savatthi to Rajagaha away by week 45 [1 meter or so weeks between 20482.56 12.72 miles]. Each week he dropped out due to the amount of 100 thousand kahapana (Indian currency) thanks to friends built a shrine to Buddha and Venerable monks base increase. When he was about to experience Savatthi, he chose Prince Jeta's garden, and then buy the land around it, by the gold lining on the ground, he has warehousing gold worth about 180 million gold coins to buy land, 180 million to build temples, pagoda named Jetavana, and cost more to the amount of 180 million held inauguration was to dedicate the temple monks quartet methods, has proven Buddha chair and doing good charity spanning 3 month.
Thus, the university dedicated benefactors Anathapinnika total amount of 540 million largesse generosity: buy land, for the construction and organization Jetavana temple inauguration, doing good charity.
In his private losses often have to do the kind of generosity to monks Bhikkhu Increase as:
Flora offered daily by 500 to your card.
Every month as the food offering 2 each have 500, and last month the full moon day.
Every day morning porridge offered by your card 500.
Monthly periodical offered porridge has 500 bright 2 , on the fifteenth and last month.
Every day as the food offered to 500.
Offering food to new bhikkhus to 500 guests.
Offering food to 500 bhikkhus're going away.
Offering food to 500 sick bhikkhus .
Offering food to feed bhikkhu Bhikkhu 500 patients.
Thus, in the rich interior Anathapinnika investment always available 500 seats ready to welcome monks Bhikkhu.
During assembly of monks, the Buddha praised his merits Anathapinnika rich:
"Etadaggam bhikkhave, mama savakanam upasakanam dayakanam yadidam Sudatto gahapati Anathapinniko".
"O monks, every male in the south of Thanh Van Access Tathagata, Sudatta Anathapinnika real name is the near the best male benefactors of happy joyful generosity."

Anathapinnika rich, every day 2-3 times to Jetavana almost Buddha temple or visit the Venerable monks, monks, a novice, if he is busy with work, then at least once, not a day goes by that he not to the temple, into his daily routine. Every visit to the temple, he often bring rich requisites offerings to Buddha, or lettered monks, novice.
By the last day of his life is rich Anathapinnika ill, lying in bed, unable to get the temple, he asked a trusted person claimed:
Hey baby, I go to the temple, prostrate at the foot of the Blessed prospectus that: "He is very ill Anathapinnika, unpleasant physical body, thanks to his son rather to pay homage to his feet.
And I pay homage to his feet Venerable Sariputta prospectus that: "He is very ill Anathapinnika, unpleasant physical body, so I replaced him prostrate at his feet, glass invited him to his home with his high international compassion" .

He Sariputta accepted by silence, then called Venerable Ānanda to accompany him to his mansion where Anathapinnika, visit his illness, he Sariputta international of his sermon. He was extremely delighted follow his teachings Venerable Sariputta.
Extremely rich Anathapinnika appreciate his compassionate heart Venerable Sariputta, was to preach his degree in International last hours of life.
He Venerable Sariputta to him Venerable Ānanda his farewell shortly Anathapinnika rich, the rich man and his life Anathapinnika farewell. After his death, by the fruit of good karma for rebirth in heaven Tusita male bias (bias momentum power head), body colored halo shining, the magnificent castle special than the other male bias.
At last soup that night, natural male-pinnika Anatha descended from heaven Tusita Jetavana temple shining with glory, to pay homage to Blessed virtually stood a justified, celebrates Buddha En, En Germany France , An Duc Tang, praises him Venerable Sariputta, then bowed to the Blessed permission to return Tusita realm.
The next morning, the Buddha taught monks Bhikkhu that:
- O monks, until soup last night, with the male cherub to almost prostrate Tathagata, standing somewhere where perhaps, celebrates Buddha En, En Germany France, Germany An Increase, praises Sariputta, and empowerment Mass Tathagata permission returned Tusita heaven.
He Venerable Ānanda male cherub guess who he is, so white Buddha that:
- Blessed transparent glass, are male cherub was Anathapinnika not taste good men? His Bach.
The Buddha taught:
- Yes Ānanda! This male bias that is Anathapinnika.
Natural Area is 1 in 7 men Anathapinnika sotapanna especially, have enjoyed for initiation vows peace sequential sensuous heavens until the extreme gender identity heavens, celestial realms salvage Sac, will President Removal Nirvana where this plane. Therefore, the male cherub Anathapinnika, when reborn to itself in the realm of natural Tha, 6th heavens of heavens extreme sexuality, male cherub was conducting meditation meditation attain gender identity First, the results re brahma heavens being made ​​on our natural gender identity (Brahmaparisajja); continued meditating meditation II attain gender identity, to effect a birth heavens II meditation gender identity; meditation third attained gender identity, to effect a birth heavens meditation third gender identity; and continue to attain Fourth meditation and attain gender identity Lai Thanh Dao Nhat - Nhat back the result, Real Lai Thanh Dao - Real back the result to become saint Real Lai was reborn on gender specific identity heavens disasters (Suddhavasa) 5 heavens sequentially disturb natural Wuxi - Wuxi natural heat - existing natural Compassion - Compassion is natural and to salvage natural coloration layer (Akanittha) extreme gender identity heaven, will attain the A-to-drought Sacred Paths - A-ra-drought achievements become saints Arah-drought, of a lifespan of 16,000 eons before cessation Nirvana, death and birth ended in the triple reincarnation.



ANALYSIS Three Great benefactors Visakha




In the period Padumuttara Buddha, her past life had access to the female Visakha vow wish to become great women reach the benefactors, the best of well rejoice in every reach the generosity of a female Buddha in the future . She was Buddha Padumuttara prophesies.
From then on life, death and birth within samsara over 100 thousand eons, so usually results in good karma to be reborn as noble heavenly nymphs or human realm is the daughter of the rich family, she had virtues Festival joy in giving.
Present life, reborn as the daughter of the rich in the city Bhaddiya Dhananjaya, anga origin, named Visakha. She was only seven years old Visakha went with his grandfather, the rich Mennaka, to hear Buddha sermon finished, she and her girlfriend 500 have attained a saint in Save, he also attained the rich Mennaka a saint Remember the same time.
At the request of the king Pasenadikosala origin Savatthi, her whole family moved to the land Visakha Savatthi, the city created Saketa live.
She Visakha mature Punnavannhana married with his son in the land of the rich Migara Savatthi.
She is about to marry into the family Migara, is family-naked heretics, without faith in the Buddha and monks Venerable Sangha.
One day the Venerable monks seeking alms precede mansion her father, husband and father sitting still delicious as the food used is not interested in the Venerable alms, she Visakha see so transparent that:
- Aticchatha Bhante, mayham sasuro puranam khadati
[Ministry Dhammapadatthakatha, story Visakhavatthura].
His white glass, glass triumphantly invited him to house, my husband's father used old maps.

He rich Migara hear your daughter say "Puranam khadati: use old clothes," said the meaning is "Asucikhadakam: use dirt". He decided to pursue angry bride out. But not as easy as you think, because when her husband Visakha home, her father sent under 8 lawyers. Whenever happened had 8 trial lawyer she is guilty or innocent.
He invited rich Migara 8 lawyers asked about her comment saying "Puranam khadati" mean?
She Visakha explained that:
- Mayham sasuro imasmim attabhave punnam na karoti, puranapunnameva khadati
[Ministry Dhammapadatthakatha, story Visakhavatthura].

"Father of the husband, this life is not as good deeds of generosity, just awarded a merit of the old alms only." absolutely no intention "to use dirt," as he was misunderstood. Thus, the judge lawyer she was completely innocent. He Migara present other errors of the bride; Her trial attorneys are innocent, nothing more than a misunderstanding of the rich only.
She Visakha said:
- Ladies and gentlemen attorney, previously, my husband's father misunderstand that the guilty, chased me out of the house. Through the trial, the child is completely innocent people, now I take leave this mansion, back home my parents.


He Migara rich daughter beg exempted to that:
- Hey son, I was misunderstood, so incriminate me, this father knew guilty to child, please accept the exemption for father error.


Visakha She said to her father, saying,
- Father, I accept error-free availability of father and asked his father for the privilege: access to the female children who have taken refuge in the Three Jewels, have strong faith in the Buddha, Germany France, Germany Increase. So, I can not live without the Buddha, heard legal deficiency, and lack of good merit to donations to monks Venerable Sangha. If Dad wants me to stay here, to ask permission from me is worship Buddha, listening to the French, do good deeds to donations to monks Venerable Sangha. Otherwise I will leave this place.

- Hey son, I accepted the request of the child or children are to worship the Buddha, hear and sometimes legal Venerable monks Increase home doing good. - He told the rich Migara.
The next day, she invited the Buddha and gods Visakha Venerable Tang giving food to the house. When real life is finished, her husband's father Visakha invited the Buddha to hear the sermon. He was preparing to, the pagan sect guru naked stopped. Nevertheless, Buddha sermon he still clearly hear every voice, every sentence. When Buddha sermon finished, he immediately realized the Four Noble Truths truth, attained in Save Sacred Way, in Save achievement, becoming saints in Save even then.
He rich Migara to almost Buddha, bowed under his feet prospectus saying
- Blessed transparent glass, children are Migara! His Bach.
Dear Exalted, children are Migara! His Bach.
In the presence of the Buddha, he said to the bride, saying,
- Hey you, since this figure is in the throne of my mother.

From there she called Visakha Visakha add Migaramata: her rich mother Migara Visakha.

Visakha Migaramata have 20 children: 10 boys and 10 girls. Every boy, every girl have 20 children: 10 boys and 10 girls. Each nephews, nieces each have 20 children: 10 boys and 10 girls. Thus, Visakha Migaramata have 20 children, 400 grandchildren and great-grandchildren of 8,000 people.
Visakha Migaramata often rejoice in all the good deeds of generosity.
A youth marrying her to pay homage to the Buddha for permission 8 privilege:
1. Please rise y monks Bhikkhu rain showers to life.
2. Please offer real character to monks Bhikkhu new visitors.
3. Please offer real character to monks Bhikkhu was going away.
4. Please offer real character to Vassal Bhikkhu ill.
5. Please offer real animals to feed monks Bhikkhu sick bhikkhus.
6. Please offer medication to sick monks Bhikkhu.
7- Every day I offer to monks porridge morning bhikkhus.
8 - Please offer bathrooms medicine to monks and nuns Bhikkhu Sangha.
Eight privilege is Buddha allowed, Visakha extremely delighted in everything we do these good deeds of generosity.
On one occasion, to hear of the Buddha temple, carrying a plate Visakha mahalata gown with jewel link. She handed off wen, to pay homage to the Blessed One, sat to hear French, audiotape, she bowed to Buddha for permission to go on, her maidservant go under, to forget the rags mahalata at amphitheater. After everyone went back home, he Venerable Ānanda see the rags of Visakha to forget, the Exalted said,
- Blessed transparent glass, Visakha was about to forget the rags again. His Bach.
The Buddha taught:
- Ananda child to a place where probably should.
Visakha visiting sick bhikkhus, bhikkhus young, novice .... She told wen wear the cape back. She maidservant had left the rags in the amphitheater should be answered:
- Dear mistress, I had to forget the rags.
Visakha taught:
- Hey you, you go to the temple take the rags brought back, but if he Venerable Ānanda took rags store, then I do not get back, I offer him my Ānanda his rags, hear me!
He Venerable Ānanda saw her maidservant asked that:
- Dear, I came here to do?
- Bach him Venerable, the left panel of hostess gowns, should return here to take. - She said female slaves.
- Hey baby, you increase brought hang in there, you go to get brought back.
- Venerable He transparency Regards, hostess told me that if he Venerable was touching her rags then, she I give him his rags.
Her female slaves return, do not carry the rags, said the hostess with the incident.
Visakha taught her maidservant, saying,
- Hey you, Venerable rags that he touched, I was offered to him and, as such, he must maintain it is a hard thing. So I go to bring her rags to sell it here, to purchase the necessary supplies offerings to monks Bhikkhu Sangha.
Listen to the teachings of Visakha, her maidservant to bring rags temple was handed over to her on.
Visakha sold rags mahalata associated with jewel with 90 million 100 thousand pieces of gold. With that price, no one yet rich people can afford to buy her gown floating slabs. Finally, the Visakha bought it for $ 90 million 100 thousand pieces of gold, she went to the White Buddha that:
- Dear Blessed, Venerable Ānanda His hands touched my rags, to save, so do not you dare get back; I ask her rags discharged by selling it, to purchase items necessary legal offerings to monks Bhikkhu Sangha.
Blessed transparent glass, in addition to children, no one afford to price 90 million 100 thousand pieces of gold. So the child acquired the rags that at that price. His Bach.
Blessed transparent glass, in the first four items: clothing, food, shelter and medication, the most necessary things? His Bach.
The Buddha taught:
- Visakha child! Then you should build a temple near the east gate Savatthi, to make offerings to monks Bhikkhu Sangha.
Rejoice greatly, obey the teachings of the Buddha, she bought land 90 million gold price, to build temples "Pubbarama". Under the guidance of Venerable He Mahamogallana, construction works for 9 months to complete cost 90 million gold; and held the inauguration offerings to monks from the Tang monk who has chaired the Buddha, and then blessed alms lasted 4 months, adding 90 million more costs.
Thus, her great benefactor devoted Visakha Migaramata total amount of 270 million largesse generosity: buy land, build temples and inaugurated Pubbarama.
At the home of Visakha Migaramata as well as the home of the rich Anathapinnika, daily morning porridge offerings to monks and monks, as the food offered to noon monks monks, the afternoon she brought juice, medicines to offerings to monks Bhikkhu sick etc ...
Buddha praised her as the female college access the benefactors, Best of generosity in every reach of his female disciples as follows:
Etadaggam bhikkhave, mama savikanam upasikanam dayikanam yadidam Migaramata Visakha.
Bhikkhus, Thanh Van female in the vicinity of the Tathagata female, Visakha Migaramata is accessing the best female benefactor of happy joyful giving.

Visakha have lived long lifespan of 120 years old, her life from childhood juvenile, middle aged to seniors are enjoying peace, living in wealthy wealth; That is the effect of any merit, merit is charity. Thus, throughout her life not having misery material deprivation. She had many material possessions, even joyful generosity created many good deeds until the last day of her life. After her from aging people, by improving capacity for effective now reborn as the goddess of heavenly realms optimistic Chemistry, 5th sensuous heavens, becoming the main provision of the king queen Sunimmita sun, enjoy the peace in heaven until the end of service life of 80,000 years (compared with 2,304 million in the human realm, because one day one night where this heavenly realms in 800 years).

She was 1 of 7 sotapanna special vow has enjoyed peace for initiation heavens week sex education for gender identity to the ultimate heaven, heavenly realms Sac finality, will die in plane Nirvana This. Thus, when the goddess rebirth in celestial realms alienation, 6th heavens of heavens extreme sex education, goddess Visakha conducted meditation meditative attainment Junior gender identity, to be reborn as brahma results (no feminine) heaven on our natural gender identity; proceed meditative Zen II attain gender identity, to be reborn in the heavens results gender identity Zen II; meditation third attained gender identity, to effect a birth heavens meditation third gender identity; and continue to attain Fourth meditation and attain gender identity Lai Thanh Dao Nhat - Nhat back the result, Real Lai Thanh Dao - Real back the result to become saint Real Lai was reborn on gender specific identity heavens disasters 5 floors sequentially to salvage natural coloration layer (Akanittha) extreme gender identity heaven, will attain the A-to-drought Sacred Path - A-to-maturity fruits become saints Arah-drought , of a lifespan of 16,000 eons before cessation Nirvana, death and birth ended in the triple reincarnation.



Asoka merit




After the Buddha passed away Nirvana, the Buddhist calendar 218, King Asoka was a military intelligence beings improve the reigning South Asian realm, there are many special dread as psychic force, the King had faith in the Three Jewels clean place.
One day, King Asoka saw Venerable Nirodha novice only seven years old, is a saint A-to-drought were begging, the King arise especially where your faith Venerable novice Nirodha (Venerable Nirodha previous life was the brother of the King) . HM the King commanded the Venerable invited the novice Nirodha the palace, sometimes outside on the noble throne, HM the King to hand washing with the real character of the King dishes daily use. When the Venerable complete novice real life, unto the king invited him for the sermon.
Area novice Nirodha Venerable preach verse in the Dhammapada:
"Appamado amatapadam,
Pamado maccuno Padam ... ".
"Not to chase, mindfulness,
nirvana is immortal lines,
is the way to chase death ... ".

Lord hear legal Asoka finished, compounded by pure faith in the Buddha, Germany France, Germany quadrupled.
Every day the King their offering to monks Bhikkhu include 600,000 Increase position in the palace of the King, because by faith where the Venerable clean Nirodha novice.
One day the King attended the four requisites alms to monks 600,000 Increase your bhikkhus, Germany king gods bhikkhus Increase transparency that:
- Dear Increase transparency Venerable monks, the Buddha Dhamma preached how many disciplines? His Bach quarter.
Chu Venerable sir:
- Sire! Buddha Dhamma discourses have 84,000 disciplines.
HM the King arises faith in 84,000 practice clean place, should the King commanded everywhere in the country that:
- I want one offering each practice with a temple and a stupa, so I want one of construction 84,000 84,000 temples and stupas all across South Asia Compassion Ministry, the Secretary go to each province built a temple to worship seems to monks Bhikkhu Sangha and pagoda to worship the relics of the Buddha.


The King Asoka output includes 960 million amounts to worry kahapana construction 84,000 84,000 temples and stupas. The temple in the capital center named Asokarama.
The construction of 84,000 temples and stupas 84,000 for 3 years to complete.
The offices in each province to attending the King on the same day, to the Lord King answered the unknown, the temple and the pagoda has been completed already.
HM the King in a decree to improve the whole of South Asia said that: "7 days university will do the inauguration of the temple and the pagoda at each place, all domestic subjects are sex life over bowl , prepared to act as the inauguration of all the temples and stupa, to make offerings to monks Bhikkhu from the capital increase to the provinces ".

On ceremonial inauguration of the temple and stupa, in the capital and provinces beautified like heaven, the King and the people concerned as well as beautiful solemn makeup, go to college and temple inauguration Tower said.
HM the King coming Asokarama temples in major centers in the capital, visiting monks Bhikkhu glass Increase improve the whole of South Asia to attend the inauguration ceremony and received 84,000 pagodas and stupas in every place, there are about 800 million Increased monk and nuns 9,600,000 Increase monk. Among them are 100,000 saints Arah-drought.
Noble Arah Chu-Han thought that: "If the King Asoka was visible the great generosity 84,000 84,000 temples and stupas, but the King has commanded construction, inaugurated today offered to Vassal Bhikkhu Sangha, will make the King rejoice greatly, increasing more faith in the Three Jewels clean place. "

Then, a saint Arah-drought instant magic of "Open world" (Lokavivarana), the King saw everywhere nothing obscured. HM the King was standing oil at Asokarama central temple, which can be seen clearly the direction the whole of South Compassion four ministries Chau, clear 84,000 84,000 temples and stupa worship Buddha relics.
Indeed, King Asoka extremely joyful as ever, the King thought that the era of such alms, do not know who has done yet?

So the German king asked monks Venerable Increased transparency:
- Venerable monks Increased transparency Regards, in the teachings of our Blessed, blessed with great benefactors Which do charity like this?
Venerable Tang Chu invited Venerable glass Moggali-puttatissatthera answered questions of the King.
Venerable Moggaliputtatissatthera replied:
- Sire, in Buddhism, the era of the Great King of generosity like this, when the Blessed oil lingers money so far, no one to do so. Only the Great King is great benefactors alms ceremony greatest era before hitherto only.
HM the King listened to his answers Venerable Moggaliputtatissatthera then arises unprecedented joy, and reflection that: "From front to date, no public benefactors do great blessing alms like me, I was a university 4 th charity benefactors of great things like this, I'm probably the Buddhist legacy relatives (Dayado sasanassa) have not you? ".

Therefore, the German king asked Venerable prospectus Moggali-puttatissatthera saying
- Venerable He transparency Regards, I have done great things alms four great things like this, so, you have to be "inherited Relatives of Buddhist" or not?
His shop Venerable Moggaliputtatissatthera perfections terms of Mahinda Prince and Princess of the King Samghamitta the like. He knows the Prince and Princess will become ordained saint Arah-drought, will help to develop good Buddhism later. So he answered and said:
- O Lord, who became a Buddhist relatives inherited not by the college's generosity. Oil benefactors agent first four items alms to how much more, also known as: paccayadayaka: University benefactors 4 th charity items, or call: upatthaka: the only person households ....

O Lord, the truth, who played oil supplies alms to monks four bhikkhus Increase piled high from the ground to the heavens, he can not call legacy relatives of Buddhism.

Listen to his words Venerable Moggali-puttatissatthera so, should the King Asoka dedicated Crown Prince Mahinda your most beloved, allowing become ordained monks, instead of the throne, and Princess Sanghamitta home become nuns in Buddhist bhikkhus.
The King Asoka not only a great benefactor like never before so far, but also a legacy relatives of Buddhism, because The King has devoted, allowing two sons ordained in Buddhism, The great merit of the delegation sent to Venerable Increased spread of Buddhism in Sri Lanka and the island Suvannabhumi including Indonesia, Myanmar, Thailand, Laos, Cambodia and Vietnam.
These are great characters foremost benefactors blessed alms during the Buddha also show money, and after the Buddha passed away Nirvana.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/11/2015.

Những Ðại Thí Chủ Xuất Sắc về Hạnh Bố Thí.



TÍCH ÔNG PHÚ HỘ ANĀTHAPIṆḌIKA.




Tiền thân của ông phú hộ Anāthapiṇṇika là một cận sự nam trong thời Ðức Phật Padumuttara [thời kỳ Ðức Phật Padumuttara thời gian cách Ðức Phật Gotama 100 ngàn đại kiếp, trải qua 14 Ðức Phật tuần tự xuất hiện trên thế gian] xuất hiện trên thế gian. Một hôm, ông ngồi lắng nghe Ðức Phật thuyết pháp; nhân dịp ấy, Ðức Phật tuyên dương công đức một cận sự nam là thí chủ xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí, trong hàng cận sự nam thí chủ đệ tử của Ngài. Nghe thấy xong, ông vô cùng hoan hỉ, có nguyện vọng muốn trở thành người cận sự nam thí chủ xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí, trong hàng cận sự nam của một Ðức Phật trong thời vị lai.
Người cận sự nam (tiền thân của ông phú hộ Anāthapiṇṇika) ấy, kính thỉnh Ðức Phật Padumuttara cùng chư Ðại Ðức Tăng làm phước thiện bố thí, ông phát nguyện muốn trở thành người cận sự nam thí chủ xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí, như người cận sự nam thí chủ của Ngài. Ðức Phật Padumuttara dùng Phật nhãn thấy rõ kiếp vị lai của người cận sự nam này nên thọ ký rằng:
Thời vị lai, Ðức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, người cận sự nam này sẽ trở thành cận sự nam thí chủ suất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí, trong hàng cận sự nam của Ðức Phật Gotama.

Người cận sự nam ấy vô cùng hoan hỉ tạo mọi phước thiện bố thí cho đến trọn đời.
Từ thời kỳ Ðức Phật Padumuttara cho đến Ðức Phật Gotama thời gian cách 100 ngàn đại kiếp trái đất, trải qua 14 Ðức Phật, người cận sự nam ấy, trong vòng tử sanh luân hồi, do phước thiện cùng nguyện lực thường được tái sanh làm thiên nam trong cõi trời, hoặc người nam cõi người, trong gia đình phú hộ, có đức tin trong sạch, thường hoan hỉ trong việc làm phước thiện bố thí.
Kiếp hiện tại, tái sanh làm con trai trong gia đình phú hộ Sumana, cha mẹ đặt tên Sudatta. Cậu Sudatta, con phú hộ, lập ra một trại bố thí, hằng ngày phân phát vật thực cho những người cô độc không nơi nương tựa. Do đó, người đời tặng ông cái tên mới Anāthapiṇṇika, về sau, phần đông mọi người biết đến tên mới này, còn tên cũ do cha mẹ đặt ít ai biết đến.
Một lần, phú hộ Anāthapiṇṇika dẫn đầu 500 cỗ xe chở hàng đến kinh thành Rājagaha, bán cho phú hộ trong kinh thành ấy, vốn là anh em rể với nhau.
Trong dịp ấy, phú hộ Anāthapiṇṇika được nghe tin lành "Buddho" Ðức Phật đã xuất hiện trên thế gian, vừa nghe danh hiệu "Buddho" ông phát sanh hỉ lạc chưa từng có, nghĩ rằng: "trong thế gian này nghe được danh hiệu "Buddho" hiếm có lắm, khó lắm!". Ông muốn đến hầu Ðức Phật ngay, nhưng vì ban đêm không tiện, nên nằm chờ đến sáng. Trong lúc nằm ông chỉ niệm tưởng đến Ân Ðức Phật "Buddho", nên tâm phát sanh ánh sáng, ông tưởng đã gần sáng liền thức dậy, ông đi đến hầu Ðức Phật vào canh chót đêm.
Ðức Phật biết rõ ông Anāthapiṇṇika sắp đến, Ngài đi kinh hành xong ngồi chờ ông. Ông vừa đến gần, Ðức Phật gọi:
- Ehi Sudatta! Này Sudatta, con hãy lại đây!


Nghe Ðức Phật gọi đích danh Sudatta, ông vô cùng hoan hỉ, bởi từ lâu mọi người chỉ biết ông với cái tên Anāthapiṇṇika mà thôi; còn tên thật của ông do cha mẹ đặt, mọi người không ai nhắc đến. Nay, nghe Ðức Phật gọi tên thật của mình, nên ông liền phát sanh đức tin trong sạch, hết lòng tôn kính Ðức Phật, đến hầu đảnh lễ dưới hai bàn chân của Ngài.
Khi ấy, Ðức Phật thuyết pháp tế độ ông, ông lắng nghe, thực hành theo liền chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Ðạo – Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, ông tán dương ca tụng Ðức Phật rằng:
Kính bạch Ðức Thế Tôn, con thật vô cùng hoan hỉ!
Kính bạch Ðức Thế Tôn, con thật vô cùng hoan hỉ!
Ðức Thế Tôn thuyết pháp bằng nhiều phương pháp khác nhau, ví như lật ngửa ra vật bị che đậy, hoặc mở ra vật bị đóng chặt, hoặc chỉ đường cho người đang lạc đường, hoặc rọi đèn soi sáng vào nơi tăm tối cho người có đôi mắt sáng được nhìn thấy tất cả mọi vật hiện hữu.
Con xin nguyện hết lòng thành kính xin quy y nương nhờ nơi Ðức Thế Tôn, nơi Ðức Pháp, nơi Ðức Tăng.
Kính xin Ðức Thế Tôn chấp thuận con là người cận sự nam đã quy y Tam bảo kể từ nay cho đến trọn đời.

Ông Anāthapiṇṇika đã quy theo cách siêu tam giới quy y (lokuttarasaraṇagamana).

Ông kính thỉnh Ðức Phật cùng 1.000 chư Ðại Ðức Tăng cúng dường vật thực vào hôm sau. Nhân dịp ấy, ông kính thỉnh Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng ngự đến kinh thành Sāvatthi để tế độ dân chúng nơi đó. Ðức Phật nhận lời bằng cách làm thinh.
Từ kinh thành Rājagaha đến kinh thành Sāvatthi cách xa 45 do tuần [1 do tuần khoảng 20.482,56 mét hoặc 12,72 miles]. Mỗi do tuần ông bỏ ra số tiền 100 ngàn kahāpana (tiền Ấn) nhờ những người bạn thân xây cất một ngôi chùa, để Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng nghỉ chân. Khi ông về đến kinh thành Sāvatthi, ông chọn khu vườn của ông hoàng Jeta, rồi mua khoảng đất ấy, bằng cách lót vàng trên mặt đất, ông đã xuất kho vàng trị giá khoảng 180 triệu đồng vàng để mua đất, 180 triệu để xây cất ngôi chùa, đặt tên chùa Jetavana, và chi phí thêm số tiền 180 triệu để tổ chức lễ khánh thành dâng ngôi chùa ấy đến chư Tăng tứ phương, có Ðức Phật chủ trì chứng minh và làm phước bố thí kéo dài suốt 3 tháng.
Như vậy, đại thí chủ Anāthapiṇṇika hiến dâng tổng số tiền 540 triệu làm phước bố thí: mua đất, cho xây cất chùa Jetavana và tổ chức lễ khánh thành, làm phước bố thí.
Trong tư thất của ông thường có làm các loại bố thí đến chư Tỳ khưu Tăng như:
Hằng ngày dâng vật thực bằng thẻ có 500 vị.
Hằng tháng dâng vật thực 2 kỳ có 500 vị, vào ngày rằm và cuối tháng.
Hằng ngày dâng cháo sáng bằng thẻ có 500 vị.
Hằng tháng dâng cháo sáng 2 kỳ có 500 vị, vào ngày rằm và cuối tháng.
Hằng ngày dâng vật thực đến 500 vị.
Dâng vật thực cho Tỳ khưu khách mới đến 500 vị.
Dâng vật thực cho Tỳ khưu sắp đi xa 500 vị.
Dâng vật thực cho Tỳ khưu bệnh 500 vị.
Dâng vật thực cho Tỳ khưu nuôi Tỳ khưu bệnh 500 vị.
Như vậy, trong tư thất phú hộ Anāthapiṇṇika luôn luôn sửa soạn sẵn 500 chỗ ngồi để đón tiếp chư Tỳ khưu.
Trong dịp chư Tăng hội họp, Ðức Phật tuyên dương công đức ông phú hộ Anāthapiṇṇika:
"Etadaggaṃ bhikkhave, mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ dāyakānaṃ yadidaṃ Sudatto gahapati Anāthapiṇṇiko".
"Này chư Tỳ khưu, trong hàng nam Thanh Văn cận sự nam của Như Lai, Anāthapiṇṇika tên thật Sudatta là người cận sự nam thí chủ xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí".

Phú hộ Anāthapiṇṇika, mỗi ngày 2-3 lần đến chùa Jetavana hầu Ðức Phật hoặc thăm viếng chư Ðại Ðức, Tỳ khưu, Sa di, nếu có bận rộn nhiều công việc, thì ít nhất cũng một lần, không có ngày nào mà ông không đến chùa, thành thói quen thường ngày của ông. Mỗi lần đến chùa, ông phú hộ thường mang theo những vật dụng cần thiết dâng cúng đến Ðức Phật, hoặc chư Tỳ khưu, Sa di.
Ðến ngày cuối cùng cuộc đời ông phú hộ Anāthapiṇṇika đang lâm bệnh nặng, nằm trên giường, không thể đến chùa được, ông nhờ một người thân tín bảo rằng:
Này con, con hãy đến chùa, đảnh lễ dưới chân Ðức Thế Tôn bạch rằng: "Ông Anāthapiṇṇika đang lâm bệnh nặng, sắc thân thọ khổ, nhờ con thay ông đến đảnh lễ dưới chân Ngài.
Và con đến đảnh lễ dưới chân Ngài Ðại Ðức Sāriputta bạch rằng: "Ông Anāthapiṇṇika đang lâm bệnh nặng, sắc thân thọ khổ, nhờ con thay ông đảnh lễ dưới chân Ngài, kính thỉnh Ngài đến nhà ông với tâm bi tế độ ông".

Ngài Sāriputta nhận lời bằng cách làm thinh, rồi gọi Ðại Ðức Ānanda cùng đi theo đến nơi biệt thự của ông Anāthapiṇṇika, thăm hỏi bệnh tình của ông, Ngài Sāriputta thuyết pháp tế độ ông. Ông vô cùng hoan hỉ theo lời dạy của Ngài Ðại Ðức Sāriputta.
Phú hộ Anāthapiṇṇika vô cùng cảm kích trước tấm lòng bi mẫn của Ngài Ðại Ðức Sāriputta, đã đến thuyết pháp tế độ ông trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời.
Ngài Ðại Ðức Sāriputta với Ngài Ðại Ðức Ānanda từ giã ông phú hộ Anāthapiṇṇika không lâu, thì ông phú hộ Anāthapiṇṇika từ giã cuộc đời. Sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả tái sanh làm thiên nam ở cõi trời Tusita (Ðâu suất đà thiên), có sắc thân hào quang sáng ngời, trong lâu đài nguy nga tráng lệ đặc biệt hơn các thiên nam khác.
Vào canh chót đêm hôm ấy, thiên nam Anātha-piṇṇika từ cõi trời Tusita hiện xuống chùa Jetavana với ánh hào quang sáng ngời, đến hầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn, đứng một nơi hợp lẽ, tán dương Ân Ðức Phật, Ân Ðức Pháp, Ân Ðức Tăng, tán dương ân đức Ngài Ðại Ðức Sāriputta, rồi đảnh lễ Ðức Thế Tôn xin phép trở về cõi Tusita.
Sáng hôm sau, Ðức Phật dạy chư Tỳ khưu rằng:
- Này chư Tỳ khưu, canh chót đêm qua, có vị thiên nam đến hầu đảnh lễ Như Lai, đứng một nơi hợp lẽ, tán dương Ân Ðức Phật, Ân Ðức Pháp, Ân Ðức Tăng, tán dương ân đức Sāriputta, rồi đảnh lễ Như Lai xin phép trở về cõi trời Tusita.
Ngài Ðại Ðức Ānanda đoán biết vị thiên nam ấy là ai, nên bạch Ðức Thế Tôn rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, có phải vị thiên nam ấy là vị thiện nam Anāthapiṇṇika không? Bạch Ngài.
Ðức Thế Tôn dạy:
- Ðúng vậy Ānanda! Vị thiên nam ấy chính là Anāthapiṇṇika.
Vị thiên nam Anāthapiṇṇika là 1 trong 7 vị Thánh Nhập Lưu đặc biệt, có lời phát nguyện xin thọ hưởng sự an lạc tuần tự các tầng trời dục giới cho đến các tầng trời sắc giới tột cùng, cõi Sắc cứu cánh thiên, sẽ tịch diệt Niết Bàn nơi cõi này. Do đó, vị thiên nam Anāthapiṇṇika, khi tái sanh đến cõi Tha hoá tự tại thiên, tầng trời thứ 6 tột cùng của cõi trời dục giới, vị thiên nam ấy tiến hành thiền định chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới, cho quả tái sanh làm phạm thiên cõi trời sắc giới Phạm chúng thiên (Brahmaparisajjā); tiếp tục tiến hành thiền định chứng đắc đệ nhị thiền sắc giới, cho quả tái sanh lên cõi trời sắc giới đệ nhị thiền; chứng đắc đệ tam thiền sắc giới, cho quả tái sanh lên cõi trời sắc giới đệ tam thiền; và tiếp tục chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới đồng thời chứng đắc Nhất Lai Thánh Ðạo – Nhất Lai Thánh Quả, Bất Lai Thánh Ðạo – Bất Lai Thánh Quả trở thành bậc Thánh Bất Lai được tái sanh lên tầng trời sắc giới Tịnh cư thiên (Suddhavāsa) có 5 tầng trời theo tuần tự Vô phiền thiên – Vô nhiệt thiên – Thiện hiện thiên – Thiện kiến thiên và đến tầng Sắc cứu cánh thiên (Akaniṭṭhā) tột cùng cõi trời sắc giới, sẽ chứng đắc A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả trở thành bậc Thánh A-ra-hán, hưởng hết tuổi thọ 16.000 đại kiếp rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.



TÍCH BÀ ÐẠI THÍ CHỦ VISĀKHĀ




Ở thời kỳ Ðức Phật Padumuttara, tiền kiếp bà cận sự nữ Visākhā đã từng phát nguyện mong trở thành cận sự nữ đại thí chủ, xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí trong hàng cận sự nữ của một Ðức Phật trong thời vị lai. Bà được Ðức Phật Padumuttara thọ ký.
Từ kiếp đó về sau, trong vòng tử sanh luân hồi suốt 100 ngàn đại kiếp, do thiện nghiệp cho quả thường tái sanh làm thiên nữ cao quý cõi trời hoặc cõi người là con gái trong gia đình phú hộ, bà có đức tính hoan hỉ trong việc bố thí.
Kiếp hiện tại, tái sanh làm con gái của phú hộ Dhanañjaya tại kinh thành Bhaddiya, xứ Aṅga, đặt tên là Visākhā. Cô Visākhā mới lên bảy tuổi đi cùng với ông nội, phú hộ Meṇṇaka, đến nghe Ðức Phật thuyết pháp xong, cô cùng với 500 cô bạn gái đều chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, ông phú hộ Meṇṇaka cũng chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu cùng lúc ấy.
Theo sự yêu cầu của đức vua Pasenadikosala xứ Sāvatthi, toàn thể gia đình của cô Visākhā di chuyển đến xứ Sāvatthi, tạo lập thành phố Sāketa sinh sống.
Cô Visākhā trưởng thành kết hôn cùng với cậu Puṇṇavaṇṇhana con trai của phú hộ Migāra trong xứ Sāvatthi.
Cô về làm dâu trong gia đình Migāra, là gia đình theo phái ngoại đạo loã thể, không có đức tin nơi Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng.
Một hôm, chư Ðại Ðức đi khất thực đứng trước ngôi biệt thự cha chồng, cha chồng vẫn ngồi dùng vật thực ngon lành không hề quan tâm đến vị Ðại Ðức khất thực, nàng Visākhā nhìn thấy vậy nên bạch rằng:
- Aticchatha Bhante, mayhaṃ sasuro purāṇam khādati
[Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, chuyện Visākhāvatthura].
Kính bạch Ngài, kính thỉnh Ngài hoan hỉ sang nhà khác, cha chồng của con dùng đồ cũ.

Ông phú hộ Migāra nghe con dâu của mình nói "Purāṇam khādati: dùng đồ cũ", ông hiểu ý nghĩa là "Asucikhādakaṃ: dùng đồ dơ". Ông tức giận quyết định đuổi nàng dâu ra khỏi nhà. Nhưng không dễ dàng như ông nghĩ, vì khi cô Visākhā về nhà chồng, thân phụ của cô gởi theo 8 vị luật sư. Mỗi khi xảy ra chuyện gì có 8 vị luật sư xét xử cô có tội hay vô tội.
Ông phú hộ Migāra mời 8 vị luật sư xét hỏi về điều cô nói "Purāṇam khādati" có ý nghĩa gì?
Cô Visākhā giải thích rằng:
- Mayhaṃ sasuro imasmiṃ attabhāve puññaṃ na karoti, purāṇapuññameva khādati
[Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, chuyện Visākhāvatthura].

"Cha chồng của con, kiếp hiện tại này không làm phước thiện bố thí, chỉ hưởng quả của phước thiện bố thí cũ mà thôi.", hoàn toàn không có ý "dùng đồ dơ" như ông hiểu lầm. Như vậy, các luật sư phán xét cô hoàn toàn vô tội. Ông Migāra trình bày những lỗi khác của nàng dâu; những luật sư xét xử cô đều vô tội, chẳng qua là sự hiểu lầm của phú hộ mà thôi.
Cô Visākhā thưa rằng:
- Kính thưa quý vị luật sư, trước đây, cha chồng của con hiểu lầm rằng con có tội, đuổi con ra khỏi nhà. Qua sự xét xử, con là người hoàn toàn vô tội, nay con xin từ giã ngôi biệt thự này, trở về nhà cha mẹ của con.


Ông phú hộ Migāra khẩn khoản xin con dâu miễn chấp rằng:
- Này con, cha đã hiểu lầm, nên bắt tội con, nay cha đã biết mình có lỗi đối với con, xin con miễn chấp lỗi cho cha.


Nàng Visākhā thưa với cha chồng rằng:
- Thưa cha, con sẵn sàng miễn chấp lỗi của cha, xin cha cho con một đặc ân: con là người cận sự nữ đã quy y Tam bảo, có đức tin vững chắc nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng. Cho nên, con không thể sống thiếu Ðức Phật, thiếu nghe pháp, và thiếu tạo phước thiện bố thí cúng dường đến chư Ðại Ðức Tăng. Nếu cha muốn con ở lại đây, xin cha cho phép con được chiêm bái Ðức Phật, nghe pháp, làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Ðại Ðức Tăng. Nếu không con sẽ rời khỏi nơi đây.

- Này con, cha chấp thuận theo yêu cầu của con, con được chiêm bái Ðức Phật, nghe pháp và thỉnh chư Ðại Ðức Tăng về nhà làm phước. – Ông phú hộ Migāra bảo.
Hôm sau, nàng Visākhā thỉnh Ðức Phật cùng chư Ðại Ðức Tăng đến nhà dâng cúng vật thực. Khi thọ thực xong, nàng Visākhā cho người mời cha chồng đến nghe Ðức Phật thuyết pháp. Ông sửa soạn đi, thì vị Ðạo Sư phái ngoại đạo loã thể ngăn lại. Mặc dầu vậy, Ðức Phật thuyết pháp ông vẫn nghe rõ ràng từng tiếng, từng câu. Khi Ðức Phật thuyết pháp xong, ông liền chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu ngay khi ấy.
Ông phú hộ Migāra đến hầu Ðức Phật, đảnh lễ dưới hai bàn chân Ngài bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con là Migāra! Bạch Ngài.
Kính bạch Ðức Thế Tôn, con là Migāra! Bạch Ngài.
Trước sự hiện diện của Ðức Phật, ông thưa với nàng dâu rằng:
- Này con, kể từ nay con ở ngôi vị là mẹ của ta.

Từ đó nàng Visākhā thêm vào tên là Visākhā Migāramātā: nàng Visākhā mẹ phú hộ Migāra.

Bà Visākhā Migāramātā có 20 đứa con: 10 con trai và 10 con gái. Mỗi đứa con trai, mỗi đứa con gái có 20 người con: 10 con trai và 10 con gái. Mỗi cháu trai, mỗi cháu gái lại có 20 người con: 10 con trai, 10 con gái. Như vậy, bà Visākhā Migāramātā có 20 người con, 400 người cháu và 8.000 người chắt.
Bà Visākhā Migāramātā thường hoan hỉ trong mọi phước thiện bố thí.
Một thuở nọ, bà đến đảnh lễ Ðức Phật xin phép 8 đặc ân:
1- Xin dâng y tắm mưa đến chư Tỳ khưu trọn đời.
2- Xin dâng vật thực đến chư Tỳ khưu khách mới đến.
3- Xin dâng vật thực đến chư Tỳ khưu sắp đi xa.
4- Xin dâng vật thực đến chư Tỳ khưu lâm bệnh.
5- Xin dâng vật thực đến chư Tỳ khưu nuôi Tỳ khưu bị bệnh.
6- Xin dâng thuốc trị bệnh đến chư Tỳ khưu mắc bệnh.
7- Hằng ngày xin dâng cháo buổi sáng đến chư Tỳ khưu.
8- Xin dâng y tắm đến chư Tỳ khưu ni Tăng.
Tám đặc ân này được Ðức Phật cho phép, bà Visākhā vô cùng hoan hỉ trong mọi việc làm phước thiện bố thí này.
Một dịp nọ, đến chùa nghe Ðức Phật thuyết pháp, bà Visākhā mang theo một tấm choàng mahālatā kết bằng những viên ngọc quý. Bà cởi trao cho đứa tớ gái, vào đảnh lễ Ðức Thế Tôn, ngồi nghe pháp, nghe xong, bà đảnh lễ Ðức Thế Tôn xin phép đi về, cô tớ gái đi về theo, để quên lại tấm choàng mahālatā tại giảng đường. Sau khi tất cả mọi người đi về hết, Ngài Ðại Ðức Ānanda nhìn thấy tấm choàng của bà Visākhā để quên lại, bạch Ðức Thế Tôn rằng:
– Kính bạch Ðức Thế Tôn, bà Visākhā đã về, để quên tấm choàng lại. Bạch Ngài.
Ðức Thế Tôn dạy rằng:
– Này Ānanda con nên để một nơi hợp lẽ.
Bà Visākhā đi thăm viếng Tỳ khưu bệnh, Tỳ khưu trẻ, Sa di.... Bà bảo đứa tớ gái mang tấm choàng trở về. Cô tớ gái đã để quên tấm choàng lại trong giảng đường nên thưa:
– Thưa bà chủ, con đã để quên tấm choàng.
Bà Visākhā dạy rằng:
– Này con, con đi đến chùa lấy tấm choàng đem về, nhưng nếu Ngài Ðại Ðức Ānanda đã đem tấm choàng cất, thì con không nên lấy lại, ta xin dâng Ngài Ānanda tấm choàng ấy, nghe con!
Ngài Ðại Ðức Ānanda nhìn thấy cô tớ gái liền hỏi rằng:
– Này con, con đến đây để làm gì?
– Bạch Ngài Ðại Ðức, con để quên tấm choàng của bà chủ, nên trở lại đây để lấy. – Cô tớ gái thưa.
– Này con, bần tăng đã đem treo ở chỗ kia, con hãy đến lấy đem về.
– Kính bạch Ngài Ðại Ðức, bà chủ con dặn rằng: nếu Ngài Ðại Ðức đã đụng chạm vào tấm choàng ấy rồi, thì bà xin dâng Ngài tấm choàng ấy.
Cô tớ gái trở về, không mang theo tấm choàng, thưa lại với bà chủ sự việc trên.
Bà Visākhā dạy cô tớ gái rằng:
– Này con, tấm choàng ấy Ngài Ðại Ðức đã đụng chạm, ta đã dâng đến Ngài rồi, như vậy, Ngài phải giữ gìn nó là một điều vất vả. Vì vậy, con hãy đến đem tấm choàng ấy về đây bán nó, để sắm những vật dụng cần thiết dâng cúng đến chư Tỳ khưu Tăng.
Nghe theo lời dạy của bà Visākhā, cô tớ gái đến chùa đem tấm choàng ấy về trao lại cho bà.
Bà Visākhā đem bán tấm choàng mahālatā kết bằng những viên ngọc quý với giá 90 triệu 100 ngàn đồng vàng. Với giá ấy, không có một nhà phú hộ nào có khả năng mua nổi tấm choàng ấy. Cuối cùng, chính bà Visākhā mua lại nó với giá 90 triệu 100 ngàn đồng vàng, bà đến bạch Ðức Thế Tôn rằng:
– Kính bạch Ðức Thế Tôn, Ngài Ðại Ðức Ānanda dùng tay đụng tấm choàng của con, để cất giữ, nên con không dám lấy lại; con xin xả tấm choàng ấy bằng cách bán nó, để sắm những vật dụng hợp pháp cần thiết dâng cúng đến chư Tỳ khưu Tăng.
Kính bạch Ðức Thế Tôn, ngoài con ra, không có một ai mua nổi với giá 90 triệu 100 ngàn đồng vàng. Vậy chính con mua lại tấm choàng ấy với giá đó. Bạch Ngài.
Kính bạch Ðức Thế Tôn, trong bốn thứ vật dụng: y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc trị bệnh, thứ nào cần thiết nhất? Bạch Ngài.
Ðức Thế Tôn dạy:
– Này Visākhā con! Vậy con nên xây cất một ngôi chùa gần phía Ðông cửa thành Sāvatthī, để dâng cúng đến chư Tỳ khưu Tăng.
Vô cùng hoan hỉ, vâng theo lời dạy của Ðức Thế Tôn, bà mua đất giá 90 triệu đồng vàng, cho xây cất ngôi chùa "Pubbārāma". Dưới sự chỉ dẫn của Ngài Ðại Ðức Mahāmogallāna, công trình xây dựng suốt 9 tháng mới hoàn thành chi phí thêm 90 triệu đồng vàng; và tổ chức lễ khánh thành dâng cúng đến chư Tỳ khưu Tăng tứ phướng có Ðức Phật chủ trì, rồi làm phước bố thí kéo dài suốt 4 tháng, chi phí thêm 90 triệu nữa.
Như vậy, bà đại thí chủ Visākhā Migāramātā đã hiến dâng tổng số tiền 270 triệu làm phước bố thí: mua đất, xây cất ngôi chùa Pubbārāma và làm lễ khánh thành.
Tại tư thất của bà Visākhā Migāramātā cũng như tư thất của phú hộ Anāthapiṇṇika, hằng ngày buổi sáng dâng cúng cháo đến chư Tỳ khưu, buổi trưa dâng vật thực đến chư Tỳ khưu, buổi chiều bà đem nước trái cây, thuốc trị bệnh đến dâng cúng đến chư Tỳ khưu bị bệnh v.v....
Ðức Phật tán dương bà là người cận sự nữ đại thí chủ, xuất sắc nhất về hạnh bố thí trong hàng cận sự nữ đệ tử của Ngài như sau:
Etadaggaṃ bhikkhave, mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ dāyikānaṃ yadidaṃ Visākhā Migāramātā.
Này chư Tỳ khưu, trong hàng nữ Thanh Văn cận sự nữ của Như Lai, Visākhā Migāramātā là cận sự nữ thí chủ xuất sắc nhất về hạnh hoan hỉ bố thí.

Bà Visākhā có tuổi thọ sống lâu 120 tuổi, cuộc đời của bà từ thuở ấu niên, trung niên cho đến lão niên đều hưởng sự an lạc, sống trong cảnh giàu sang phú quý; đó là quả của mọi phước thiện, nhất là phước thiện bố thí. Cho nên, trong suốt cuộc đời của bà không phải gặp cảnh khổ cực thiếu thốn về vật chất. Bà có nhiều tài sản của cải, lại càng hoan hỉ tạo nhiều phước thiện bố thí cho đến ngày cuối cùng cuộc đời của bà. Sau khi bà từ giả cõi người, do năng lực thiện nghiệp cho quả tái sanh làm thiên nữ trong cõi Hoá lạc thiên, cõi trời dục giới thứ 5, trở thành chánh cung hoàng hậu của đức vua trời Sunimmita, hưởng sự an lạc trong cõi trời này cho đến hết tuổi thọ 80.000 năm (so với cõi người 2.304 triệu năm, bởi vì 1 ngày 1 đêm nơi cõi trời này bằng 800 năm cõi người).

Bà là 1 trong 7 vị Thánh Nhập Lưu đặc biệt, có lời phát nguyện xin thọ hưởng sự an lạc tuần tầng trời dục giới cho đến các tầng trời sắc giới tột cùng, cõi Sắc cứu cánh thiên, sẽ tịch diệt Niết Bàn trong cõi này. Do đó, khi tái sanh làm thiên nữ cõi Tha hoá tự tại thiên, tầng trời thứ 6 tột cùng của cõi trời dục giới, thiên nữ Visākhā tiến hành thiền định chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới, cho quả tái sanh làm phạm thiên (không còn nữ tính) cõi trời sắc giới Phạm chúng thiên; tiếp tục tiến hành thiền định chứng đắc đệ nhị thiền sắc giới, cho quả tái sanh lên cõi trời sắc giới đệ nhị thiền; chứng đắc đệ tam thiền sắc giới, cho quả tái sanh lên cõi trời sắc giới đệ tam thiền; và tiếp tục chứng đắc đệ tứ thiền sắc giới đồng thời chứng đắc Nhất Lai Thánh Ðạo – Nhất Lai Thánh Quả, Bất Lai Thánh Ðạo – Bất Lai Thánh Quả trở thành bậc Thánh Bất Lai được tái sanh lên tầng trời sắc giới Tinh cư thiên có 5 tầng theo tuần tự cho đến tầng Sắc cứu cánh thiên (Akaniṭṭhā) tột cùng cõi trời sắc giới, sẽ chứng đắc A-ra-hán Thánh Ðạo – A-ra-hán Thánh Quả trở thành bậc Thánh A-ra-hán, hưởng hết tuổi thọ 16.000 đại kiếp rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.



TÍCH ÐỨC VUA ASOKA




Sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, Phật lịch 218, đức vua Asoka là một đấng minh quân trị vì cõi Nam thiện bộ châu, có nhiều oai lực đặc biệt như thần thông, Ðức Vua có đức tin trong sạch nơi Tam bảo.
Một hôm, đức vua Asoka nhìn thấy Ðại Ðức Sa di Nirodha mới lên bảy tuổi, là bậc Thánh A-ra-hán đang đi khất thực, Ðức Vua phát sanh đức tin đặc biệt nơi vị Ðại Ðức Sa di Nirodha (Ðại Ðức Nirodha kiếp trước đã từng là anh của Ðức Vua). Ðức Vua truyền lệnh các quan thỉnh mời Ðại Ðức Sa di Nirodha vào cung điện, thỉnh ngoài trên ngai vàng cao quý, tự tay Ðức Vua để bát bằng những món vật thực của Ðức Vua dùng hằng ngày. Khi vị Ðại Ðức Sa di thọ thực xong, Ðức Vua bèn thỉnh Ngài thuyết pháp.
Vị Ðại Ðức Sa di Nirodha thuyết dạy bài kệ trong Pháp cú:
"Appamādo amatapadaṃ,
Pamādo maccuno padaṃ...".
"Không dể duôi, có chánh niệm,
là đường bất tử Niết Bàn,
Dể duôi là con đường tử...".

Ðức vua Asoka nghe pháp xong, càng tăng thêm đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng gấp bội.
Hằng ngày Ðức Vua cúng dường vật thực đến chư Tỳ khưu Tăng gồm có 600.000 vị tại cung điện của Ðức Vua, bởi do đức tin trong sạch nơi vị Ðại Ðức Sa di Nirodha.
Một hôm Ðức Vua dự lễ bố thí tứ vật dụng đến chư Tỳ khưu Tăng 600.000 vị, Ðức Vua bèn bạch chư Tỳ khưu Tăng rằng:
- Kính bạch chư Ðại Ðức Tăng, chánh pháp mà Ðức Phật thuyết giảng có bao nhiêu pháp môn? Bạch quý Ngài.
Chư Ðại Ðức thưa:
- Thưa Ðại Vương! Chánh pháp mà Ðức Phật thuyết giảng có 84.000 pháp môn.
Ðức Vua phát sanh đức tin trong sạch nơi 84.000 pháp môn, nên Ðức Vua truyền lệnh cho các quan ở khắp mọi nơi trong nước rằng:
- Trẫm muốn cúng dường mỗi pháp môn bằng một ngôi chùa và một bảo tháp, vậy Trẫm muốn xây cất 84.000 ngôi chùa và 84.000 bảo tháp trên toàn cõi Nam Thiện Bộ Châu, các khanh hãy đến mỗi tỉnh xây cất một ngôi chùa để cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng và ngôi bảo tháp để tôn thờ Xá Lợi của Ðức Phật.


Ðức vua Asoka xuất ra số tiền gồm có 960 triệu kahāpana để lo xây cất 84.000 ngôi chùa và 84.000 bảo tháp. Ngôi chùa trung tâm tại thủ đô đặt tên Asokārāma.
Việc xây cất 84.000 ngôi chùa và 84.000 bảo tháp suốt 3 năm mới hoàn thành.
Các quan ở mỗi tỉnh đến chầu Ðức Vua cùng một ngày, tâu lên Ðức Vua rõ, những ngôi chùa và những ngôi bảo tháp đã hoàn thành rồi.
Ðức Vua truyền chiếu chỉ trong toàn cõi Nam thiện bộ châu biết rằng: "còn 7 ngày nữa sẽ làm đại lễ khánh thành những ngôi chùa và những ngôi bảo tháp ở từng nơi, tất cả mọi thần dân trong nước đều thọ trì bát giới, sửa soạn làm đại lễ khánh thành tất cả các ngôi chùa và ngôi bảo tháp, để cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng từ kinh thành đến các tỉnh thành".

Ngày đại lễ khánh thành chùa và bảo tháp, trong kinh thành cũng như các tỉnh thành trang hoàng đẹp đẽ như cõi trời, Ðức Vua cùng các quan cũng như dân chúng trang điểm đẹp đẽ trang nghiêm, đi dự đại lễ khánh thành chùa và tháp bảo.
Ðức Vua ngự đến ngôi chùa Asokārāma ở trung tâm chính tại kinh đô, kính thỉnh chư Tỳ khưu Tăng toàn cõi Nam thiện bộ châu đến dự đại lễ khánh thành và thọ nhận 84.000 ngôi chùa cùng bảo tháp ở mỗi nơi, có khoảng 800 triệu vị Tỳ khưu Tăng và 9.600.000 vị Tỳ khưu ni Tăng. Trong số đó có 100.000 bậc Thánh A-ra-hán.
Chư bậc Thánh A-ra-hán suy tư rằng: "Nếu đức vua Asoka được nhìn thấy rõ việc đại bố thí 84.000 ngôi chùa và 84.000 bảo tháp, mà Ðức Vua đã truyền lệnh xây cất, nay làm lễ khánh thành dâng cúng đến chư Tỳ khưu Tăng, sẽ làm cho Ðức Vua vô cùng hoan hỉ, càng tăng thêm đức tin trong sạch nơi Tam bảo".

Khi ấy, một vị Thánh A-ra-hán liền hóa phép thần thông "Mở thế gian" (Lokavivaraṇa), Ðức Vua nhìn thấy mọi nơi không có gì che khuất cả. Dầu Ðức Vua đang đứng tại ngôi chùa Asokārāma trung tâm, mà có thể nhìn thấy rõ bốn hướng toàn cõi Nam Thiện Bộ Châu, thấy rõ 84.000 ngôi chùa và 84.000 ngôi bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Ðức Phật.
Thật vậy, đức vua Asoka vô cùng hoan hỉ hơn bao giờ hết, Ðức Vua suy tư rằng: sự việc đại bố thí như thế này, không biết đã có ai từng làm chưa?

Vì vậy Ðức Vua bèn bạch hỏi chư Ðại Ðức Tăng:
- Kính bạch chư Ðại Ðức Tăng, trong giáo pháp Ðức Thế Tôn của chúng ta, có thí chủ nào làm phước đại bố thí như thế này không?
Chư Ðại Ðức Tăng kính thỉnh Ðại Ðức Moggali-puttatissatthera trả lời câu hỏi của Ðức Vua.
Ðại Ðức Moggaliputtatissatthera trả lời rằng:
- Thưa Ðại Vương, trong Phật giáo, việc đại bố thí của Ðại Vương như thế này, dầu khi Ðức Thế Tôn còn hiện tiền cho đến nay, chưa có một ai làm được như vậy. Chỉ có Ðại Vương là đại thí chủ làm lễ đại bố thí lớn lao nhất từ trước cho đến nay mà thôi.
Ðức Vua lắng nghe câu trả lời của Ngài Ðại Ðức Moggaliputtatissatthera rồi phát sanh hỉ lạc chưa từng có, rồi suy tư rằng: "Từ trước cho đến nay, chưa có thí chủ nào làm phước đại bố thí như ta, ta là một đại thí chủ bố thí 4 thứ vật dụng lớn lao như thế này, chắc có lẽ ta là thân quyến kế thừa Phật giáo (Dāyādo sāsanassa) có phải không?".

Do đó, Ðức Vua bèn bạch hỏi Ðại Ðức Moggali-puttatissatthera rằng:
– Kính bạch Ngài Ðại Ðức, con đã làm đại bố thí bốn thứ vật dụng lớn lao như thế này, vậy, con có phải là "Thân quyến kế thừa của Phật giáo" hay không?
Ngài Ðại Ðức Moggaliputtatissatthera quán xét về ba la mật của thái tử Mahinda và Công chúa Saṃghamittā con của Ðức Vua như thế nào. Ngài biết rõ Thái tử và Công chúa xuất gia sẽ trở thành bậc Thánh A-ra-hán, sẽ giúp cho Phật giáo phát triển tốt đẹp sau này. Cho nên Ngài đáp rằng:
– Thưa Ðại vương, người trở thành thân quyến kế thừa Phật giáo không phải do nhân đại bố thí. Dầu người đại thí chủ bố thí bốn thứ vật dụng nhiều đến bao nhiêu đi nữa, cũng chỉ gọi là: paccayadāyaka: đại thí chủ bố thí 4 thứ vật dụng, hoặc gọi là: upaṭṭhāka: người hộ độ mà thôi....

Thưa Ðại vương, sự thật, người nào dầu bố thí bốn thứ vật dụng đến chư Tỳ khưu Tăng chất chồng từ mặt đất cao đến cõi trời, người ấy không thể gọi là thân quyến kế thừa của Phật giáo.

Lắng nghe lời dạy của Ngài Ðại Ðức Moggali-puttatissatthera như vậy, nên đức vua Asoka cống hiến vị hoàng thái tử Mahinda yêu quý nhất, cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu, thay vì truyền ngôi báu, và công chúa Sanghamitta xuất gia trở thành Tỳ khưu ni trong Phật giáo.
Ðức vua Asoka không chỉ là một đại thí chủ chưa từng có từ trước cho đến nay, mà còn là một thân quyến kế thừa của Phật giáo, bởi vì Ðức vua đã cống hiến, cho phép 2 người con xuất gia trong Phật giáo, Người có công đức lớn gởi các phái đoàn Ðại Ðức Tăng sang truyền bá Phật giáo ở đảo quốc Srilankā và vùng Suvaṇṇabhūmi gồm các nước Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Trên đây là những nhân vật đại thí chủ xuất sắc nhất về phước hạnh bố thí trong thời kỳ Ðức Phật còn hiện tiền, và sau thời kỳ Ðức Phật đã tịch diệt Niết Bàn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/11/2015.