Tuesday, May 14, 2024

Các Hạnh Đầu Đà. 1. Giới Thiệu Hôm nay chúng ta bắt đầu nghiên cứu chương thứ hai, bàn về những sự thực hành kham khổ, tức là các phương pháp đầu đà. Chúng được trình bày ở đây vì sự thực hành những phương pháp đầu đà này giúp chúng ta tẩy rửa thêm đi những phiền não. Trước hết, chúng ta cần sự thanh lọc hay sự thanh tịnh giới hạnh. Thêm vào đó, chúng ta cần thực hành một số những phương pháp khổ hạnh này để chúng ta có thể ít nhất là làm giảm thiểu đi những phiền não. Trong chương này có mười ba phương pháp đầu đà được trình bày. Trong tài liệu này có nói rằng mười ba phương pháp đầu đà này đã được Đức Phật cho phép thực hành. Trong Tạng Luật (Vinaya Piṭaka) và cũng như trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) có nhắc đến những sự thực hành này. Chúng không phải là các giới điều. Chúng ta thực hành chúng không phải như là các giới điều mà như là một cái gì đó thêm vào hay bên cạnh những giới điều. Có tất cả mười ba phương pháp. Chúng được liệt kê trong sách ở đoạn văn thứ hai. Chúng là: Hạnh y phấn tảo Hạnh tam y Hạnh khất thực Hạnh khất thực từng nhà Hạnh nhất tọa thực Hạnh ăn bằng bát Hạnh không nhận tàn thực, tức là không dùng thực phẩm dư thừa Hạnh ở rừng Hạnh ở gốc cây Hạnh ở ngoài trời Hạnh ở nghĩa trang Hạnh ở chỗ nào cũng được Hạnh ngồi (không nằm). Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), ý nghĩa của các tên gọi được giải thích trước và rồi chính các sự thực hành được giải thích sau. Sự giải thích các tên gọi thì hầu hết có liên quan đến ngôn ngữ Pāḷi. Cho nên, sự chuyển ngữ có thể hơi vụng về hay hơi gượng gạo. Sự thực hành đầu tiên hay phương pháp đầu tiên được gọi là ‘hạnh y phấn tảo’. Vào thời trước khi Đức Phật cho phép dùng y phục được dâng cúng bởi các thiện tín, các tu sĩ đã phải tự lượm nhặt y phục để dùng. Tức là các vị phải đi vào những nơi như đống rác hoặc mộ địa hoặc bất kỳ nơi nào và nhặt những mảnh vải bị mọi người vất đi. Các vị sẽ phải cắt bỏ những phần hư xấu. Rồi các vị dùng những phần tốt, ghép chúng lại với nhau và may vá thành một bộ y. Đó là cách các tu sĩ kiếm y phục trước khi Đức Phật cho phép y được dâng cúng bởi các tại gia cư sĩ. Thật ra, Đức Phật đã không từ chối việc cho phép y phục của các tỳ-kheo được dâng cúng từ hàng tại gia, chỉ là vì cơ duyên chưa đến. Cho nên, Đức Phật đã không chế đặt ra luật nào. Rồi một lần nọ, lương y Jīvaka có hai mảnh vải rất tốt. Ông đã đến gặp Đức Phật và thỉnh cầu Đức Phật chấp nhận vải đó. Rồi ông đã thỉnh cầu Đức Phật cho phép các tỳ-kheo được nhận y phục dâng cúng từ hàng tại gia. Từ lúc đó trở đi, các tỳ-kheo được phép chọn chấp nhận y dâng cúng từ hàng tại gia hoặc nhặt các mảnh vải và tự làm ra bộ y. 2. Hạnh Y Phấn Tảo Phương pháp đầu đà thứ nhất được gọi là hạnh y phấn tảo. Điều đó có nghĩa là nếu vị tu sĩ nguyện thực hành phương pháp đầu đà này, vị đó phải không chấp nhận y được dâng cúng từ hàng tại gia. Thay vào đó, vị đó phải lượm nhặt các nguyên liệu làm y và tự làm y cho chính mình. Trong tài liệu này, ở đoạn văn 15, có trình bày 23 nguồn nguyên liệu có thể được dùng để tạo ra y. Loại thứ nhất là vải từ nghĩa trang. Loại thứ hai là vải từ cửa hàng và vân vân. Những điều này được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Hai mươi ba loại này là nguồn nguyên liệu làm y cho các tu sĩ nói chung cũng như cho những tu sĩ trì hành phương pháp đầu đà này. Sau khi giải thích 23 nguồn nguyên liệu dùng để làm y này, tác giả giải thích về sự thực hành. Chúng ta hãy nhìn vào đoạn văn 19. “Một bộ y được dâng cúng theo cách ‘Chúng con xin dâng cúng bộ y này đến chư Tăng’ hoặc có được từ những vị đi khất y (ND: tức là đi xin y thay vì đi xin vật thực) thì không phải là y phấn tảo.”1 Đôi lúc mọi người dâng y đến chư Tăng, đến Tăng đoàn, chứ không phải cá nhân thí. Cho nên, Tăng đoàn chấp nhận những bộ y đó. Khi có đủ y để phân chia, thì sự phân chia y được tiến hành. Một bộ y, mà được dâng cúng đến Tăng đoàn và được nhận bởi vị tỳ-kheo thực hành phương pháp đầu đà này, thì không phải là y phấn tảo. Vị đó phải không được dùng y như vậy vốn được nhận như là phần chia sẻ từ Tăng chúng. Giả sử có mười vị tỳ-kheo sống trong một tự viện và có mười bộ y. Một trong những vị tỳ-kheo sẽ phân phát y cho những vị còn lại. Y tốt nhất sẽ về phần vị tỳ-kheo có hạ lạp cao nhất. Rồi đôi lúc, các tu sĩ lại đi khất y. Tức là các vị đi xin hay thu nhặt y vải thay vì là vật thực. Điều thông thường là mỗi sáng chúng tôi thường đi khất thực. Chúng tôi mang bát đi vào làng hay vào thành phố để nhận hay xin vật thực. Nhưng ở đây, các vị này đi xin y vải thay vì đi xin vật thực. Y nhận được từ bất kỳ cách nào trong những cách này thì không phải là y phấn tảo. Trong 23 loại nguyên liệu làm y hay nguồn của y phục, có một loại được nhắc đến là y của một tỳ-kheo. Tức là y được dâng/tặng/biếu từ một tỳ-kheo đến một tỳ-kheo khác đang thọ trì hạnh đầu đà này. Đối với trường hợp này, chúng ta cần phải biết một vài điều. Trong đoạn văn này ở khoảng câu thứ hai, ngài Ñāṇamoli đã hiểu sai những từ Pāḷi. Tôi sẽ giải thích không theo bản dịch của ngài. Một tỳ-kheo được phép dâng/tặng/biếu y đến vị tỳ-kheo (khác) đang thực hành hạnh đầu đà này. Nhưng nếu vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà (tức là vị tỳ-kheo này không thực hành những hạnh đầu đà) dâng/tặng/biếu y đến những vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà (tức là các vị tỳ-kheo này thực hành những hạnh đầu đà), trong quá trình dâng/tặng/biếu, nếu vị đó dâng/tặng/ biếu do vì hoặc nương theo hạ lạp cao của những vị hành hạnh đầu đà (dhutaṅga), thì y đó không phải là y phấn tảo. Vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà không được phép dùng y đó. Có những người xây dựng một tự viện hay một tòa nhà. Họ quyết định rằng họ sẽ cúng dường y phục đến các tu sĩ mà sẽ cư ngụ trong ngôi tự viện đó. Loại y này cũng không phải là y phấn tảo. Cho nên, nếu vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà dâng/tặng/biếu y đến những vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà, vị đó phải dâng/tặng/biếu không phải theo hạ lạp, mà phải dâng/tặng/biếu như quà cá nhân. Đó là ý nghĩa được trình bày ở đây. Trong bản dịch của ngài Ñāṇamoli, ngài đã hiểu sai một từ. “Và trong trường hợp y được dâng/tặng/biếu từ một vị tỳ-kheo, y mà có được (tại buổi lễ dâng y được thực hiện bởi hàng tại gia) sau các mùa An Cư.”1 Dịch như vậy là rất sai. Từ Pāḷi ở đây là ‘vassa’, có thể có nghĩa là ‘mưa’ hay cũng có nghĩa là ‘(một) năm’. Nghĩa thứ hai là ‘(một) năm’. Nó cũng có nghĩa là một năm làm tỳ-kheo (ND: 1. làm tỳ- kheo theo đúng luật, 2. từ người Việt thường dùng là ‘một hạ’). Nếu một ai đó hỏi tôi “Ngài có bao nhiêu hạ (vassa)?” Tôi sẽ trả lời là “Tôi có 41 hạ (vassa).” Điều đó có nghĩa là tôi đã làm tỳ-kheo được 41 năm (ND: làm tỳ-kheo theo đúng luật). Khi y được phân chia, chúng được phân chia theo hạ lạp. Giả sử có 100 vị tỳ-kheo nhưng chỉ có 50 bộ y. Năm mươi bộ y này được phân chia đến 50 vị tỳ-kheo cao hạ. Và việc phân chia dừng lại ở đó. Khi họ có thêm y, họ sẽ phân chia tiếp cho vị tỳ-kheo thứ 51 (ND: theo thứ tự hạ lạp) và vân vân. Đây là cách y dâng cúng dường đến Tăng chúng được phân chia như thế nào. Khi các vị phân chia, các vị phải phân chia theo hạ lạp. Từ Pāḷi ‘vassa’ ở đây có nghĩa là số năm làm tỳ-kheo (tức là số hạ) chứ không phải là ‘tại cuối mùa mưa’. Điều này khá thú vị, nhưng cũng hơi khôi hài. Từ Pāḷi là ‘vassagga’. ‘Vassa’ có thể có nghĩa là mưa, năm hay tuổi hạ của tỳ-kheo. ‘Agga’ có thể có nghĩa là cuối, kết thúc, nhưng nghĩa này ít dùng. ‘Agga’ có nghĩa là cạnh hay rìa. Cho nên, ngài (ND: tức là ngài Ñāṇamoli) đã suy ra nó có nghĩa là ‘bên rìa của những mùa mưa’ hay ‘điểm cuối của những mùa mưa’. Như vậy thì khá sai. Ở đây, ‘agga’ không có nghĩa là cạnh hay rìa. ‘Agga’ là cái gì đó giống như là một phần hay một số lượng, tức là số lượng ‘vassa’. Và ‘vassa’ ở đây không có nghĩa là mùa mưa, mà là số năm làm tỳ-kheo. Như vậy, khi vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà dâng/tặng/biếu y đến những vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà, vị đó phải không nên dâng/tặng/biếu dựa vào hay nương vào hạ lạp của những vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà. Vị đó phải cho những bộ y đó đi (ND: như tặng quà). Đó là trường hợp y được dâng/tặng/biếu bởi tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà đến tỳ-kheo hành hạnh đầu đà. Bây giờ, nếu vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà nhận được bộ y khi hàng tại gia đặt bộ y đó tại chân của vị đó, chứ không phải dâng vào tay của vị đó (tức là những cư sĩ tại gia đặt bộ y tại chân của vị đó và vị nó nhặt nó lên), nếu đó là cách nhận y và vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà đặt bộ y đó vào tay của vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà, thì việc này được gọi là ‘thanh tịnh một chiều’. Khi bộ y được đặt tại chân của vị tỳ-kheo, nó được gọi là ‘thanh tịnh’. Khi nó được đặt vào tay của vị tỳ-kheo, nó không được gọi là ‘thanh tịnh’. Cho nên, nó là ‘thanh tịnh một chiều’. Rồi nếu các cư sĩ tại gia dâng y vào tay của một vị tỳ- kheo và vị tỳ-kheo đó đặt y tại chân của một vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà, điều này cũng được gọi là ‘thanh tịnh một chiều’. Nếu các cư sĩ tại gia đặt y tại chân của một vị tỳ-kheo và vị tỳ-kheo đó đưa cho vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà bằng cách đặt bộ y tại chân của vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà, thì bộ y đó được gọi là ‘thanh tịnh cả hai chiều’. Bộ y được đặt vào tay của vị tỳ-kheo không hành hạnh đầu đà và rồi được đặt vào tay của vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà là bộ y không được tốt lắm. Để tôi xem. Nó không phải là ‘y của vị thực hành nghiêm khắc hay nghiêm túc’. Các vị thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga) này được chia ra làm ba bậc: bậc thượng, bậc trung và bậc hạ. Tức là ba thứ bậc được trình bày ở đây. “Ở đây, vị lượm nhặt y chỉ từ nghĩa trang là bậc thượng.”1 Vị này là bậc thượng. Vị này chỉ nhặt y từ nghĩa trang. Việc này thì không khả thi vào thời nay. Nó không khả thi thậm chí tại quốc gia của chúng tôi. Vào những ngày xa xưa, người ta bọc xác chết bằng vải và bỏ nó trong nghĩa trang. Xác chết đó không được chôn cũng không được thiêu. Cho nên, các tỳ-kheo có thể nhặt những tấm vải như vậy từ nghĩa trang. Cho nên, ngày nay đối với hạnh đầu đà này, không thể có vị hành theo bậc thượng được. “Vị lượm nhặt y của một ai đó bỏ đi (với ý nghĩ) ‘Người xuất gia sẽ nhặt nó’ là bậc trung.”2 Điều đó có nghĩa là ai đó bỏ y nơi nào đó để các vị tỳ-kheo có thể thấy, để mà khi các vị tỳ-kheo thấy nó, các vị có thể nhặt nó lên. Nếu vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà nhặt lấy bộ y này, vị đó được gọi là thuộc bậc trung. “Vị lượm nhặt y do một vị tỳ-kheo (khác) đặt tại chân của mình là bậc hạ.”3 Cho nên, có ba bậc, tức là ba thứ hạng, trong mỗi pháp đầu đà của mười ba hạnh đầu đà này. Do đó, có ba thứ hạng phân loại dành cho các vị thực hành. Các lợi ích của việc thực hành được trình bày ở đây. “Vị đó thật ra thực hành hòa hợp với các nhu yếu phẩm.”1 Có bốn loại nhu yếu phẩm dành cho các tỳ-kheo – y phục, vật thực, trú xứ và dược phẩm. Chúng được gọi là các nhu yếu phẩm. Khi vị tỳ-kheo phụ thuộc vào y phục nhặt lấy từ nghĩa trang và vân vân, vị đó được gọi là đang thực hành hòa hợp với sự chỉ dạy dành cho loại nhu yếu phẩm (vật dụng) này. “Vị đó an trú vào loại di sản thứ nhất của các bậc Thượng Nhân.” Tài liệu tham khảo ở đây là A.II.27 (ND: Tăng Chi Bộ, Tập 2, trang 27 của ấn bản tiếng Pāḷi của PTS. Độc giả có thể xem Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Phẩm Uruvelā, Biết Đủ). Có bốn di sản của bậc thượng nhân. Đó là hài lòng với bất kỳ y phục nào có được, hài lòng với bất kỳ thực phẩm nào có được, hài lòng với bất kỳ trú xứ nào có được, và thực hành thiền. Đó là dành cho các tu sĩ. Những điều này được gọi là ‘bốn di sản của các bậc Thượng Nhân’. Ngài chú giải sư nói rằng “Vị đó an trú vào loại di sản thứ nhất của các bậc Thượng Nhân.” Đó là hài lòng với bất kỳ y phục nào có được. 3. Hạnh Tam Y Phương pháp đầu đà thứ hai là hạnh tam y. Có ba y dành cho các tỳ-kheo. Nếu vị tỳ-kheo chỉ dùng ba y, thì vị đó được gọi là thực hành hạnh đầu đà này. Để tôi cho các bạn xem ba y này. Đây là y nội. Đây là y vai trái. Nó lớn gấp đôi y nội. Đây là hai y chúng tôi thường dùng hằng ngày. Có một y khác nữa gọi là ‘saṅghāṭi’ trong Pāḷi. Nó có hai lớp. Chúng tôi gọi nó là ‘y tăng-già-lê’. Nó có nhiều phần hay nhiều khoang hơn là y kia. Y đó chỉ có năm phần hay năm khoang. Chúng tôi gọi chúng là ‘các khoang’. Y này có thể có khoảng 25 khoang. Học viên: Ai làm mấy bộ y này ạ? Giảng sư: Hiện tại, hàng tại gia cư sĩ làm và kinh doanh chúng. Y tăng-già-lê (Saṅghāṭi) thì thường được dùng làm mền. Nó có hai lớp, cho nên vào mùa đông, chúng tôi dùng nó làm mền. Đức Phật cho phép sử dụng ba y này. Khi muốn cho phép y được sử dụng, chính Đức Phật đã sử dụng các bộ y. Những tài liệu kinh sách ghi lại rằng, vào ngày lạnh nhất trong năm, có lẽ là vào tháng Mười Hai, Ngài chỉ mặt một y có lẽ là vào buổi tối. Ngài đã thử và Ngài có thể chịu được với một y trong canh đầu. Rồi Ngài cảm thấy lạnh. Cho nên, Ngài đắp thêm một y nữa. Ngài đã có thể giữ cho cơ thể mình ấm cho đến canh hai. Rồi Ngài đắp thêm một y nữa. Y đó có thể giữ cho cơ thể Ngài ấm cho đến canh ba. Vào cuối canh ba, Ngài lại cảm thấy lạnh. Cho nên, Ngài đắp thêm một y nữa. Do đó, có tất cả bốn y. Các tỳ-kheo được phép dùng bốn y này. Bốn y này trở thành ba, vì hai y được ghép thành một. Hiện tại, chúng tôi có ba y. Vị tỳ-kheo chỉ dùng ba y – không có y nào thêm, không có y để thay đổi – được gọi là vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà (dhutaṅga) này. Học viên: Tôi có một câu hỏi. Nếu một ai đó muốn trở thành tu sĩ và muốn sống đời sống nghiêm ngặt (ND: như hành hạnh tam y), điều đó có lẽ rất khó. Đức Phật đã không sống tại Alaska (ND: một tiểu bang của Mỹ nơi mà khí hậu rất lạnh và khắc nghiệt). Giảng sư: Đúng vậy. Các bạn thấy là hiện tại tôi đang mặc thêm cái áo này và đội cái nón này. Tôi sẽ chẳng bao giờ dùng những thứ này tại Miến Điện đâu. Chúng ta phải sống thích nghi với thời tiết tại nơi chúng ta ở. Đức Phật đã sống tại Ấn Độ. Ấn Độ không có lạnh như Hoa Kỳ hoặc như Alaska. Chúng ta phải chỉnh sửa một chút một vài điều Ngài đã dạy. Có lẽ ý tưởng ở đây là số lượng y phục tối thiểu các bạn có thể sống cùng với. Ý nghĩa ở đây là tối thiểu. Một vài vị tỳ-kheo có lẽ có đến mười hoặc mười hai bộ tam y như vậy. Thật ra thì không cần thiết phải có nhiều đến như vậy. Nhu cầu thiết yếu các bạn cần ở đây chỉ là một bộ tam y. Ý nghĩa ở đây là như vậy. Vào những ngày cổ xưa, các tỳ-kheo phải tự nhuộm y. Tại thời điểm nhuộm y, trước hết, vị tỳ-kheo nhuộm y nội (hay còn được gọi là y dưới) hoặc y vai trái (hay còn được gọi là y trên). Y nội có nghĩa là y nhỏ nhất. Sau khi nhuộm xong một trong hai y, vị đó nên mặc nó quanh vùng thắt lưng và nhuộm cái còn lại. Tức là khi nhuộm y, vị đó mặc một y và rồi nhuộm một y. Hai y này có thể được mặc như là y trên hoặc là y dưới tại lúc đó. Sau khi nhuộm xong, vị đó mặc y đã nhuộm và nhuộm y còn lại và vân vân (ND: Điều này có nghĩa là trong khi nhuộm y, y nội và y vai trái có thể được dùng quấn quanh thắt lưng để che phần dưới như là y nội. Tức là vị tỳ-kheo mặc một trong hai y này để che phần dưới và nhuộm y còn lại. Sau khi nhuộm xong y đó thì dùng nó che phần dưới và nhuộm y kia. Vị tỳ-kheo không được phép dùng y tăng-già-lê quấn quanh thắt lưng để che phần dưới (như được nhắc đến ở dưới đây)). Điều này được nhắc đến ở đây trong đoạn văn 24. ‘Y có nhiều mảnh’ là chỉ cho y tăng-già-lê (saṅghāṭi). “Nhưng vị đó không được phép mặc y có nhiều mảnh quanh thắt lưng.”1 Y này không được phép sử dụng làm y nội (hay y dưới) thậm chí là chỉ dùng tạm thời. Y tăng-già-lê (saṅghāṭi) không nên được sử dụng làm y nội vào bất kỳ lúc nào. “Đây là nhiệm vụ phải làm khi đang cư trú trong làng.”2 Điều đó có nghĩa là trong làng hoặc gần làng. “Nhưng vị đó được phép giặt và nhuộm cả hai y (ND: tức là y nội và y vai trái) cùng một lúc nếu ở trong rừng.”3 Vị đó có thể không mặc gì cả, nhưng vì ở trong rừng, nên vị đó có thể làm như vậy được. “Tuy nhiên, vị đó nên ngồi ở nơi gần (các bộ y) để, nếu vị đó thấy có người lạ, vị đó có thể kéo y vàng phủ lên người.” Học viên: Tại sao màu này lại được sử dụng? Giảng sư: Tôi nghĩ màu này thì dễ tìm kiếm và nó được xem là thích hợp cho những vị xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Màu này thật ra là giữa màu vàng và màu nâu. Không có màu cụ thể được nhắc đến, nhưng nó phải không là màu vàng chói. Nó phải không là màu xanh da trời. Nó phải là giữa màu vàng và màu nâu. Chúng tôi lấy chất nhuộm từ vỏ của một loại cây hoặc từ phần lõi của cây mít. Tôi có hỏi mọi người ở đây (ND: tức là ở Hoa Kỳ, khu vực ngài Sīlānanda thuyết giảng những điều này) xem họ có biết cây mít là gì không và họ nói là không. Trái mít thì tương tự như là trái sa-kê5. Vỏ ngoài của trái mít có gai, nhưng không nhọn lắm. Nó là một loại trái cây vùng nhiệt đới. Lõi trong của cây đó có màu nâu đậm. Chúng tôi lấy lõi trong đó, bằm nó ra thành những mảnh nhỏ và nấu lên. Từ đó, chúng tôi có được chất nhuộm. Khi tấm vải được nhuộm với chất nhuộm đó, màu nó sẽ giống như màu của những bộ y này. Vị tỳ-kheo thực hành hạnh đầu đà này có thể có thêm y thứ tư hay nói cách khác là một miếng vải thứ tư. Nó được nhắc đến ở đây. Nó được gọi là vải choàng vai1. Đó chỉ là một miếng vải, rộng một gang (vitthārato vidatthi) và dài ba cánh tay (dīghato tihattha). Nó là một miếng vải để choàng quanh cơ thể – để giữ ấm và cũng ở hút mồ hôi, không cho mồ hôi làm ướt y bên ngoài. Cho nên, chỉ có loại y thứ tư này là được phép dùng đối với vị tỳ-kheo này. 4. Hạnh Đi Khất Thực Hạnh đầu đà tiếp theo là hạnh đi khất thực. Nếu vị tỳ- kheo thực hành hạnh này, vị đó phải đi khất thực hàng ngày. Vị đó phải không được nhận lời mời thọ thực nào cả. Có mười bốn loại thực phẩm không được phép nhận. Trong đoạn văn 27, vị hành hạnh khất thực này không nên chấp nhận mười bốn loại thực phẩm sau: bữa ăn được dâng cúng đến Tăng chúng, bữa ăn được dâng cúng đến những vị tỳ- kheo được chỉ định (Có một vị tỳ-kheo có trách nhiệm chỉ định các tỳ-kheo đi nhận thực phẩm. Vị đó có thể chỉ định một vị tỳ-kheo cụ thể nào đó nhận thực phẩm tại nhà của một cư sĩ cụ thể nào đó. Loại thực phẩm đó được gọi là thực phẩm được dâng cúng đến vị tỳ-kheo được chỉ định), bữa ăn được mời, bữa ăn được dâng cúng bằng phiếu ăn (tức là theo phiếu phát), bữa ăn mỗi nửa tháng (Điều đó có nghĩa là một lần mỗi nửa tháng. Một vài người dâng cúng vật thực mỗi nửa tháng), bữa ăn được dâng cúng vào mỗi ngày Bố-tát (Uposatha) (tức là cũng giống như trên, nhưng xảy ra vào ngày trăng tròn – ND: ngày 15, và ngày trăng mới – ND: ngày 29 hoặc 30), bữa ăn mỗi ngày đầu nửa tháng (tức là một ngày sau ngày trăng tròn – ND: ngày 16, và ngày sau ngày trăng mới – ND: ngày 1), bữa ăn được dâng cúng đến những vị tỳ-kheo đến từ xa, bữa ăn được dâng cúng đến những vị tỳ-kheo sắp đi xa, bữa ăn được dâng cúng đến những vị tỳ-kheo bị bệnh, bữa ăn được dâng cúng đến những vị tỳ-kheo đang chăm sóc những vị tỳ- kheo bị bệnh, bữa ăn được dâng cúng đến một trú xứ cụ thể (tức là một tự viện (vihāra) cụ thể), bữa ăn được dâng cúng tại ngôi nhà chính yếu (tức là ngôi nhà đầu tiên trong làng), và bữa ăn được cúng dường theo thứ tự (tức là mọi người thay phiên dâng cúng vật thực hay bữa ăn).1 Đây là mười bốn loại thực phẩm hay bữa ăn mà vị tỳ-kheo hành hạnh đầu đà (dhutaṅga) phải không được nhận. Vị đó phải đi khất thực bên ngoài và chỉ nhận vật thực từ những ngôi nhà mà vị đó đi đến. Cũng có ba cấp bực đối với hạnh đầu đà này. “Vị tỳ kheo nghiêm khắc (ND: hành bậc thượng) nhận đồ dâng cúng cả từ phía trước và từ phía sau.” Các bạn có hiểu không? ‘Từ phía trước và từ phía sau’ có nghĩa là – giả sử vị tỳ-kheo đang đứng trước nhà này. Nếu vị đó đang đứng trước nhà này và nếu một người từ ngôi nhà ở phía sau mang thực phẩm ra dâng cúng, thì đó có nghĩa là ‘thực phẩm từ phía sau’ và ‘thực phẩm từ phía trước’ có nghĩa là thực phẩm từ nhà kế tiếp. Như vậy, vị tỳ kheo thực hành nghiêm khắc nhận đồ dâng cúng cả từ phía trước và phía sau. “Vị đó giao bát cho những cư sĩ nhận lấy bát trong khi vị đó đứng ngoài cổng.”2 Vị đó đứng trước cửa nhà. Mọi người bước ra và nói: “Xin ngài cho chúng con xin bát của ngài. Chúng con muốn đặt vật thực vào bát của ngài.” Vị đó sẽ giao bát của mình cho họ. Việc làm như vậy là được cho phép đối với vị đó. “Nhưng vị đó không nhận vật thực bằng cách ngồi (và đợi vật thực được mang lại) trong ngày đó. Vị (hành bậc) trung bình cũng nhận vật thực bằng cách ngồi (và đợi vật thực được mang lại) trong ngày đó; nhưng vị đó không đồng ý hay không hứa sẽ đợi nhận vật thực mang lại cúng dường vào ngày hôm sau.”3 Vị đó không hứa sẽ đợi ngày hôm sau. “Vị dễ dãi (ND: hành bậc hạ) đồng ý hay chấp nhận thực phẩm (được mang lại để dâng cúng) vào ngày hôm sau và hôm sau đó nữa. Cả hai hạng tỳ-kheo sau bỏ lỡ hoặc bỏ mất đi thú vui của đời sống độc lập hay đời sống tự tại.”1 Các bạn biết là đôi lúc tôi không thể làm những gì tôi muốn làm vì tôi đã nhận lời mời của ai đó và tôi phải có mặt tại nơi đó. Ý nghĩa muốn nói ở đây là giống như vậy. “Cả hai hạng tỳ-kheo sau bỏ lỡ hoặc bỏ mất đi thú vui của đời sống độc lập hay đời sống tự tại. Có lẽ có một buổi thuyết giảng về những di sản của các bậc thượng nhân tại một thị trấn nào đó. Vị hành theo bậc thượng nói với hai vị còn lại rằng: ‘Này các đạo hữu, chúng ta hãy lên đường và lắng nghe Giáo Pháp’. Một trong hai vị còn lại nói rằng: ‘Bạch ngài, một cư sĩ đã bảo tôi phải ngồi (và đợi) ở đây,’ và vị còn lại nói rằng: ‘Bạch ngài, tôi đã đồng ý hay đã hứa sẽ nhận vật thực ngày mai rồi ạ.’ Cho nên, cả hai vị đó là những người mất mát, những người thiệt thòi hoặc những người thua kém.” Cả hai đã không có được cơ hội đi thính Pháp. “Vị còn lại (ND: tức là vị hành theo bậc thượng) cứ đi khất thực vào buổi sáng và rồi vị đó đi tận hưởng hương vị của Pháp Bảo.”2 Chúng ta hãy đọc về các lợi ích. “Thật ra, vị đó thực hành hòa hợp với nhu yếu phẩm này do bởi câu nói ‘Xuất gia phụ thuộc vào việc sử dụng đồ khất thực’; vị đó an trú vào loại di sản thứ hai của các bậc Thượng Nhân; sự tồn tại của vị đó độc lập hay không lệ thuộc vào những người khác; nó là loại nhu yếu phẩm được khuyến dạy bởi Đức Thế Tôn như sau ‘Không có giá trị, dễ kiếm, không bị chê trách’; sự biếng nhác được loại bỏ; việc nuôi mạng được thanh tịnh; sự thực hành các giới điều thứ yếu của Giới Bổn Pāṭimokkha được hoàn thiện (Những giới điều thứ yếu này nói rằng các bạn phải đi khất thực. Khi các bạn đi khất thực, các bạn phải chánh niệm); vị đó không do một người khác nuôi sống (tức là vị đó không lệ thuộc vào một người khác); vị đó giúp đỡ những người khác; sự kiêu mạn được từ bỏ; sự ham muốn các vị chất được chế ngự; các giới điều (1) về việc ăn theo nhóm, (2) về việc thay thế một lời mời đến bữa ăn với một lời mời khác, và (3) về hạnh kiểm tốt, không bị vi phạm.” Ở đây cũng vậy, dịch giả (ND: tức là ngài Ñāṇamoli) hiểu sai một từ. Câu văn này nói đến ba giới điều hay ba điều luật dành cho các tỳ-kheo. Điều luật thứ nhất nói rằng, nếu một nhóm các tỳ-kheo được mời, họ phải không được đi chung thành một nhóm đến nhận vật thực. Họ được phép đi từng người một, chứ không được đi thành một nhóm. ‘Một nhóm’ ở đây có nghĩa là bốn vị tỳ-kheo hay nhiều hơn. ‘Việc thay thế một lời mời đến bữa ăn với một lời mời khác’ có nghĩa là nhận lời mời sau. Ví dụ, một ai đó đến gặp tôi và mời tôi dùng vật thực. Rồi một người khác đến (sau) và mời tôi dùng vật thực. Nếu tôi chấp nhận lời mời thứ hai và rồi nhận vật thực từ người thứ hai, thì tôi vi phạm điều luật này. Đó là ý nghĩa muốn nói ở đây. ‘Thay thế’ ở đây có nghĩa là không nhận vật thực từ người thứ nhất mà lại đi nhận vật thực từ người thứ hai. Đó là lý do tại sao chúng tôi phải cẩn thận với những lời thỉnh mời. Việc này phải được thực hiện theo quy tắc ai thỉnh mời trước thì chấp nhận lời thỉnh mời đó. Chúng tôi không được phép thiên vị, bỏ lời thỉnh mời trước để nhận lời thỉnh mời sau. ‘Hạnh kiểm tốt’ thì thật ra không phải là hạnh kiểm tốt. Ngài Ñāṇamoli đã hiểu nhầm từ ‘carita’. Có một điều luật cấm các tỳ-kheo thăm viếng các gia đình trước hoặc sau khi dùng vật thực tại một tư gia. Giả sử tôi được thỉnh mời dùng vật thực tại một tư gia. Trước khi dùng vật thực tại tư gia đó, tôi phải không được viếng thăm một tư gia khác. Và sau khi dùng vật thực tại tư gia đó, tôi phải không được viếng thăm một tư gia khác. Nếu tôi muốn viếng thăm, tôi phải thông báo cho một vị tỳ-kheo khác biết – “Bạch ngài, tôi sẽ viếng thăm tư gia đó.” Nếu vị đó có thông báo với một vị tỳ-kheo khác ở gần, thì việc đó là không sao. Nếu không có vị tỳ kheo nào gần để thông báo hoặc vị đó không thông báo gì cả, trước hoặc sau khi dùng vật thực tại tư gia được mời, thì vị đó phạm luật. Điều luật này trong Pāḷi được gọi là ‘carita’. ‘Carita’ có thể có nghĩa là hạnh kiểm tốt. Nó cũng có nghĩa là đi đây đi đó. Ở đây dùng nghĩa thứ hai, tức là thăm viếng. Việc vi phạm ba điều luật này được đề cập đến ở đây – nhận vật thực theo nhóm, chấp nhận lời thỉnh mời sau, và thăm viếng các tư gia (khác) trước hoặc sau khi dùng vật thực tại tư gia thỉnh mời (dùng vật thực). Nếu các bạn đi khất thực hằng ngày, thì các bạn không phải lo lắng về bất kỳ điều nào trong số ba điều luật này. Các bạn sẽ không vi phạm bất kỳ điều nào trong số ba điều luật này vì các bạn không chấp nhận các lời thỉnh mời, mà các bạn chỉ đi khất thực mà thôi. Như vậy, không có việc vi phạm các điều luật này nếu các bạn hành trì hạnh đầu đà đi khất thực hằng ngày. 5. Hạnh Khất Thực Từng Nhà Hạnh đầu đà tiếp theo là hạnh khất thực từng nhà. Điều đó có nghĩa là nếu vị tỳ-kheo thực hành hạnh đầu đà này, vị đó phải không được bỏ qua một nhà nào. Giả sử vị đó đi khất thực trên một con đường. Nếu có mười căn hộ trên con đường đó, vị đó phải dừng lại trước cả mười căn hộ. Vị đó phải dừng lại trước từng căn hộ. Vị đó phải không được bỏ qua căn hộ nào để đi đến căn hộ tiếp theo. Đó là ý nghĩa của cụm từ ‘khất thực từng nhà’. Chú giải sư ở đây có trình bày một lời khuyên. Trước hết, vị đó phải nhìn kỹ xem con đường có rộng thoáng không hoặc có an toàn không. Nếu nó chật chội hoặc không an toàn, vị đó phải nên đi con đường khác. Nếu vị đó ngày nào cũng không nhận được vật thực từ một ngôi nhà cố định nào đó hoặc một vài ngôi nhà cố định nào đó, vị đó có thể xem những ngôi nhà đó là ‘không phải là nhà’. Vị đó có thể bỏ qua những ngôi nhà đó bởi vì họ không dâng cúng vật thực cho vị đó ngày nào cả. Trong trường hợp đó, vị đó có thể bỏ qua. Chúng ta hãy xem các lợi ích trong đoạn văn 33 khoảng ở hàng thứ ba hay thứ tư. “Vị đó tránh được những nguy hại trong việc được hỗ trợ bởi một gia đình.”1 Câu này là không đúng ở đây. Ngài (ND: tức là ngài Ñāṇamoli) luôn luôn mắc lỗi này. “Vị đó tránh được những nguy hại trong việc thường xuyên lui tới các gia đình.” Một tỳ-kheo lui tới các gia đình được xem là một tỳ-kheo xấu, một tỳ- kheo có hạnh kiểm không tốt. Nhưng nếu vị đó đi bát khất thực, vị đó không phải thăm viếng họ. Vị đó tránh được nguy hại của việc thân mật với những gia đình hay những cư sĩ tại gia.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.14/5/2024.

Thursday, March 14, 2024

Buddha's teachings on filial piety in the Nikaya Canon. Buddhist disciples, whether ordained or lay, whether in the East or the West, even those who do not follow Buddhism, must all be filial to their parents and respect their ancestors. That is the sacred beauty through generations of Buddhists in particular and everyone in the world in general. Remembering to think about the merit of birth and upbringing, the Buddha taught his disciples to show filial piety in both material and spiritual terms through a number of sutras in the Nikāya canon. . Keywords: Buddha, filial piety, Nikāya scriptures. SOME TYPICAL SUTRAS IN THE NIKĀYA Canon TALK ABOUT REPENDING GRATITUDE TO PARENTS First is the Fire Sutta, the Buddha clearly pointed out seven fires including the fire of greed, the fire of anger, the fire of ignorance, the fire of wood, and the fire of worthy people. Respect, the homeowner's fire, your fire is worthy of offerings. Among them, the fire of greed, the fire of anger, and the fire of ignorance are the three fires of afflictions that burn living beings in the cycle of birth and death, so they need to be destroyed and avoided. Wood fire is a fire used in daily activities that needs to be rekindled regularly, stored in a dry place and extinguished immediately after cooking. On the contrary, the three fires that bring true happiness include the fire worthy of respect, the fire of the homeowner, and the fire worthy of offerings, which must be kept lit [1]. Among them, the fire worthy of respect includes grandparents, parents, virtuous people, etc. In particular, parents are the ones who have contributed to giving birth and raising us to become human beings, to build a career, and to start a family. family for us. That is why, Buddhist disciples in particular and everyone in society in general must be filial and take care of their parents. Do not kill your father or harm your mother, which would lead to the five transgressions, which will be punished by the law, and people will despise and distance you from you. avoid. Second is the Sutta Equal to Brahma, the Buddha teaches that if a family has children who respect and take care of their parents, "those families are accepted as equal to Brahma. Those families, Bhikkhus, in which children pay homage to their parents at home, are accepted like the Masters of ancient times. Those families, Bhikkhus, in which children pay homage to their parents in the house, are accepted as worthy of offerings. Brahma, monks, is synonymous with parents. The ancient Masters, monks, are synonymous with parents. Worthy of offerings, monks, is synonymous with parents. Why? Very helpful, monks, are parents to their children, raising them, nurturing them, introducing them to life" [2]. My parents were the first teachers who taught me before going to school, who worked hard day and night to earn every penny to take care of my education and become famous. Parents are compared to "two Buddhas in the house", people who deserve to be nurtured, respected, cared for and loved. A Buddhist devotee makes offerings to support the monks and nuns' monastic life, or organizes volunteer trips to help many unfortunate lives, poor students, ... then we also need to fulfill the filial duty of a child to our parents physically and mentally when they are alive or have passed away. The third is the Earth Sutra, where the Buddha teaches monks and lay people to repay their parents materially: "If one shoulder carries the mother, monks, if one shoulder carries the father, do so for a hundred years. , up to a hundred years old; If you massage, anoint, bathe, rub, and oil there, even if your mother and father urinate and defecate, then, Bhikkhus, you have not done enough or paid back enough gratitude to your mother and father. Furthermore, Bhikkhus, if one were to place one's parents in a kingdom with supreme power, on this great earth with these seven treasures, then, Bhikkhus, one would not have done enough or repaid enough gratitude to one's mother and father. dad. Why? Because, Bhikkhus, parents have done a lot for their children, raised them, brought them up, introduced them into this life" and repaying the spiritual gratitude is "who has no faith in their parents?" , encourage and guide them to stay in faith; For mothers and fathers who follow the evil precepts, encourage, guide, and establish them in the good precepts; For greedy parents, encourage, guide, and rely on them to give alms; towards mothers and fathers according to evil wisdom, encourage, guide, and establish them in wisdom" [3]. The son who does this fully is able to repay the kindness of his mother and father in this life. The fourth is the Sutra on Filial piety and respect for one's mother and the Sutra on Filial piety and respect for one's father. The Buddha compares people who are filial to their parents as if the soil in the tip of his fingernails is very little compared to the rest of the people on this earth: "Less than are sentient beings who have filial piety towards their mother. And more are living beings who are not filial to their mothers... Less are living beings who are filial to their fathers. And more than that, sentient beings do not respect their father" [4]. Faced with children scolding, beating, and being disrespectful to their parents; even engaging in social pleasures such as gambling, betting, racing, prostitution, drug trafficking, etc., causing parents immense pain both physically and mentally when their children do not follow their careers. good. Fifth is the story of the Buddha's Past Lives, typically in the Bird's Nest Sutra (Previous Birth Story No. 31: Kulāvaka's Past Lives), the Bodhisattva thoroughly practiced the seven vows including serving his mother and serving his father. , respect the eldest brother, speak the truth, do not speak harsh words, do not speak slander, suppress greed: One who nurtures mother and father, Respects the family leader, Speaks kindly and lovingly, Gives up words slander, Nhiep is greedy to tell the truth, Anger is controlled, The Thirty-three Devas are called true people [5]. In Buddha Shakyamuni's past lives, most of him was born in good lives and did blessed deeds such as taking care of his parents, respecting family members, speaking kind words, subduing all greed,... become a respectable person and be born in a peaceful heaven. THE HAPPINESS OF THE BUDDHA AND SOME OF THE BUDDHA'S DISCIPLES Regarding the Buddha, he said to the Bhikkhus: "Bhikkhus, in any previous life, in any existence, in any place, the previous Tathagata to be steadfast and unwavering towards good dharmas, Good actions of the body, good actions of the mouth, good actions of the mind, discerning almsgiving, keeping the precepts, observing Bodhisattva rituals, filial piety to mother, filial piety to father, offerings to monks, offerings to grandmothers brahmins, respect the elders in the family, and all other supreme beings. With the impact, accumulation, accumulation and increase of that karma, after the body breaks up after death, one is reborn in a good realm, in Heaven or in this life" [6]. After hearing the news that King Suddhodana was sick, the Buddha and the monks returned to Kapilavatthu to preach to the king about the impermanence of life, the harmful effects of clinging to self and being confused in the sea. suffering. Thanks to the loving energy of an enlightened being, the king's father calmly listened to the Buddha's teachings and practiced it himself, so he attained Arhatship. After the king passed away, it was Buddha who carried his father's coffin to the crematorium and directly performed the cremation ceremony for King Tinh Phan. The Buddha ascended to the Dao Loi heaven to preach the Ksitigarbha Sutra to the Holy Mother Ma Da (Māyā). In addition, He also allowed his mother Kieu Dam Di (ie Ma Ha Ba Xa Ba De, Mahā Pajāpati Gotami), Princess Da Du Da La (Yasodhara) and 500 women of the Thich family to become monks and nuns. practice and practice the Eightfold Dharma. Since then, the Nuns' Order was formed and together with the Sangha, it propagated the Dharma throughout India and spread it throughout the countries as it is today. For the Venerable Maudgalyayana, out of pity for his mother Thanh De who had fallen into the realm of hungry ghosts, Moggallāna offered a bowl of rice to her mother. At that time, Mrs. Thanh De said: Use your left hand to cover your right so you can eat. The original stinginess of money has not ended, Afraid that ghosts will rob her. Before the rice reaches the mouth, it turns into fire and swallows it but it doesn't work [7]. Heartbroken by that scene, the Venerable Maudgalyayana went to ask the Buddha to teach him a method to save his mother from the suffering of hungry ghosts. The Buddha taught the Venerable monks to make offerings to the monks of the ten directions on Tu Tu day (July 15), because that was the day when the Buddhas were happy and the monks and nuns were able to gain an additional year of age [8] after three years. During the summer retreat month, we practice the three teachings of anasrava. Thanks to the compassionate energy and prayer merits of the Buddha and the great Sangha, Venerable Maudgalyayana's pure intention to make offerings; With Ms. Thanh De's repentant mind and following the Dharma, she helped Ms. Thanh De escape the suffering of hungry ghosts. This is also the cause for the later Vu Lan festival of Buddhism. As for Venerable Sāriputta, before entering nirvana, Sāriputta asked the Buddha for permission to visit his homeland and save his mother Sāriputta, who was about 100 years old. After meeting his mother, the Venerable became ill, making Mrs. Xa Loi restless and worried. That night, she visited the Venerable and in turn saw gods such as the Four Heavenly Kings, De Thich and Brahma King all coming to respectfully pay their respects and visit Sariputta; made her think to herself: "If my son has such great power that even heaven and people respect him, then how great and mighty is the World-Honored One" [9]. If before, She hated the Buddha and the Sangha, then immediately developed pure faith and reverence for the Buddha. On that occasion, Venerable Sariputta "step by step explained and praised the sublime merits of the World-Honored One through the aspects of morality, concentration, wisdom, liberation and liberating knowledge. Miraculously, as soon as the dharma talk ended, Ms. Xa Loi achieved pure dharma eyes, had unshakable faith in the World-Honored One, and attained the first stage of Sotapanna" [10]. After saving his mother Sariputra to awaken and enter the Holy lineage, Venerable Sariputta fulfilled the filial duty of a monk and then entered Nirvana. Regarding Venerable Tong Dien and Nhat Dinh in Vietnam, first of all, Venerable Tong Dien (also known as Venerable Cua) was worried in his heart: "If today I recognize my mother, I will take her to the temple to take care of her." , then the mother-child relationship will cause her to be possessive, dependent and contemptuous towards the monks. Mother still has the minds of sentient beings with all the habits of greed, anger, and ignorance, so how can they avoid losing their blessings? Like that, he loves his mother but unintentionally harms her. And if you don't accept your mother, leaving her alone forever in a lonely bar, wouldn't that be ungrateful and cruel? How can both ways be perfect? ​​The monk can be close and take care of his mother, guide her to practice according to the Dharma, without losing her blessings when using the gifts of faith and giving" [11]. Thus, Venerable Tong Dien silently saved his mother to practice meditation and be reborn in a peaceful realm. Second, Venerable Nhat Dinh left Giac Hoang Quoc Tu and established An Duong hermitage to take care of his seriously ill elderly mother. King Tu Duc learned and was moved by the filial piety and strict practice of Venerable Nhat Dinh, so he built a pagoda named "Tu Hieu" after the Venerable passed away. APPLICATION IN PRACTICAL LIFE In Dhammapada No. 332, it is taught that: Joyful, respecting the mother, Joyful, respecting the father, Joyful, respecting the Samana, Joyful, respecting the Sage! [twelfth]. For filial children, whether male or female, they also need to achieve filial piety both physically and mentally. In terms of material things, children must know how to take care of their parents when they are healthy as well as when they are old and sick; preserve family style; protect inheritance; and take care of the funeral when their parents pass away [13]. Spiritually, children will guide their parents to develop unwavering faith in Buddha, Dharma, and Monks (Nuns); knowing how to give alms and offerings; receive and maintain the Holy Precepts; and practice to gain wisdom. A typical example is the female laywoman Visakha who converted her father-in-law in particular and her family in general to the Three Jewels to practice and protect the Dharma. Therefore, regardless of whether we are biological children or sons-in-law, daughters-in-law, etc., we must be respectful, obey the advice of our parents and practice according to Buddha's teachings to become a virtuous child and also a role model. role model for future generations to follow. Regarding unfilial children, the Buddha taught: Whoever has a mother or father, is old and weak, their youth is gone, Even though they are rich, they do not help, It is the door to failure [14]. Like the image of King Ajātasattu killing his father Bimbisāra and imprisoning his mother Vaidehi; or the story of Venerable Maudgalyayana's past life about obeying his wife, taking his parents to the forest and setting up a fake robbery scene to beat his parents. After that, King Ajatasatru awakened from his wrongdoing and came to repent before Buddha, from then on practice Buddhism and rule the country and people. Likewise, Maudgalyayana's predecessor regretted when he witnessed the actions of parents protecting their children rather than protecting themselves when they heard the robbers chase them away, which moved him to repent and bring his parents back home to serve them. rest early in the day. It was because of his disloyalty in his previous life that the Venerable Maudgalyayana had to pay the karma of being killed by a pagan and entering Nirvana. In short, from ancient times to the present, even in the future, the word "filial piety" will always be the sacred cultural beauty of Buddhists in particular and people in the world in general. A child's duty is not only to take care of his or her parents while they are alive and bury them when they have passed away; but also guide parents to abide in good dharma, practice Faith - Giving - Precepts - Wisdom right in this life. A respectful son or a filial disciple must always strive to perfect his own morality, build family morality, develop social morality and achieve moral liberation in the future as Mau Tu once wrote. Ton: "Stay at home and be filial to your parents, go out to help the country and benefit the people, sit alone and repair your body and mind".End=Nam Mo Shakyamuni Buddha.( 3 Times ).Golden Zen Buddhist Monastery=Vietnamese Buddhist Nun=Venerable Nun=Thich Chan Tanh.Australia,Sydney.15/3/2024.Translate by Venerable Nun Thich Chan Tanh.
Lời Phật dạy về hạnh hiếu trong Kinh tạng Nikaya. người đệ tử Phật dù xuất gia hay tại gia, dù ở phương Đông hay phương Tây, thậm chí cho đến những người không theo đạo Phật, ai ai cũng đều phải hiếu thảo với mẹ cha, quý kính ông bà tổ tiên của mình. Đó là nét đẹp thiêng liêng qua các thế hệ của người con Phật nói riêng và tất cả mọi người trên thế giới nói chung. Nhớ nghĩ về công ơn sanh thành và dưỡng dục, Đức Phật đã dạy hàng đệ tử Phật phải báo hiếu một cách thù thắng cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần qua một số bản kinh trong kinh tạng Phật giáo Nguyên Thuỷ (Nikāya). Từ khoá: Đức Phật, hiếu hạnh, kinh tạng Nikāya. MỘT SỐ BẢN KINH TIÊU BIỂU TRONG KINH TẠNG NIKĀYA NÓI VỀ VIỆC BÁO ƠN ĐỐI VỚI CHA MẸ Thứ nhất là bài kinh Lửa, Đức Phật chỉ rõ bảy ngọn lửa gồm lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa củi, lửa những bậc đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa các vị đáng cúng dường. Trong đó, lửa tham, lửa sân, lửa si là ba ngọn lửa phiền não đốt chúng sanh trôi lăn trong sanh tử luân hồi nên cần phải đoạn tận và tránh xa. Lửa củi là ngọn lửa dùng trong sinh hoạt hằng ngày, cần thường xuyên nhen nhóm, bảo quản ở nơi khô ráo và dập tắt ngay sau khi nấu ăn xong. Ngược lại, ba ngọn lửa đem lại chánh lạc gồm lửa đáng cung kính, lửa gia chủ, và lửa đáng được cúng dường cần phải thắp sáng mãi [1]. Trong đó, ngọn lửa đáng cung kính gồm ông bà, cha mẹ, những vị đức độ,… đặc biệt, cha mẹ là người đã có công sanh thành và dưỡng dục chúng ta nên người, tạo dựng công danh sự nghiệp và lập gia đình cho chúng ta. Chính vì thế, người đệ tử Phật nói riêng và mọi người trong xã hội nói chung phải hiếu thảo và phụng dưỡng cha mẹ, đừng giết cha hại mẹ mà mắc tội ngũ nghịch, khiến pháp luật trừng trị, mọi người khinh chê và xa lánh. Thứ hai là bài kinh Ngang bằng với Phạm Thiên, Đức Phật dạy một gia đình nào mà có con cái hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ thì “những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường. Phạm Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Các Ðạo sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Ðáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời” [2]. Cha mẹ là vị thầy đầu tiên dạy cho minh trước khi đến trường, là người đã tảo tần sớm hôm, một nắng hai sương kiếm từng đồng tiền lo cho mình ăn học và thành danh chi mỹ. Cha mẹ được ví như “hai vị Phật trong nhà”, là người đáng được cung dưỡng, cung kính, chăm sóc và yêu thương. Một người con Phật phát tâm cúng dường hộ trì đời sống tu học của chư Tăng Ni, hoặc tổ chức các chuyến thiện nguyện giúp đỡ nhiều mảnh đời bất hạnh, các em học sinh nghèo,… thì mình cũng cần phải làm tròn bổn phận hiếu thảo của một người con đối với cha mẹ về mặt vật chất và tinh thần khi còn sống hoặc đã qua đời. Thứ ba là bài kinh Đất, Đức Phật dạy hàng xuất gia và tại gia báo ơn cha mẹ về mặt vật chất: “Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỳ kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này” và báo ơn về mặt tinh thần là “ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ” [3]. Người con làm một cách đầy đủ như vậy là đã trả được công ơn của mẹ và cha giữa cuộc đời này. Thứ tư là kinh Hiếu kính mẹ và kinh Hiếu kính cha, Đức Phật so sánh hạng người hiếu kính với cha mẹ như thể đất trong đầu móng tay của Ngài rất ít so với các hạng người còn lại trong trái đất này: “Ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ… Ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha” [4]. Trước cảnh con cái la mắng, đánh đập, bất hiếu với cha mẹ; thậm chí lao vào các thú vui của xã hội như cờ bạc, cá độ, đua xe, mại dâm, buôn bán ma tuý,… khiến cho cha mẹ đau đớn nghìn trùng về mặt thể xác lẫn tâm hồn khi con cái không theo nghiệp thiện. Thứ năm là chuyện Tiền thân Đức Phật, tiêu biểu như trong bài kinh Tổ con chim (Chuyện tiền thân số 31: Tiền thân Kulāvaka), Bồ tát thực hạnh một cách rốt ráo bảy điều thệ nguyện gồm hầu hạ mẹ, hầu hạ cha, kính trọng anh cả, nói lời chân thật, không nói lời thô ác, không nói lời vu cáo, nhiếp phục xan tham: Người nuôi dưỡng mẹ cha, Kính bậc trưởng gia đình, Nói từ hòa, ái ngữ, Từ bỏ lời vu cáo, Nhiếp xan tham nói thật, Phẫn nộ được chế ngự, Chư Thiên Ba mươi ba Gọi là bậc Chân nhân [5]. Trong tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đa phần Ngài sanh vào kiếp thiện làm những việc phước lành như chăm sóc mẹ cha, tôn kính người thân trong gia đình, nói lời ái ngữ, nhiếp phục mọi xan tham,… trở thành bậc chân nhân đáng kính, sanh về cõi trời an lành. HẠNH HIẾU CỦA ĐỨC PHẬT VÀ MỘT SỐ VỊ ĐỆ TỬ PHẬT Đối với Đức Phật, Ngài nói với chúng Tỳ kheo rằng: “Này các Tỳ kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa môn, cúng dường Bà la môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này” [6]. Sau khi nghe tin vua Tịnh Phạn (Suddhodana) bệnh, Đức Phật và cùng chư Tăng về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) thuyết cho vua hiểu về lẽ vô thường của cuộc đời, tác hại của việc chấp ngã và mê lầm trong biển khổ đau. Nhờ năng lượng tình thương của một đấng giác ngộ, vua cha an trú tâm lắng nghe lời Phật dạy và thực hành tự thân nên đã chứng đắc quả A la hán. Sau khi vua băng hà, chính Đức Phật là người đã khiêng quan tài của vua cha đến đài hoả táng và trực tiếp làm lễ hoả táng cho vua Tịnh Phạn. Đức Phật đã lên cung trời Đao Lợi thuyết kinh Địa Tạng độ Thánh mẫu Ma Da (Māyā). Ngoài ra, Ngài còn cho phép di mẫu Kiều Đàm Di (tức bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Mahā Pajāpati Gotami), công chúa Da Du Đà La (Yasodhara) và 500 người nữ dòng họ Thích xuất gia làm Tỳ kheo ni tu tập và thực hành Bát kỉnh pháp. Từ đó, Ni đoàn được hình thành và cùng với Tăng đoàn hoằng pháp khắp xứ Ấn Độ và truyền khắp các quốc gia như hiện nay. Đối với Tôn giả Mục Kiền Liên, vì xót thương thân mẫu Thanh Đề đoạ lạc khổ đau trong cảnh ngạ quỷ nên ngài Mục Kiền Liên (Moggallāna) dâng bát cơm cho mẹ. Khi đó, bà Thanh Đề bèn: Tay tả che đậy hữu hầu bốc ăn. Lòng bỏn sẻn tiền căn chưa dứt, Sợ chúng ma cướp giựt của bà. Cơm đưa chưa đến miệng đà, Hoá thành than lửa nuốt mà đặng đâu [7]. Đau xót trước cảnh đó, Tôn giả Mục Kiền Liên về thỉnh Đức Phật dạy phương pháp nào cứu mẫu thân thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ. Đức Phật dạy Tôn giả thiết lễ cúng dường mười phương Tăng vào ngày Tự tứ (tức ngày 15 tháng 7), vì đó là ngày chư Phật hoan hỷ, chư Tăng Ni được thêm một tuổi hạ (hạ lạp) [8] sau ba tháng an cư kiết hạ tịnh tu tam vô lậu học. Nhờ năng lượng từ bi và phước đức cầu nguyện của Đức Phật và đại chúng Tăng, việc phát tâm cúng dường thanh tịnh của Tôn giả Mục Kiền Liên; cùng với tâm hối cải quy hướng chánh pháp của bà Thanh Đề đã giúp bà Thanh Đề thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ đau. Đây cũng là duyên khởi cho lễ hội Vu Lan của Phật giáo về sau. Đối với Tôn giả Xá Lợi Phất, trước khi nhập diệt, ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta) xin phép Đức Phật về thăm quê hương và hoá độ mẫu thân Xá Lợi khoảng 100 tuổi. Sau khi gặp mẫu thân, Tôn giả bệnh khiến cho bà Xá Lợi bồn chồn, lo lắng. Đêm đó, bà đến thăm Tôn giả và lần lượt thấy các vị trời như Tứ Thiên Vương, Đế Thích cho đến Phạm Thiên Vương đều đến cung kính đảnh lễ và thăm ngài Xá Lợi Phất; khiến bà tự nghĩ thầm rằng: “Nếu con của ta mà có oai lực lớn đến trời người đều cung kính như vậy thì Đấng Thế Tôn oai lực vĩ đại đến dường nào” [9]. Nếu trước kia, bà oán ghét Đức Phật và Tăng già thì bấy giờ liền phát khởi niềm tịnh tín cung kính Đức Phật. Nhân đó, Tôn giả Xá Lợi Phất đã “tuần tự giải thích và xưng tán công đức siêu tuyệt của Thế Tôn qua các phương diện giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Thật diệu kỳ, khi pháp thoại vừa chấm dứt thì bà Xá Lợi thành tựu pháp nhãn thanh tịnh, tin tưởng bất động vào Thế Tôn, chứng đắc sơ quả Tu đà hoàn” [10]. Sau khi hoá độ mẫu thân Xá Lợi thức tỉnh và nhập vào dòng Thánh, Tôn giả Xá Lợi Phất đã làm tròn bổn phận hiếu đạo của một người xuất gia và sau đó nhập diệt Niết bàn. Đối với Hoà thượng Tông Diễn và Nhất Định tại Việt Nam, trước hết là Hoà thượng Tông Diễn (hay còn gọi là Hoà thượng Cua) đã ưu tư trong nội tâm: “Nếu hôm nay Sư nhận mẹ, đưa mẹ về chùa phụng dưỡng, thì tình cảm mẹ con sẽ khiến bà sinh tâm chiếm hữu, ỷ lại và khinh mạn đối với chư Tăng. Mẹ vẫn còn tâm chúng sinh với đủ tật tham, sân, si sao khỏi tổn phước; như thế thương mẹ mà vô tình làm hại mẹ. Còn nếu không nhận mẹ con, để mẹ cứ mãi cô đơn nơi quán nước hiu quạnh, thì chẳng hóa ra bạc bẽo, tàn nhẫn lắm sao? Làm thế nào trọn vẹn cả đôi đường, Sư có thể gần gũi chăm sóc mẹ, hướng dẫn mẹ tu hành theo chánh pháp, mà mẹ không tổn phước khi sử dụng của tín thí đàn na” [11]. Thế là, Hoà thượng Tông Diễn đã thầm lặng hoá độ mẫu thân tu tập chốn thiền môn và vãng sanh về cảnh giới an lành. Thứ đến là Hoà thượng Nhất Định đã rời Giác Hoàng Quốc Tự mà lập am An Dưỡng để phụng dưỡng mẹ già bệnh nặng. Vua Tự Đức tìm hiểu và cảm động trước tấm lòng hiếu thảo và tu hành nghiêm mật của Hoà thượng Nhất Định nên đã cho xây dựng ngôi chùa mang tên “Từ Hiếu” sau khi Hoà thượng viên tịch. ỨNG DỤNG VÀO TRONG ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN Trong Kinh Pháp cú số 332 dạy rằng: Vui thay, hiếu kính mẹ, Vui thay, hiếu kính cha, Vui thay, kính Sa môn, Vui thay, kính Hiền Thánh! [12]. Đối với những người con hiếu thảo dù là nam hay nữ cũng cần phải thành tựu báo hiếu về vật chất lẫn tinh thần. Về phương diện vật chất, người con phải biết phụng dưỡng cha mẹ khi mạnh khoẻ cũng như lúc già yếu, bệnh tật; giữ gìn gia phong; bảo vệ tài sản thừa tự; và lo tang lễ chu toàn khi cha mẹ qua đời [13]. Về phương diện tinh thần, người con sẽ hướng cha mẹ phát khởi niềm tin bất động đối với Đức Phật, chánh pháp, chư Tăng (Ni); biết bố thí và cúng dường; thọ trì Thánh giới; và tu tập đạt được trí tuệ. Tiêu biểu như nữ cư sĩ Tỳ Xá Khư (Visakha) hoá độ người cha chồng nói riêng và gia đình nhà chống nói chung quy hướng về Tam bảo tu tập và hộ trì chánh pháp. Chính vì thế, bất luận là con ruột hay con rể, con dâu,…, chúng ta phải hiếu kính, vâng lời khuyên dạy của cha mẹ và tu tập theo lời Phật dạy để trở thành một người con đạo đức và cũng là mẫu hình gương mẫu cho thế hệ con cháu mai sau tiếp bước noi theo. Đối với những đứa con bất hiếu, Đức Phật dạy rằng: Ai với mẹ hay cha, Già yếu, tuổi trẻ hết,, Tuy giàu, không giúp đỡ, Chính cửa vào bại vong [14]. Như hình ảnh vua A Xà Thế (Ajātasattu) giết phụ hoàng Tần Bà Sa La (Bimbisāra) và giam lỏng mẫu hậu Vi Đề Hi (Vaidehi); hoặc câu chuyện tiền kiếp của Ngài Mục Kiền Liên về việc nghe lời vợ mà chở cha mẹ lên rừng và dựng hiện trường giả có cướp để đánh đập cha mẹ. Sau đó, vua A Xà Thế đã thức tỉnh việc làm sai trái của mình mà đến sám hối trước Phật, từ đó tu tập Phật pháp và trị quốc an dân. Cũng vậy, tiền thân Mục Kiền Liên hối hận khi chứng kiến hành động cha mẹ bảo vệ con hơn là bảo vệ bản thân khi nghe giặc cướp đánh đuổi, khiến ông cảm động sanh tâm hối hận và đưa cha mẹ về lại nhà mà phụng dưỡng sớm hôm. Chính sự bất hiếu trong tiền kiếp mà Tôn giả Mục Kiền Liên phải trả nghiệp báo bị ngoại đạo giết và nhập Niết bàn. Tóm lại, từ ngàn xưa đến nay, thậm chí mai sau, chữ “Hiếu” mãi luôn là nét đẹp văn hoá thiêng liêng của người con Phật nói riêng và mọi người trên thế giới nói chung. Bổn phận người con không những phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống và mai táng cha mẹ đã qua đời một cách vẹn toàn; mà còn hướng dẫn cha mẹ an trú trong thiện pháp, thực hành Tín – Thí – Giới – Tuệ ngay trong cuộc sống này. Một người con hiếu kính hay một đệ tử hiếu đạo phải luôn nỗ lực hoàn thiện đạo đức tự thân, xây dựng đạo đức gia đình, phát triển đạo đức xã hội và thành tựu đạo đức giải thoát trong tương lai mà Mâu Tử từng sách tấn rằng: “Ở nhà hiếu với mẹ cha, ra đường giúp nước lợi dân, ngồi một mình tu sửa thân tâm”.Het=Nam Mo Bon Su Thich Ca Mau Ni Phat.( 3 lan ).Thien Vien Kim Lien.Australia,Sydney.15/3/2024.Thich Nu Chan Tanh.

Sunday, February 25, 2024

Thich Trung Sy Dharmacakkhu We practice together. Awaken the Buddha nature from the heart. Aim to praise the Buddha Dharma. Compassion and perfect wisdom. . Everywhere in urban and rural areas, the world is prosperous and long lasting. Everyone who practices Buddhism in Lien Chau worships the World-Honored One..End= Nam Mo SHAKYAMUNI BUDDHA.(3 Times ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY.VENERABLE THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.26/2/2024.
Thích Trừng Sỹ Dharmacakkhu Chúng con cùng nhau tu tập Khơi dậy Phật tánh từ tâm Hướng về tán dương Phật Pháp Từ bi, trí tuệ viên thành. . Khắp nơi thành thị, nông thôn, Thế giới thịnh vượng, trường tồn Mọi người tu theo Phật giáo Liên Châu quy ngưỡng Thế Tôn..

Sunday, February 11, 2024

The meaning of welcoming Maitreya Spring. 1- Maitreya Spring Lunar New Year according to the cultural traditions of Vietnam, China or other Asian countries in general is the first day of the first lunar month, coinciding with the birth day of Maitreya. Spring is associated with the virtues of compassion and wisdom of a Bodhisattva named Maitreya - the future Buddha appearing in this world. Maitreya means Tu Thi, which means great compassion, bringing happiness to sentient beings. He has spent many lives manifesting countless forms in human life to preach liberation. Maitreya's wish is to turn a world of suffering and crime into a peaceful life; transform a chaotic world into a world of harmony; transform the impure world into the Pure Land. Maitreya's ideal is to save suffering and bring joy, always guiding humanity to a beautiful future, building a truly happy life. For that reason, spring is called Maitreya Spring, which is the common wish of everyone. 2- Maitreya Buddha statue model The Maitreya Buddha statue model that is popular everywhere is the portrait of the Great Venerable Father, whose name is Khe Thu - one of the incarnations of Maitreya Bodhisattva appearing at Nhac Lam Pagoda, district Fenghua, Zhejiang province - China. His face always has a tolerant smile, long ears, big belly and chest, holding a meditation staff and cloth bag. Maitreya Buddha in everyone's memory is the joyful Buddha, this image exudes happiness and luck, very worthy of a spring symbol. The smile on Maitreya Buddha's face shows immeasurable kindness, regardless of age or gender, everyone who sees this face wants to smile. The appearance of long ears shows kindness to everyone, ears that are good at listening, happy with every sound, everyone who praises them, smiles, everyone who criticizes and scolds them, they also laugh, being at ease with all attitudes of people. The appearance of a big belly shows that Maitreya Buddha has great compassion, tolerant of everything in the world. For the wise and the foolish, the rich and the poor, the rich and the poor, He has an egalitarian mind without attachment. The chest is open, showing the strength of courage, sincerity, and incomparable equality. The cloth bag represents the containment of countless wonderful dharmas, giving away what is available to sentient beings. History records that: Whenever he got something for alms, he often redistributed it to others. Therefore, every time children see Him, they gather around to receive food and play happily. That image was later portrayed through a statue of Him sitting and smiling freely with six children climbing on top of him and playing innocently. 3- The Venerable's Father Based on "Minh Chau Phung Hoa Street, Khe Thu District", the story records that: The Venerable's appearance often carried a cloth bag around the world, people used to call him the Great Venerable's Father. He called himself Khe Thu, from Minh Chau, Phung Hoa district, China. This strange monk, his mouth often smiles, his belly is very big, he speaks animatedly, and wherever he goes, he uses land to build a house to sleep and rest. He walked here and there aimlessly, depending on the place to be at peace, sometimes burying himself in the snow and sleeping. Snow does not cling to the body, living a very carefree life. At that time, a layperson named Tran asked him: What is the Dharma name of the Venerable? He immediately replied: "The self is one and the same, the void has no obstacles. Having opened the ten directions, enter the time of contemplation and freedom." Meaning: "I only have a cloth bag, like empty space. Open and cover all ten directions, enter and feel free." This magical cloth bag is called "Hundred treasures of the universe." – a bag containing all the treasures in heaven and earth. He often carried this cloth bag, putting all his personal possessions and food items in it, so he was called the Great Venerable Father. Layman Tran asked again: Does the Venerable have any luggage? He spoke verses and replied: "The entire Sanskrit family of the eight heavens, alone and alone, travel thousands of miles." Thanh mu dou nhan thieu, lingered on white cloud head." Roughly translated: “A bowl of rice is shared with thousands of families, and friends are friends many miles away. Blue eyes look so human, white clouds ask for directions.” The Venerable Father's behavior is extremely generous, his life is free of attachments, he is in harmony with nature, heaven and earth, he is in harmony with everyone with compassion without attachment. The Great Venerable Father, depending on the time, when he meets someone who has an affinity with the Buddha Dharma, he will explain the principles of Zen. "Photo of Duc Truyen Dang Luc" - volume 27 says: Once the Venerable walked behind a monk, patted his shoulder and said: "Give me a silver coin". The Zen monk said: "Tell me the truth, I will give you money." He immediately put down the cloth bag, rubbed his hands and stood. Another day, a Venerable named Bach Luc asked: "What is Bo Dai?" He immediately let go of the cloth bag. Again asked the Great Venerable Father: "What does it mean for you to do that?". He immediately picked up the cloth bag and left. The act of letting go and carrying a cloth bag is the introduction to meditation of a wise person who has realized the truth. Letting go and grasping are both free, not attached to the signs of both sides: Existence and Emptiness, Birth and Death and Nirvana, etc. The practitioner Achieve such a mind, integrate the truth of the middle path, and freely enter the world to save lives. There was once a time when the Great Venerable Bo told a Zen monk a verse explaining the essence of the Buddha Dharma to directly perceive the true mind, saying: "Only the Tam Tam Tam shows the Buddhas of the Ten Directions, the dark world mascots, the Tung Chi, can be used." All beings are not necessarily the same as the true mind..." Roughly translated: "Mind, Mind, Mind is Buddha. Magical magic throughout the ten directions. Capable of all things, Everything is beyond the true mind..." In the third year of Luong Trinh Minh (917), the Venerable Khe Thu passed away at Nhac Lam Pagoda, he sat on a rock and passed away peacefully. When he was about to pass away, he recited a verse: "Maitreya's true name is Maitreya, his clones are hundreds of billions of billions." The time is the time, the time is the cause, the time the cause is unconscious.” Roughly translated: "I am Maitreya, manifesting thousands of bodies. Often we teach people, but people don't know." After he finished speaking, people learned that this wandering Venerable was the reincarnation of Maitreya Bodhisattva. Later, in other places, people still saw monks with the appearance of the Great Venerable Bo, carrying a cloth bag on his shoulder, leisurely walking on the road. At Nhac Lam Pagoda, the relics of Bo Dai Venerable's body named Khe Thu are still preserved. 4- Maitreya belief Maitreya Buddha is a Bodhisattva revered by many peoples, Maitreya belief is popular not only in China and India but all other countries. Maitreya is the future Buddha, originating from India, from the mystical scriptures about the appearance of a future Buddha savior. In fact, in terms of the actual history of Buddhism, China's first belief was not Avalokiteshvara or Amitabha but the belief in Maitreya Buddha. At the beginning of the Han Dynasty in China, scriptures related to Maitreya Buddha were translated a lot. The idea of ​​praying for birth in Maitreya Pure Land appeared during this period. The belief in Maitreya is received with great reverence by the Chinese, this is clearly recorded in the inscription: "Mai Mait Hoi Kien Ky" in Xinjiang China. Based on «Tu Tri Thong Giam» - in the historical text, it is recorded that: In the early years of the Tang Dynasty, this belief was very popular, Master Xuanzang was the first figure to worship Maitreya belief, this It was also the motivation that prompted Huyen Tsang to study abroad in India and study the content of the work "Yoga Master Dialect" thoroughly. Bach Ju Yi (772-846), a poet of the Tang Dynasty, organized a study conference, called "Nhat Thoi Thuong Thang Association", the purpose of which was to pray for rebirth in the realm of Maitreya. Bach Cu Di wrote in his letter of determination: "Looking forward to Tu Thi's appearance, calling Tu Thi's name, wishing to come to the next world and be reborn at the right time." Meaning: "Admiring the statue of Maitreya, reciting Maitreya's name, praying that I will end my life and be born in Maitreya Pure Land." According to Dharma Master Huyen Trang, Maitreya means Tu Thi; But Maitreya is translated according to sound, Tu Thi is translated according to the meaning of a word Maitreya (Sanskrit). Before the Tang Dynasty, Maitreya belief was very popular, but from the middle of the Tang Dynasty onwards, it gradually faded away. Because that belief gives Chinese people a desire to look forward to the future with a sense of freedom and happiness, protesting the brutality of the current regime. Therefore, the Chinese ruling class at that time did not accept that ideological influence. Emperor Huyen Tong ordered a ban on spreading Maitreya beliefs. To this day, the Maitreya belief is popular in all countries because this Buddha symbolizes the idea of ​​peace. He made a great vow to become Buddha in this world in the future to bring liberation to humanity. 5- Welcoming Maitreya Spring From the awareness of Maitreya's behavior and morality, Buddhists welcome spring, go to temples to worship Buddha, perform good deeds, vow to practice, and eliminate afflictions and disasters. personal and family tribulations and pray for national peace and prosperity. This is a healthy concept that is consistent with the path to building human happiness. In an era where science prevails, people's materialistic tendencies are strong, and moral values ​​are crushed by the polluted conscience of sentient beings. From then on, conflicts and injustices arise between people, groups and groups, religions and religions, and country and country, leading to steadfast struggle. People who study Buddhism must realize that Buddhism always uses compassion and wisdom to neutralize sadness and hatred in the human world. Welcoming the Spring of Maitreya, people who study Buddhism do not have to go to the pagoda just to pray for blessings in their personal lives, such as money and fame, but must develop a broad mind to learn according to the vows of Maitreya Buddha. It is a heart that is attached to others, cultivates compassion and patience, strives to practice spirituality, spreads teachings to humanity, and helps reduce suffering in life. Everyone must always develop a mind to make good connections with the Three Jewels and cultivate the aspiration to Pray for Enlightenment. Welcoming the Maitreya spring like that can receive the source of Dharma happiness in Buddha's teachings.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ). GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY= VIETNAMESE BUDDHIST NUN=VENERABLE THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.11/2/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY = VENERABLE THICH CHAN TANH.
Ýnghĩa đón Xuân Di Lặc. 1- Mùa xuân Di Lặc Ngày Tết Nguyên Đán theo truyền thống văn hóa Việt Nam, Trung Quốc hay các nước Á Đông nói chung là ngày Mùng Một Tháng Giêng âm lịch, trùng hợp với ngày vía của Đức Di Lặc đản sanh. Mùa xuân gắn liền với đức hạnh từ bi và trí tuệ của một vị Bồ Tát có hiệu là Di Lặc – vị Phật tương lai xuất hiện trong cõi đời này. Di Lặc có nghĩa Từ Thị, là lòng từ bi rộng lớn, đem đến nguồn hạnh phúc cho chúng sanh. Ngài đã trải qua nhiều kiếp hóa hiện muôn vàn thân tướng trong đời sống con người để truyền đạo giải thoát. Hạnh nguyện của Đức Di Lặc là biến thế gian đau khổ và đầy tội ác thành cảnh sống an lạc; biến thế giới hỗn loạn thành thế giới đại đồng; biến thế gian ô trược thành cõi Tịnh Độ. Lý tưởng của Đức Di Lặc là cứu khổ ban vui, luôn hướng cho nhân loại đến một tương lai tuyệt đẹp, xây dựng nếp sống hạnh phúc chân thật. Vì lẽ đó, mùa xuân được mang tên là Xuân Di Lặc là tâm nguyện chung của mọi người. 2- Mẫu tượng Đức Di Lặc Mẫu tượng Phật Di Lặc được phổ biến khắp nơi là chân dung của Bố Đại Hòa Thượng, có hiệu là Khế Thử – một trong những hóa thân của Bồ Tát Di Lặc xuất hiện tại chùa Nhạc Lâm, huyện Phụng Hóa, tỉnh Triết Giang – Trung Quốc. Nét mặt Ngài luôn luôn nở nụ cười bao dung, lỗ tai dài, bụng to và phanh ngực, tay cầm thiền trượng và túi vải. Đức Phật Di Lặc trong ký ức mọi người là Đức Phật hoan hỉ, hình ảnh này toát lên niềm hạnh phúc và sự may mắn, rất xứng đáng cho biểu tượng mùa xuân. Tướng nụ cười trên gương mặt Phật Di Lặc biểu hiện vô lượng từ tâm, bất luận già trẻ gái trai, mọi người thấy gương mặt này đều muốn mỉm cười theo. Tướng lỗ tai dài biểu hiện lòng từ ái khắp cả mọi người, lỗ tai khéo biết nghe, hoan hỉ với mọi âm thanh, ai tán dương cũng cười, ai chỉ trích la mắng cũng cười, tự tại với mọi thái độ người đời. Tướng bụng to biểu hiện Phật Di Lặc có lòng từ bi rộng lớn, dung chứa mọi chuyện trong thiên hạ. Đối với kẻ trí người ngu, người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn, Ngài đều có tâm bình đẳng không chấp trước. Tướng ngực phanh ra, biểu hiện sức mạnh của lòng dạ can đảm chân thành, bình đẳng không hai. Túi vải biểu hiện sự chứa đựng vô lượng diệu pháp, bố thí những gì có được cho chúng sanh. Sử truyện chép rằng: Mỗi khi khất thực được vật gì Ngài thường phân phát lại cho người khác. Do vậy, trẻ con mỗi lúc thấy Ngài là xúm lại nhận thức ăn và chơi rất vui vẻ. Hình ảnh đó về sau được phác họa lại qua mẫu tượng Ngài ngồi cười tự tại có sáu trẻ con trèo lên trên thân mình đùa giỡn rất hồn nhiên. 3- Bố Đại Hòa Thượng Căn cứ “Đường Minh Châu Phụng Hóa huyện Khế Thử” truyện có chép lại rằng: Sự xuất hiện của vị Hòa Thượng thường mang túi vải dạo khắp thiên hạ, người đời quen gọi là Bố Đại Hòa Thượng. Ngài tự xưng hiệu là Khế Thử, người Minh Châu, huyện Phụng Hóa, Trung Quốc. Vị Tăng Nhân kỳ lạ này, miệng thường nở nụ cười, bụng rất to, nói năng hoạt bát, đi tới đâu lấy đất làm nhà ngủ nghỉ. Ngài đi đây đó vô định, tùy chốn mà an, có lúc vùi thân trong tuyết mà ngủ, tuyết không bám vào thân, sống đời rất tiêu diêu tự tại. Thuở ấy có người cư sĩ họ Trần hỏi Ngài rằng: Hòa Thượng có Pháp hiệu là gì? Ngài liền đáp rằng: “Ngã hữu nhất bố đại, hư không vô quái ngại. Đã khai biến thập phương, nhập thời quán tự tại.” Nghĩa là: “Ta chỉ có túi vải, như hư không vô ngại. Mở ra trùm khắp mười phương, nhập vào thấy tự tại.” Cái túi vải thần kỳ này được gọi là “Bách bảo càn khôn đại.” – túi chứa đựng tất cả bảo vật trong trời đất. Ngài thường mang túi vải này, tất cả sở hữu cá nhân hay vật thực kiếm được đều bỏ cả thảy chung trong đó, vì vậy Ngài có tên gọi là Bố Đại Hòa Thượng. Trần cư sĩ lại hỏi: Hòa Thượng có hành trang gì không ?. Ngài nói kệ đáp rằng: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lý du. Thanh mục đỗ nhân thiểu, vấn lộ bạch vân đầu.” Tạm dịch: “Bát cơm chung ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa. Mắt xanh trông người thế, mây trắng hỏi đường qua.” Hành trạng của Bố Đại Hòa Thượng vô cùng khoáng đạt, đời sống không có sự ràng buộc, hòa mình với thiên nhiên trời đất, hòa mình vào mọi người với lòng từ bi mà không dính mắc. Bố Đại Hòa Thượng, tùy thời độ người, gặp người có duyên với Phật Pháp thì khai thị đạo lý Thiền. “Ảnh Đức Truyền Đăng Lục” – quyển 27 có chép: Có một lần Hòa Thượng đi sau lưng một vị tăng, vỗ vai mà nói rằng: “ Cho ta một đồng bạc”. Vị thiền tăng nói rằng: “Nói ra đạo lý, tôi sẽ cho tiền.” Ngài liền buông túi vải, xoa tay mà đứng. Một hôm khác, có một vị Hòa Thượng hiệu là Bạch Lục hỏi rằng: “Thế nào là Bố Đại.” Ngài liền buông túi vải. Lại hỏi Bố Đại Hòa Thượng: “Ngài làm vậy có ý nghĩa gì?”. Ngài liền mang túi vải lên mà đi. Hành trạng buông và mang túi vải là khai thị thiền pháp của bậc đại trí đã ngộ đạo lý, buông xả và nắm bắt đều tự tại, không dính mắc vào tướng hai bên: Có và Không, Sanh tử và Niết bàn v.v. Hành giả đạt được cái tâm như như, hội nhập lý trung đạo thật tướng, nhập thế cứu đời một cách tự tại. Có một lần Bố Đại Hòa Thượng đối với một Thiền Tăng thuyết kệ khai thị yếu chỉ của Phật Pháp là trực nhận được chân tâm, kệ rằng: “Chỉ có Tâm Tâm Tâm thị Phật Thập phương thế giới tối linh vật Tung hoành dụng khả lân sanh Nhất thiết bất như tâm chân thật…” Tạm dịch: “Tâm, Tâm, Tâm là Phật. Linh diệu khắp mười phương giới. Năng dung tất cả vạn vật, Tất cả không ngoài chơn tâm…” Năm thứ ba Lương Trinh Minh(917), Khế Thử Hòa Thượng thị tịch tại chùa Nhạc Lâm, Ngài ngồi trên tảng đá an nhiên thị tịch. Lúc sắp thị tịch nói kệ rằng: “Di Lặc Chân Di Lặc, Phân thân thiên bách ức. Thời thời thị thời nhơn, thời nhân tự bất thức.” Tạm dịch: “Ta chính là Di Lặc, thị hiện muôn ngàn thân. Thường giáo hóa cho người, người đời lại không biết.” Nói xong Ngài thị tịch, người ta mới biết vị Hòa Thượng lang thang này chính là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát. Về sau, ở các nơi khác người ta vẫn thấy có vị Tăng có dáng dấp như Bố Đại Hòa Thượng, vai mang túi vải, thong dong trên đường. Ở chùa Nhạc Lâm, xá lợi của nhục thân Bố Đại Hòa Thượng hiệu Khế Thử vẫn còn được bảo tồn. 4- Tín ngưỡng Di Lặc Phật Di Lặc là vị Bồ Tát được sự sùng kính của nhiều dân tộc, tín ngưỡng Di Lặc được phổ biến không chỉ ở Trung Quốc, Ấn Độ mà tất cả các quốc gia khác. Di Lặc là vị Phật tương lai, có căn nguyên từ Ấn Độ, từ kinh điển huyền ký về sự xuất hiện của một vị Phật cứu thế trong tương lai. Kỳ thật, trên phương diện thực tế của Phật Giáo sử, tín ngưỡng đầu tiên của Trung Quốc không phải là Quán Thế Âm, hay Di Đà mà là tín ngưỡng Phật Di Lặc. Đầu niên đại Nhà Hán ở Trung Quốc, kinh điển liên quan đến Phật Di Lặc được phiên dịch rất nhiều. Tư tưởng cầu sanh Di Lặc Tịnh Độ đã xuất hiện ở thời kỳ này. Tín ngưỡng Di Lặc được người Trung Hoa tiếp nhận vô cùng sùng kính, điều này được ghi rõ trong bản kinh khắc: “Di Lặc Hội Kiến Kỷ” ở tại Tân Cương Trung Quốc. Căn cứ «Tư Trị Thông Giám» – thuộc sử bản, có ghi lại rằng: Những năm đầu thời Đường, tín ngưỡng này rất thịnh hành, Huyền Trang Pháp sư là một nhân vật đầu tiên sùng kính về tín ngưỡng Di Lặc, đây cũng là động cơ thôi thúc Huyền Trang đến Ấn Độ du học và nghiên cứu nội dung tác phẩm “Du Già Sư Địa Luận” một cách thấu đáo. Bạch Cư Dị (772-846), một thi nhân đời Đường, tổ chức học hội, gọi là “Nhất Thời Thượng Thăng Hội”, mục đích là cầu vãng sanh cảnh giới Di Lặc. Bạch Cư Dị viết trong quyết tâm thư: “Ngưỡng Từ Thị hình, xưng Từ Thị danh, nguyện ngã lai thế, nhất thời thượng sanh.” Nghĩa là: “Chiêm bái tượng đức Di Lặc, niệm danh hiệu đức Di Lặc, nguyện tôi mãn kiếp, được sanh Di Lặc Tịnh Độ”. Theo Pháp sư Huyền Trang, Di Lặc tức là Từ Thị; Nhưng Di Lặc là dịch theo âm, Từ Thị là dịch theo nghĩa của một từ Maitreya (Phạn ngữ). Ở trước đời Đường, tín ngưỡng Di Lặc rất đuợc phổ biến, nhưng vào khoảng giữa thời đại nhà Đường trở về sau dần dần phai mờ. Vì tín ngưỡng ấy cho người Trung Quốc một khát vọng hướng tới tương lai với ý thức tự do và hạnh phúc, phản đối sự tàn bạo của chế độ đương thời. Do vậy, giai cấp thống trị Trung Quốc lúc bấy giờ không chấp nhận sự ảnh hưởng tư tưởng đó. Đường Huyền Tông đã hạ lệnh cấm truyền bá tín ngưỡng Di Lặc. Đến ngày nay, tín ngưỡng Di Lặc phổ cập trên mọi quốc gia vì đức Phật này biểu trưng cho tư tưởng hòa bình, Ngài phát đại nguyện thành Phật ở thế giới này trong tương lai để đem giải thoát đến cho nhân loại. 5- Đón xuân Di Lặc Từ sự nhận thức về hành trạng và đạo lý của Đức Di Lặc, tín đồ Phật giáo đón xuân, đến chùa lễ Phật, làm các hạnh lành, phát nguyện tu tập, tiêu trừ phiền não, tai ương hoạn nạn cá nhân, gia đình và cầu quốc thái dân an. Đây là quan niệm lành mạnh phù hợp với con đường xây dựng hạnh phúc của nhân loại. Ở trong thời đại mà khoa học thịnh hành, con người xu hướng vật chất mãnh liệt, giá trị đạo lý bị vùi dập bởi lương tâm ô nhiễm của chúng sanh. Từ đó giữa người với người, đoàn thể với đoàn thể, tôn giáo với tôn giáo, quốc gia này với quốc gia khác phát sanh mâu thuẫn và oan trái dẫn đến sự đấu tranh kiên cố. Người học Phật phải nhận thức rằng Phật Giáo luôn lấy từ bi và trí tuệ để giải hóa sầu hận trong nhân gian. Đón Xuân Di Lặc, người học Phật không phải đến chùa chỉ cầu sự phúc lộc cho đời sống cá nhân, như cầu về tiền tài, danh vọng mà phải phát tâm rộng lớn học theo hạnh nguyện của Đức Phật Di Lặc. Đó là tấm lòng gắn bó với tha nhân, nuôi lớn lòng từ tâm và sự nhẫn nại, nỗ lực rèn luyện tâm linh, truyền bá giáo lý cho vào lòng nhân loại, giúp đời bớt khổ. Mọi người phải hằng phát tâm kết duyên lành với Tam Bảo, nuôi lớn chí nguyện Cầu Giác Ngộ. Đón xuân Di Lặc như thế mới tiếp nhận được nguồn Pháp lạc trong giáo lý Phật. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.11/2/2024.