Friday, August 5, 2022
KINH HIỀN NGU (BĀLAPAṆḌITA SUTTA).
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà viên), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
(Người Ngu)
—Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người ngu. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ và hành các ác hạnh. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu không tư duy ác tư duy, không nói lời ác ngữ, không hành ác hạnh, thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: “Người này là người ngu, không phải là Chân nhân”? Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người ngu tư duy ác tư duy, nói lời ác ngữ, hành ác hạnh, do vậy, người trí biết người ấy: “Người này là người ngu, không phải là Chân nhân”.
Người ngu ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại khổ ưu. Này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy. Nếu người ngu, này các Tỷ-kheo, sát sanh, lấy của không cho, theo tà hạnh trong dâm dục, nói láo, say rượu men, rượu nấu, thường ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu ấy suy nghĩ như sau: “Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì những pháp ấy thật có nơi ta và ta có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ nhất, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người ngu thấy các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi; họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò) họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình, hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa), chúc thủ hình (đốt tay), khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt), bì y hình (lấy vỏ cây làm áo), linh dương hình (hình phạt con dê núi), câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt), tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền), khối trấp hình, chuyển hình, cao đạp đài, họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu nghĩ như sau: “Do nhân các ác hành như vậy, các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân. Họ lấy gươm chặt đầu. Những pháp ấy có thật nơi ta và ta có những pháp ấy. Nếu các vua chúa biết về ta, các vua chúa ấy sau khi bắt ta liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn … họ lấy gươm chặt đầu.” Này các Tỷ-kheo, đây là loại khổ ưu thứ hai, người ngu cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người ngu leo ngồi trên ghế, hay trên giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ, những ác nghiệp người ấy làm từ trước, như thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, treo nằm, treo áp, treo đè lên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng các đỉnh núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi người ngu ngồi trên ghế, hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong khi ấy các nghiệp quá khứ của người ấy, tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người ngu suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm điều phước, không làm điều thiện, không làm điều chống lại sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều tội lỗi. Do không làm điều phước, không làm điều thiện, không làm điều chống lại sợ hãi, do làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều tội lỗi nên phải đi đến ác thú; ác thú ấy sau khi chết ta phải đi”. Người ấy sầu muộn, than van, than khóc, đấm ngực, rên la và rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây là sự khổ ưu thứ ba, ngay trong hiện tại, người ngu (phải) cảm thọ.
Này các Tỷ-kheo, kẻ ngu kia sau khi làm thân ác hành, sau khi làm khẩu ác hành, sau khi làm ý ác hành, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
(Ðịa ngục)
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về người ấy, phải nói rằng người ấy hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Ðịa ngục, phải nói rằng Ðịa ngục, hoàn toàn không tốt đẹp, hoàn toàn không khả ái, hoàn toàn không thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không dễ gì, vì rất nhiều là sự đau khổ của Ðịa ngục.
Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho con một ví dụ được không?
Thế Tôn đáp
—Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có người bắt được một tên trộm cắp, dẫn đến trước mặt vua và thưa: “Tâu Ðại vương, đây là một tên trộm cướp phạm tội cho Ngài! Hãy hình phạt nó như Ðại vương muốn”. Và vị vua ấy nói như sau về tên trộm cướp ấy: “Này các Ông, hãy đi và vào buổi sáng hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi sáng, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo. Rồi đến trưa, vua nói như sau: “Này các Ông, người ấy ra sao?”:: “Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống”. Rồi vua lại nói như sau về tên trộm cướp ấy: “Này các Ông, hãy đi và vào buổi trưa, hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi trưa, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo. Rồi đến chiều, vua nói như sau: “Này các Ông, người ấy ra sao?”:: “Tâu Ðại vương, nó vẫn còn sống”. Rồi vua lại nói như sau về người kia: “Này các Ông, hãy đi và vào buổi chiều, hãy đâm người này với một trăm ngọn giáo”. Và vào buổi chiều, họ đâm người ấy với một trăm ngọn giáo.
Này các Tỷ-kheo, Ông nghĩ thế nào? Người ấy bị đâm ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy, có cảm thọ khổ ưu không?
—Bạch Thế Tôn, chỉ bị ngọn giáo đâm một lần, người kia do nhân duyên ấy cũng cảm thấy khổ ưu, còn nói gì đến ba trăm ngọn giáo!
Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn, hòn đá này, to bằng bàn tay do ta lượm lên, hay núi Tuyết Sơn (Himālaya), vua các loại núi?
—Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn, hòn đá này lớn bằng bàn tay do Thế Tôn lượm lên. So sánh với Tuyết Sơn vua các loại núi, nó không đáng kể gì, nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết), không thể so sánh được!
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo, do nhân duyên ấy cảm thọ khổ ưu. Khổ ưu ấy so sánh với khổ ưu ở Ðịa ngục không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được. Này các Tỷ-kheo, các người giữ địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc (pancavidhabandhanam). Họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn tay, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào bàn chân thứ hai, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào giữa ngực. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục bắt người ấy nằm xuống và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và lấy búa chặt người ấy. Người ấy ở đây cảm thọ … chưa được tiêu trừ.
Này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục cột người ấy vào một chiếc xe, kéo người ấy chạy tới chạy lui trên đất được đốt cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ … chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục đẩy người ấy lên kéo người ấy xuống trên một sườn núi đầy than hừng, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây cảm thọ … chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, các người giữ Ðịa ngục dựng ngược người ấy chân phía trên, đầu phía dưới và quăng người ấy vào một vạc dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Người ấy ở đây bị nấu với bọt nước sôi sùng sục, ở đây bị nấu với vạc nước sôi sùng sục; khi thì nổi lên trên, khi thì chìm xuống đáy, khi thì trôi dạt ngang. Người ấy ở đây thọ lãnh các cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỷ-kheo, những người giữ Ðịa ngục quăng người ấy vào Ðại địa ngục. Này các Tỷ-kheo, Ðại địa ngục ấy, có bốn góc, bốn cửa, chia thành phần bằng nhau; xung quanh có tường sắt; mái sắt lợp lên trên. Nền Ðịa ngục bằng sắt nung đỏ, cháy đỏ rực; đứng thẳng, luôn có mặt, rộng một trăm do tuần.
Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về Ðịa ngục, nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở Ðịa ngục quá nhiều.
(Cõi thú)
Này các Tỷ-kheo, có những loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ. Chúng ăn những cỏ ướt và khô, với răng nhai nghiền, cỏ ấy. Này các Tỷ-kheo, những sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ là gì? Các loại ngựa, trâu, bò, lừa, dê, nai hay các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn cỏ. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn cỏ.
Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Ví như các Bà-la-môn chạy đến, ngửi được mùi lễ tế sanh, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, và ăn phân. Chúng ngửi được mùi phân từ đường xa, liền chạy tới, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ ăn ở đây, chúng ta sẽ ăn ở đây”. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở và ăn phân là gì? Các loại gà, heo, chó, chó rừng (giả can), hay tất cả các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, ăn phân. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loại hữu tình ấy, những loại hữu tình ăn phân.
Này các Tỷ-kheo, có các loại sanh vật thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối. Này các Tỷ-kheo, những sanh vật ấy, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bóng tối, già trong bóng tối và chết trong bóng tối là gì? Các loại côn trùng, con sùng, con dòi, con sâu đôm đốm và các loại sanh vật khác thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sống trong bóng tối. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy tức là các loại hữu tình sinh ra trong bóng tối, già trong bóng tối, chết trong bóng tối.
Này các Tỷ-kheo, có những sanh vật, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sinh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước là gì? Các loại cá, rùa, cá sấu, hay các sanh vật khác, thuộc loại bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước. Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra trong nước, già trong nước, chết trong nước.
Này các Tỷ-kheo, có các sanh vật thuộc loài bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh. Và này các Tỷ-kheo, các sanh vật ấy, các loại thuộc bàng sanh, có hơi thở, sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh là gì? Này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình nào sanh ra trong cá thúi hay già trong cá thúi, hay chết trong cá thúi, hay trong tử thi thúi, hay trong đồ ăn thúi, hay trong vũng nước, hay sinh ra trong đầm nước (nhớp) … già … hay chết trong đầm nước (nhớp). Này các Tỷ-kheo, người ngu ấy, do trước kia hưởng thọ ở đây, do trước kia làm các ác nghiệp ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra cọng trú với các loài hữu tình ấy, tức là các loài hữu tình sanh ra trong bất tịnh, già trong bất tịnh, chết trong bất tịnh.
Này các Tỷ-kheo, với rất nhiều pháp môn, Ta nói về các loại bàng sanh, nhưng thật khó nói cho được đầy đủ, này các Tỷ-kheo, vì đau khổ ở loài bàng sanh quá nhiều.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc cây có một cái lỗ trên biển, một ngọn gió từ phương Ðông thổi nó trôi qua phía tây; một ngọn gió từ phương Tây thổi nó trôi qua phía đông; một ngọn gió từ phương Bắc thổi nó trôi qua phía nam; một ngọn gió từ phương Nam thổi nó trôi qua phía bắc. Rồi có một con rùa mù, cứ một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Con rùa mù ấy có thể đút cổ nó vào trong lỗ cây này được không?
—Nếu có được chăng nữa, bạch Thế Tôn, thời chỉ được một lần, sau một thời gian rất lâu dài.
—Còn mau hơn, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy có thể chui cổ vào khúc cây có lỗ hổng kia; nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng còn khó hơn được làm người trở lại, một khi người ngu bị rơi vào đọa xứ. Vì sao vậy? Vì ở đấy, này các Tỷ-kheo, không có pháp hành, an tịnh hành, thiện hành, phước hành. Này các Tỷ-kheo, ở đây chỉ có ăn lẫn nhau và ăn thịt kẻ yếu.
Và này các Tỷ-kheo, nếu người ngu ấy sau một thời gian rất lâu dài, có được làm người trở lại, thời người ấy sẽ sanh trong gia đình thấp hèn, trong gia đình hạ cấp, trong gia đình kẻ đi săn, trong gia đình kẻ đan tre, trong gia đình người làm xe, hay trong gia đình người đổ phân, trong những gia đình nghèo khốn, không đủ để uống hay để ăn, cho đến miếng vải che lưng cũng khó tìm được. Lại nữa, người ấy thô xấu, khó nhìn, lùn thấp, hay bệnh, mù hay có tật, què hay bị bại, người ấy không có thể được các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, giường nằm, chỗ trú xứ và ánh sáng. Người ấy hành thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; vì hành thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; sau khi thân hoại mạng chung, sinh ra trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, trong canh đổ bạc đầu tiên, mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Nhưng này các Tỷ-kheo, còn nhỏ bé canh đổ bạc ấy, do canh đổ bạc đầu tiên này, người ấy mất con, mất vợ, mất tất cả tài sản, lại cuối cùng phải tù tội. Và canh bạc này to lớn hơn, với canh bạc ấy, người ngu, do thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, Ðịa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là địa xứ hoàn toàn viên mãn của kẻ ngu.
(Người Hiền trí)
Này các Tỷ-kheo, có ba đặc điểm, đặc tướng, và đặc ấn này của người trí. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ, và hành các thiện hành. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí không tư duy thiện tư duy, không nói lời thiện ngữ, không hành các thiện hành, thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: “Vị này là người trí, là bậc Chân nhân”? Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ, hành thiện hành, do vậy người trí biết người ấy: “Vị này là người có trí, là bậc Chân nhân”.
Người trí ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại lạc hỷ. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí ngồi giữa hội chúng, hay ngồi bên đường có xe cộ qua lại, hay tại ngã (ba, ngã tư) đường, tại đấy (nếu) có người nghĩ đến câu chuyện thích hợp về người ấy; nếu người trí, này các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong dâm dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say rượu men rượu nấu, thời ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí ấy suy nghĩ như sau: “Các người ấy nghĩ đến câu chuyện thích hợp về ta, vì những pháp ấy thật có nơi ta và ta có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại lạc hỷ thứ nhất, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, người trí thấy các vua chúa, sau khi bắt tên trộm cướp phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn … họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí suy nghĩ như sau: “Do nhân các ác hành như vậy, các vua chúa sau khi bắt tên trộm cướp có phạm tội, liền áp dụng những hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy … họ lấy gươm chặt đầu, những pháp ấy thật không có nơi ta, và ta không có những pháp ấy”. Này các Tỷ-kheo, đây là loại lạc hỷ thứ hai, người trí cảm thọ ngay trong hiện tại.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi người trí leo ngồi trên ghế, hay trên giường, hay nằm trên đất, lúc bấy giờ những thiện nghiệp người ấy làm từ trước, như thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, những bóng các đỉnh núi treo nằm, treo áp, treo đè trên đất; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi người trí ngồi trên ghế hay ngồi trên giường, hay nằm dưới đất, trong khi các nghiệp quá khứ của người ấy tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành treo nằm, treo áp, treo đè trên người ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người trí suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều tội lỗi, lại làm điều phước, làm điều thiện, làm điều chống sợ hãi. Do không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều tội lỗi, do làm điều phước, làm điều thiện, làm điều chống sợ hãi, được đi đến (thiện) thú nào, (thiện) thú ấy sau khi chết, ta được đi”. Vị ấy không sầu muộn, không than van, không than khóc, không đấm ngực, rên la và rơi vào bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lạc hỷ thứ ba, ngay trong hiện tại người trí được cảm thọ.
Này các Tỷ-kheo, kẻ trí kia sau khi làm thân thiện hành, sau khi làm khẩu thiện hành, sau khi làm ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, sanh ra trong thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói một cách đúng đắn về vị ấy phải nói rằng vị ấy hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả ái, hoàn toàn thích ý. Cũng như muốn nói một cách đúng đắn về Thiên giới phải nói rằng Thiên giới hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn khả ái, hoàn toàn thích ý. Về vấn đề này, này các Tỷ-kheo, cho đến một ví dụ cũng không dễ gì, vì rất nhiều là sự (an) lạc của Thiên giới.
(Cõi Thiên)
Khi được nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể làm cho con một ví dụ được không?
—Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, vị vua Chuyển luân có đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ. Thế nào là bảy?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vua Sát đế lỵ, đã làm lễ quán đảnh, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi gội đầu, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xa, với vành xe, trục xe, đầy đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi gội đầu, lên cao điện để trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển luân vương. Như vậy, ta có thể là Chuyển luân vương”.
Này các Tỷ-kheo, rồi vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: “Này xe báu hãy lăn khắp. Này xe báu hãy chinh phục!” Và này các Tỷ-kheo, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này các Tỷ-kheo, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, an trú cùng với bốn loại binh chủng.
Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương!” Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”
Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.
Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, rồi xe báu ấy lặn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên và lặn về phương Nam … lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây … lặn xuống biển lớn ở phương Tây., rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh an trú cùng với bốn loại binh chủng.
Này các Tỷ-kheo, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”
Này các Tỷ-kheo, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Kusāvatī, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện của xe báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, voi báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy voi báu, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này, nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền tượng quý phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu điều ngự. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên, rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ngựa báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valāhaka. Thấy ngựa báu, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này các Tỷ-kheo, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử con ngựa báu này, sáng sớm liền cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên, rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện ngựa báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, châu báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này các Tỷ-kheo, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này các Tỷ-kheo, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, nữ báu lại xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, ánh sáng bằng dung sắc chư Thiên. Này các Tỷ-kheo, thân xác nữ báu này là (êm mịn) như bông, như nhung. Này các Tỷ-kheo, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thanh ấm áp; khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này các Tỷ-kheo, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này các Tỷ-kheo, nữ báu này không có môt tư tưởng nào bất tín đối với vua Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, huống nữa là về thân thể. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, cư sĩ báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Cư sĩ báu này đến vua Sát-đế-lỵ đã làm quán đảnh và nói
: “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.
Này các Tỷ-kheo, thuở xưa vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, muốn thử cư sĩ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo cư sĩ báu:
“- Này cư sĩ, ta cần vàng.”
“- Tâu Ðại vương, hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.”
“- Này cư sĩ, ta cần vàng ngay tại đây.”
Này các Tỷ-kheo, khi ấy cư sĩ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng, rồi tâu với vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:
“- Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa? Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?”
Vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh trả lời:
“- Này Cư sĩ, như vậy là đủ. Này Cư sĩ, làm như vậy là được rồi. Này Cư sĩ, cúng dường như vậy là được rồi”.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện cư sĩ báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lai nữa, này các Tỷ-kheo, tướng quân báu xuất hiện cho vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lùi thì lùi, khi đáng dừng thì dừng:
Vị này đến tâu vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh:
“- Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ cố vấn Ðại vương”.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bảy báu như vậy.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh có đầy đủ bốn như ý đức. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ nhất của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Này các Tỷ-kheo, lại nữa, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ hai của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ít bệnh tật, ít tai ương, thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Này các Tỷ-kheo, đó là như ý đức thứ ba của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh được các Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như người cha được các người con ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được các Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ái kính và yêu mến. Này các Tỷ-kheo, như những người con được người cha ái kính và yêu mến; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ được vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh và tâu rằng:
“- Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn. ”.
Này các Tỷ-kheo, nhưng vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh lại ra lệnh cho người đánh xe:
“- Này anh Ðánh xe, hãy đánh xe chậm chậm đủ để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”.
Này các Tỷ-kheo, như vậy là như ý đức thứ tư của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh.
Và này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tala, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”
Này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân có đầy đủ bốn như ý đức này.
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Vua Chuyển luân, đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức; do nhân duyên ấy, có cảm thọ lạc hỷ không?
—Bạch Thế Tôn, vua Chuyển luân chỉ đầy đủ một món báu, do nhân duyên ấy, có cảm thọ lạc hỷ; còn nói gì đầy đủ bảy món báu và bốn như ý đức.
Rồi Thế Tôn lượm lên một hòn đá nhỏ, lớn bằng bàn tay và nói với các Tỷ-kheo
—Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì lớn hơn? Hòn đá này, to bằng bàn tay do Ta lượm lên hay núi Tuyết Sơn, vua các loại núi?
—Thật là quá nhỏ, bạch Thế Tôn, là hòn đá này, lớn bằng bàn tay, do Thế Tôn lượm lên, so sánh với Tuyết Sơn, vua các loại núi, nó không đáng kể gì, nó không bằng một phần ngàn vạn lần (của núi Tuyết), không thể so sánh được.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vua Chuyển luân với bảy món báu và bốn như ý đức, do nhân duyên ấy cảm thọ lạc hỷ, lạc hỷ ấy so sánh với Thiên lạc không đáng kể gì, không bằng một phần ngàn vạn lần, không thể so sánh được. Này các Tỷ-kheo, người có trí ấy, nếu sau một thời gian rất lâu dài, được sinh làm người, người ấy sẽ sinh ra trong một gia đình cao quí Sát-đế-lỵ đại gia, hay Bà-la-môn đại gia, hay Cư sĩ đại gia giàu có, tài sản nhiều, tài nguyên nhiều, vàng và bạc phong phú, tài vật phong phú, lúa thóc phong phú. Hơn nữa, vị ấy đẹp trai, khả ái, dễ thương, đầy đủ dung sắc tối thượng. Vị ấy nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, giường nằm, chỗ trú xứ và ánh sáng. Vị ấy sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Sống với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đánh bạc, chính trong canh bạc thứ nhất (đổ xúc sắc) được tiền bạc rất nhiều. Thật là quá nhỏ, này các Tỷ-kheo, là canh bạc ấy, nhờ canh bạc đầu tiên này, người đánh bạc ấy được tiền bạc rất nhiều. Lớn hơn canh bạc ấy là canh bạc, nhờ đó, người trí sau khi hành thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, đây là địa vức hoàn toàn viên mãn của bậc có trí.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.5/8/2022.
ANNOUNCEMENT SUBJECT (UPAKKILESA SUTTA). Like this I hear. At one time, the Blessed One was in Kosambi, at Ghosita Vihara (Cu-sula). At that time the Bhikkhu-stilts in Kosambi lived competing, arguing, fighting with each other, wounding each other with weapons of the tongue. Then a bhikkhu came to the place where the Blessed One was, and, having come to pay homage to the Blessed One, stood to one side. Standing to one side, that bhikkhu said to the Blessed One —Here, venerable sir, the bhikkhus of Kosambi live competing, arguing, fighting with each other, wounding each other with weapons of the tongue. It would be good, World Honored One, if the Blessed One, out of compassion, would come to those bhikkhus. The Blessed One silently accepted. Then the Blessed One went to those bhikkhus, and on arrival he said to them —That's it, bhikkhus! Don't compete, argue, argue, fight each other! When he heard this, a bhikkhu said to the Blessed One —the Blessed One, the Blessed One is the Dharma Master, Please stop! The Blessed One, the World-Honored One, do not be tired! Blessed One, abide, pay attention and dwell in the present moment! Because we are responsible for this competition, debate, contention, struggle. For the second time, the Blessed One said to those bhikkhus—Just now, bhikkhus! Don't compete, argue, argue, fight each other! The second time, that bhikkhu said to the Blessed One - Lord, the Blessed One is the Dharma Lord, stop! The Blessed One, the World-Honored One, do not be tired! Blessed One, abide, pay attention and dwell in the present moment! Because we are responsible for this competition, debate, contention, struggle. For the third time, the Blessed One said to those bhikkhus—Just now, bhikkhus! Don't compete, argue, argue, fight each other! For the third time, that bhikkhu said to the Blessed One —World Honored One, the Blessed One is the Dharma Lord, stop! White World Honored One, World-Honored One, do not be weary! Blessed One, abide in the present moment and dwell in bliss! Because we are responsible for this competition, debate, contention, struggle. Then in the morning the Blessed One put on his robes, took his bowl and robe, and went to Kosambi for alms. After going for alms in Kosambi, having finished his meal, on his way back from his alms round, after clearing his bed, taking his robes and bowls, he stood and said the verse: In the midst of the crowd booing, No one thinks they are stupid, Among the Sangha, they separate. Does anyone think upstream? Unconscious people say, Three flowers a hundred things, Mouth open, talk freely, Lead to where, who knows? “It scolded me, hit me! It harmed me, robbed me!” Whoever embraces that resentment, Hatred cannot be stopped. “It scolded me, hit me! It harmed me, robbed me!” If you don't hold that resentment, Hatred will subside on its own. Hatred destroys hatred, There is no way to destroy it, Compassion destroys hatred, Is the law of thousands of collection. "Others do not understand, Here I perish", Those who understand this, Thus, controversy ceases. The initiator of killing lives, Robbing cows, horses, property, Robbers of the country, They still know how to unite, Why don't you? If you have a wise friend, Accompany, well stay, overcome all dangers, Live joyfully and mindfully. Otherwise you are wise, Like a king leaving the country, Lonely like a wild elephant. Better live alone, No friends, fools, Loneliness does not do evil, Leisurely, like a wild elephant. Then the Blessed One stood, uttering these verses, and went to the village of Balakalonakara. At that time Venerable Bhagu lived in the village of Balakalonakara. Venerable Bhagu saw the Blessed One coming from afar, and immediately arranged a seat and water to wash his feet. The Blessed One sat on a prepared seat; After sitting, he washed his feet. Venerable Bhagu bowed down to the Blessed One, then sat down to one side. The Blessed One said to Venerable Bhagu, who was sitting to one side, "Are you well, bhikkhu? Can you live happily? Going for alms, is it not tiring? —Venerable sir, I am well. World-Honored One, I live peacefully. World-Honored One, I don't get tired when I go for alms. Then the Blessed One, having exhorted the venerable Bhagu with a teaching of the Dharma, exulting, exhilarating, exhilarating, rose from his seat and went to Pacinavamsadaya. At that time, Venerable Anuruddha (A-na-law), Venerable Nandiya (Nanda) and Venerable Kimbila (Kim-ty-la) were staying at Pacinavamasadaya. The gardener saw the Blessed One coming from afar, and when he saw this, he said to the Blessed One: 'Sammon, do not enter this garden. There are three good sons, very attached to self (attakamanipa) residing here. Don't bother them. Venerable Anuruddha heard the gardener talking to the Blessed One, immediately said to the gardener —Garden-keeper, do not stop the Blessed One! The Blessed One, our Teacher, has arrived. Then Venerable Anuruddha went to Venerable Nandiya and Venerable Kimbila and said—Come, Venerable One! The venerable ones come! The Blessed One, our Teacher has arrived. Then the Venerable Anuruddha, the Venerable Nandiya and the Venerable Kimbila went out to meet the Blessed One, one holding the Blessed One's robe and bowl, the other preparing a seat, the other setting water to wash his feet. The Blessed One sat on a prepared seat; After sitting, the Blessed One washed his feet. Then those venerable ones bowed down to the Blessed One and sat down to one side. Then the Blessed One said to Venerable Anuruddha, who was sitting to one side, "Are you well, Anuruddhas?" Can you live happily? Is it tiring to go begging for food? —Venerable sir, we are well. World-Honored One, we live peacefully. White World Honored One, we go for alms without getting tired. —O Anuruddhas, do you live in harmony, rejoice with each other, without quarreling. Like water and milk, live looking at each other with sympathetic eyes? —Venerable Sir, we really live in harmony, rejoice with each other, without quarrels, like water and milk, live looking at each other with sympathetic eyes. —How, Anuruddhas, do you live in harmony, rejoicing with each other, like water and milk, living looking at each other with sympathetic eyes? —Venerable sir, here we think thus: “How beneficial for me! How good it is for me, to be able to live with such fellow Brahmans! White World Honored One, so for these fellow Brahmins, I arise from the body's karma, in front of and behind; I arise from my verbal kamma, in front of and behind my back, I arise from my mental kamma, in front of and behind my back. White World Honored One, so we think like this: "Let's give up my mind and live according to the minds of these Venerables". And, venerable sir, I renounce my own mind, and live according to the minds of those venerable ones. World-Honored One, although we have different bodies, we are like the same mind. Then the Venerable Nandiya… Then the Venerable Kimbila said to the Blessed One —World Honored One, here we think as follows: “How beneficial for me! How good it is for me, to be able to live with my fellow Brahmins like that!” White World Honored One, so for these fellow Brahmins, I arise from the body's karma, in front of and behind; I arise from my verbal kamma, in front of and behind my back, I arise from my mental kamma, in front of and behind my back. Therefore, venerable sir, we think thus: "Let us renounce our own mind and live according to the minds of these venerable ones". And, venerable sir, I renounce my mind and live according to the minds of those Venerables. World-Honored One, although we have different bodies, we are like the same mind. Thus, venerable sir, we live in harmony, rejoicing with each other, like water and milk, living looking at each other with sympathetic eyes. —Good, good, Anuruddhas! And, Anuruddhas, do you live without distraction, ardent, diligent? —Venerable Sir, we really live without distraction, ardent, diligent. —How, Anuruddhas, do you live without distraction, zealously, diligently? —Here, World-Honored One, whoever goes to the village to beg for food first, he arranges the seats, prepares drinking water, water for washing feet, and prepares a bowl to dispose of the leftovers. Whoever goes to the village to beg for alms later, that person, has left the food, if desired, eats it. If you don't want to, then put it in a place where there is no green grass or put it in water where there are no insects. He arranges the seats, takes away the drinking water, the foot wash, takes away the bowl to dispose of the leftovers, and sweeps the dining hall. If anyone sees that the water in the toilet is empty, or the water in the toilet is empty, he will take care of it. If he can't do it with his hands, he uses his hand to signal to the second person: "Let's take care of (water)". However, venerable sir, we do not make noise because of this. And on the fifth day, World Honored One, we sat all night discussing the Dharma. Thus, venerable sir, we live without distraction, ardent and diligent. —Good, good, Anuruddas! You, Anuruddhas, live undistractedly, ardently, diligently, and have attained the supreme knowledge of the supreme dharma. worthy of the Saints, live comfortably and peacefully? —Here, venerable sir, we live without distraction, so ardently, diligently, we perceive the aura, as well as the arising of material phenomena. But that aura soon disappeared with the appearance of rupa. We do not understand clearly what that general is. —This, Anuruddhas, you need to understand. I too, Anuruddhas, before my enlightenment, not having attained Perfect Enlightenment, but still a bodhisattva, I perceive the aura and the appearance of material phenomena. But that aura soon disappeared from Me along with the appearance of material phenomena. O Anuruddhas, I think thus: 'For what cause, and for what cause, does the radiance disappear for me, together with the appearance of material phenomena? I think thus, Anuruddhas: "Doubt arose in me. Because of doubt, My concentration is destroyed; When concentration disappears, the aura disappears with the appearance of rupa. So what will I have to do to prevent doubt from arising in Me anymore?" Then, Anuruddhas, I live without distraction, ardent, diligent, perceiving the aura with the appearance of rupa. But that aura soon disappeared from Me, along with the appearance of material phenomena. Then, Anuruddhas, I thought thus: "By what cause, and by what condition, did the aura disappear from me, together with the appearance of material phenomena?" Then, Anuruddhas, I thought thus: 'Inattention arises in me. Because there is no intention, concentration is destroyed in Me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. So what should I do so that doubt and inattention do not arise in Me anymore?" Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think as follows: "Dullness, lethargy, arise in Me. Because of laxity and torpor, My concentration is destroyed; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. So what should I do so that doubt and inattention and lethargy and lethargy do not arise in Me anymore?" Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think thus: "Fear arises in me. Because of fear, intends to perish in Me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the arising of rupa. For example, Anuruddha, a person is walking on the road, a murderer jumps (attacks) from two sides. Due to conditions from both sides, he arises fear. Likewise, Anuruddhas, fear arises in Me. Because of fear, intends to perish in Me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. So how should I prevent doubt, inattention, lethargy, drowsiness, and fear from arising in Me? Then, Anuruddhas, I live without distraction. Then, Anuruddhas, I thought thus: 'Emotion (ubbilla) arose in me. Because there is exhilaration, intention is destroyed in Me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. For example, Anuruddhas, a person is searching for the mouth of a treasure, and in one visit he finds five mouths of treasure, due to this cause and condition is aroused. In the same way, Anuruddhas, excitement arose in Me. Because of the excitement, the intention is destroyed in Me; when concentration disappears with the arising of rupa. So what should I do, to be suspicious, inattentive, lethargic, lethargic, Fear and excitement no longer arise in Me.” Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think as follows: "The lustful mind (dutthullam) arose in me. Because of lust, the intention is to perish in Me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. So how should I prevent doubt, inattention, lethargy, drowsiness, fear, excitement, and lust from arising in Me? Then, Anuruddhas, I live without distraction... Then, Anuruddhas, I think as follows: "Excessive diligence arose in me, and because of excessive diligence, concentration disappeared in me; when concentration is destroyed, the aura disappears with the appearance of rupa. For example, Anuruddha, a man with two hands grasped a civet so tightly that the bird died on the spot. Likewise, Anuruddhas, Transcendent need arises in Me. Because of the need for extremes... along with the appearance of rupa. So how should I prevent doubt, inattention, lethargy, sedation, fear, excitement, lust, and excessive diligence from arising in Me? Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think thus: "Excessive effort arose in me. Because of the need to be too weak, he intends to disappear in Me; When concentration disappears, the aura disappears with the appearance of rupa. For example, Anuruddhas, a man caught a civet too loosely, and the bird flew out of his hands. Likewise, Anuruddhas, ... with the arising of rupa. So how should I prevent doubt, inattention, lethargy, sedation, fear, excitement, lust, excessive diligence, and weak energy from arising in Me? Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think thus: "Desire arises in me. Because there is lust. With the appearance of material phenomena… So how should I prevent doubts, inattentiveness... Then, Anuruddhas, I live without distraction… Then, Anuruddhas, I think thus: "Difference of perception arises in Me ... with the appearance of material phenomena. So what should I do so that doubts… craving and disparity in perception do not arise in Me anymore?” Then, Anuruddhas, I live without distraction, ardent, diligently, and I perceive the aura with the appearance of rupa. Those auras soon disappeared from Me along with the appearance of rupa. Then, Anuruddhas, I thought thus: "What is the cause, what is the condition, the aura disappears from Me with the appearance of material phenomena?" Then, Anuruddhas, I thought thus: "A state of being overly focused on rupa-dhammas arises in me... with the arising of rupa-dhammas. So what should I do to be suspicious? (as above) ... the different perceptions and the state of being too focused on the material phenomena do not arise in Me anymore". Then, Anuruddhas, after knowing that doubt is a mental affliction, I eliminate doubt, the affliction of the mind; after knowing that inattention is a mental affliction, I cut off inattention, the affliction of the mind; after knowing laxity, somnolence…after knowing fear…after knowing euphoria…after knowing lust…after learning of excessive diligence…after learning of too weak vigor… weak ... after knowing the desire ... after knowing the difference in perception; Having learned that the state of being overly attentive to rupa is an affliction of the mind, I abandoned the state of being overly focused on rupa, a mental affliction. Then, Anuruddhas, I live without distraction, ardent, diligent, perceiving the aura, but I do not see rupa all night, all day, all night, and all day. We see rupa, but we don't see aura. In this regard, Anuruddhas, I think thus: 'For what cause, under what conditions, do I perceive only the aura, but not the material matter: all night, all day, all night and all day? I see only rupa, but I don't see aura. In this regard, Anuruddhas, I think thus: 'While I do not notice the form, but do notice the luminous sign, meanwhile I perceive the aura, but do not see the materiality. And while I do not mind the radiance, but the intention of the form; whereas I see rupa, but do not perceive aura, all night, all day, all night and all day.” Then, Anuruddhas, I live undistractedly, ardently, diligently, perceiving the limited aura and seeing the limited rupa; perceive the immeasurable aura and perceive the immeasurable rupas, all night, all day, all night and all day. In this regard, Anuruddhas, I think as follows: "By what cause, by what condition, I perceive a finite aura and a finite material phenomena; perceive immeasurable aura and see immeasurable rupas, all night, all day, all night and all day?” In this regard, Anuruddhas, I think thus: "When concentration is limited, then my eye is limited; With that limited eye, I perceive the limited aura and the finite form of matter. But when My concentration is limitless, meanwhile My eyes become immeasurable, and with that immeasurable eye I perceive immeasurable aura and see immeasurable rupa all night, all day, all night. and all day”. When, Anuruddhas, it is known that doubt is an affliction of the mind, then doubt or affliction of the mind is abandoned; when it is known that inattention is an affliction of the mind, time without attention the affliction of the mind is eliminated; when to know sedation, hypnosis ...; when to know fear…; when to know the excitement…; when to know the lust…; when to know the need for extremes…; when to know the need to be too weak…; when to know lust…; when knowing the difference in thought…; when it is known that the state of being overly attentive to material things is a mental affliction, when the state of being overly attentive to the afflictive material phenomena of the mind is abandoned. Then, Anur uddhas, I thought thus: "My mental afflictions have been eradicated. Now I practice three kinds of concentration.” Then, Anuruddha, I practice concentration with application, with four; We practice concentration with no range, only four; We practice concentration not, not four; We practice concentration with joy; We practice concentration without joy; We practice concentration in association with happiness; We practice concentration of relationship with equanimity. Hey, Anuruddhas, when I practice concentration with application, there are four; when I practice concentration without search, only four; when I practice concentration with no range, no four; when I practice concentration with joy; when I practice concentration without joy; When I practice concentration of existence with equanimity, the view of knowledge arises in Me: "My liberation is immovable, this is my last life, now no longer exists". Thus the Blessed One preached..END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.5/8/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
KINH TÙY PHIỀN NÃO (UPAKKILESA SUTTA).
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).
Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
—Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỷ-kheo ấy.
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ
—Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
Lần thứ hai, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
Lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát và đi vào Kosambi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambi, ăn xong, trên con đường khi khất thực trở về, sau khi dọn dẹp chỗ nằm, lấy y bát, Ngài đứng và nói bài kệ:
Giữa quần chúng la ó,
Không ai nghĩ mình ngu,
Giữa Tăng chúng phân ly
Có ai nghĩ hướng thượng?
Thất niệm kẻ trí nói,
Ba hoa trăm thứ chuyện,
Miệng há, nói thả dàn,
Dẫn đi đâu, ai biết?
“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Ai ôm oán niệm ấy,
Hận thù không thể nguôi.
“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Không ôm oán niệm ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.
Hận thù diệt hận thù,
Không đời nào diệt được,
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
“Người khác không hiểu biết,
Ở đây ta bị diệt”,
Những ai hiểu điều này,
Nhờ vậy, tranh luận tiêu.
Kẻ chủ xướng hại mạng,
Cướp bò, ngựa tài sản,
Kẻ cướp đoạt quốc độ,
Họ còn biết đoàn kết,
Sao các Ông không vậy?
Nếu được bạn hiền trí,
Ðồng hành, khéo an trú,
Ðả thắng mọi hiểm nạn,
Sống hoan hỷ chánh niệm.
Nếu không bạn hiền trí,
Như vua bỏ quốc độ,
Cô độc như voi rừng.
Tốt hơn, sống một mình,
Không bè bạn kẻ ngu,
Cô độc không làm ác,
Nhàn hạ, như voi rừng.
Rồi Thế Tôn đứng nói lên những câu kệ này, rồi đi đến làng Balakalonakara. Khi ấy, Tôn giả Bhagu sống ở trong làng Balakalonakara. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên
—Này Tỷ-kheo, có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực, có khỏi mệt nhọc không?
—Bạch Thế Tôn, con được an lành. Bạch Thế Tôn, con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
Rồi Thế Tôn sau khi với thời thuyết pháp khích lệ Tôn giả Bhagu, làm cho hân hoan, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Pacinavamsadaya. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty—la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:
Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn
—Này Người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn là bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.
Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói
—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.
Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên
—Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?
—Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
—Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?
—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các đồng Phạm hạnh như vậy! Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
Rồi Tôn giả Nandiya … Rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn
—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng Phạm hạnh như vậy!” Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?
—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
—Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
—Lành thay, lành thay, này các Anurudda! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái an lạc không?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.
—Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ. Ta cũng vậy, này các Anuruddha, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi của các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Không tác ý khởi lên nơi Ta. Vì không có tác ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc và không tác ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Hôn trầm, thụy miên, khởi lên nơi Ta. Vì có hôn trầm, thụy miên nên định của Ta bị biến diệt; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc, không tác ý và hôn trầm, thụy miên không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp”. Ví như, này các Anuruddha, một người đang đi trên con đường, có kẻ giết người nhảy đến (công kích) từ hai phía. Do nhân duyên từ hai phía, người ấy khởi lên sợ hãi. Cũng vậy, này các Anuruddha, sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên và sự sợ hãi không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự phấn chấn (ubbilla) khởi lên nơi Ta. Vì có sự phấn chấn, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người đi tìm cửa miệng một kho tàng, và trong một lần tìm được năm cửa miệng kho tàng, do nhân duyên này phấn chấn khởi lên. Cũng vậy, này các Anuruddha, phấn chấn khởi lên nơi Ta. Vì có phấn chấn nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào, để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi và sự phấn chấn không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Dâm ý (dutthullam) khởi lên nơi Ta. Vì có dâm ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta, và vì có tinh cần quá độ, nên định lực biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người với hai tay bắt nắm quá chặt một con chim cáy khiến con chim chết liền tại chỗ. Cũng vậy, này các Anuruddha, tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá độ … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, và tinh cần quá độ không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Tinh cần quá yếu đuối khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá yếu đuối, nên định biến diệt nơi Ta; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người bắt một con chim cáy quá lỏng lẻo, con chim ấy bay khỏi hai tay của người ấy. Cũng vậy, này các Anuruddha, … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ và tinh cần quá yếu đuối không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Ái dục khởi lên nơi Ta. Vì có ái dục. Với sự hiện khởi các sắc pháp … Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý … tinh cần quá yếu đuối và ái dục không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta nghĩ như sau: “Sai biệt tưởng khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc … ái dục và sai biệt tưởng không khởi lên nơi Ta nữa”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và Ta nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi sắc pháp. Những hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Một trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc. (như trên) … các tưởng sai biệt và trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp không khởi lên nơi Ta nữa”. Rồi này các Anuruddha, sau khi biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ nghi hoặc, phiền não của tâm; sau khi biết được không tác ý là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ không tác ý, phiền não của tâm; sau khi biết được hôn trầm, thụy miên … sau khi biết được sợ hãi … sau khi biết được phấn chấn … sau khi biết được dâm ý … sau khi biết được sự tinh cần quá độ … sau khi biết được sự tinh cần quá yếu đuối … sau khi biết được dục ái … sau khi biết được tưởng sai biệt; sau khi biết được trạng thái quá chú tâm đến sắc pháp là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ trạng thái quá chú trọng vào các sắc pháp, một phiền não của tâm.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang nhưng Ta không thấy các sắc pháp cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Ta thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta chỉ nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp: cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Ta chỉ thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Trong khi Ta không tác ý sắc tướng, nhưng có tác ý hào quang tướng, trong khi ấy ta nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp. Còn trong khi Ta không tác ý hào quang tướng, nhưng tác ý sắc tướng; trong khi ấy Ta thấy các sắc pháp, nhưng không nhận thấy hào quang, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy được các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và nhận thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Khi nào định có hạn lượng, khi ấy mắt của Ta có hạn lượng; với con mắt có hạn lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy sắc pháp có hạn lượng. Nhưng khi nào định của Ta không hạn lượng, trong khi ấy mắt của Ta thành vô lượng, và với con mắt vô lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang vô lượng và thấy các sắc pháp vô lượng cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
Này các Anuruddha, khi nào biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, thời nghi hoặc phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được không tác ý là một phiền não của tâm, thời không tác ý phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được hôn trầm, thụy miên …; khi nào biết được sợ hãi …; khi nào biết được phấn chấn …; khi nào biết được dâm ý …; khi nào biết được tinh cần quá độ …; khi nào biết được sự tinh cần quá yếu đuối …; khi nào biết được dục ái …; khi nào biết được tưởng sai biệt …; khi nào biết được trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp là một phiền não của tâm, thời trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp phiền não của tâm được đoạn trừ. Rồi này các Anur uddha, Ta suy nghĩ như sau: “Những phiền não tâm của Ta đã được đoạn trừ. Nay Ta tu tập ba loại định”.
Rồi này các Anuruddha, Ta tu tập định có tầm, có tứ; Ta tu tập định không có tầm, chỉ có tứ; Ta tu tập định không tầm, không tứ; Ta tu tập định có hỷ; Ta tu tập định không có hỷ; Ta tu tập định câu hữu với lạc; Ta tu tập định câu hữu với xả.
Này các Anuruddha, khi nào Ta tu tập định có tầm, có tứ; khi nào Ta tu tập định không tầm, chỉ có tứ; khi nào Ta tu tập định không có tầm, không có tứ; khi nào Ta tu tập định có hỷ; khi nào Ta tu tập định không có hỷ; khi nào Ta tu tập định câu hữu với xả, thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.5/8/2022.
Monday, August 1, 2022
If counting from the time when King Luong Vu De held the Vu Lan festival at Dong Thai pagoda in the fourth Dai Dong year (538), the Vu Lan festival of Northern Buddhism has had a history of nearly forming. 1,500 years. With that long history, has confirmed the unique contributions of this festival, in the process of cultural development of mankind in general and of Buddhism in particular. However, not every event with a long history is close to the truth of the majority, even if it is a humanistic festival like Vu Lan festival. Therefore, sometimes in some Buddhist forums, doubts about the origin, as well as concerns about the authenticity of the Vu Lan Sutra have appeared. Stemming from those doubts and concerns, which prompted us to conduct an examination of the origin as well as the formation of the Vu Lan Sutra, through the sources of the canonical canon and Nikāya documents. That is the main aim of this paper. Overview of the transmissions of the Vu Lan Sutra In the treasure trove of Vietnamese classics, the Vu Lan Sutra is now translated by many people. Among the first Vietnamese translations can be mentioned is the Sutra Vu Lan Ben Dien Nghia, printed in 1962, the translator unknown. The Vu Lan Ban Sutra, translated by Venerable Tri Quang, was published by the Golden Lotus Printing House in Saigon in 1971. In addition, many translators participated in the translation of this sutra. Basically, the Vietnamese translations are all based on the sutra called the Buddha's theory of Vu Lan Ben Kinh, translated from Sanskrit into Chinese by Truc Phap Ho (226-303)2. According to the statistics of Mr. Tang Huu in the Tripitaka Tripitaka, volume 2, in the list of 154 sutras translated by Mr. Truc Phap Ho, there is no Vu Lan4 Sutra. In addition, Mr. Tang Huu also discovered a sutra named Vu Lan but the translator was unknown, so he included it in the section New custom of composing and translating the sutras5. The Tripitaka Tripitaka is one of the first surviving scriptures, which is highly appreciated by academics in terms of documentation. In terms of the chronological gap between Mr. Truc Phap Ho and the compilation time of the Tripitaka Tripitaka, it is also quite close. Therefore, the recognition of Mr. Tang Huu is also one of the important notes about the origin of the Vu Lan Sutra. It can be said that the first person who recorded the Vu Lan Sutra translated by Mr. Dam Ma La Sat (Truc Phap Ho) was the scholar who translated the Truong Room Fund. According to the Calendar Dai Tam Bao Ky, volume 6, of the 210 sets of sutras translated by Truc Phap Ho, there is a version of Vu Lan (盂蘭經) 7. Phi Truong Phong is the author of the historical records of the Three Treasures Calendar, a catalog of classics, since Buddhism was present in China until the last years of the reign of Khai Hoang in the Sui Dynasty8. This work, in addition to its positive contribution in the statistics and rearrangement of the classics after the great tribulation of Emperor Zhou Wu, also has certain limitations. According to Mr. Tri Thang in Khai Nguyen Thich Cac Luc, the tenth volume, pointed out the ten mistakes of Fei Truong Phong that are reflected in the work of Calendar Dai Tam Bao Ky 10. Therefore, there are documents recorded by Truong Phong Fee, to ensure objectivity, it is necessary to check from other reliable sources. In the work The Law of Distinction, a classic anthology compiled under Emperor Wu's reign (reigned from 502-549), there is a version of the Vu Lan Sutra. Survey shows that this version is similar to that of Truc Phap Ho, but more condensed11. According to Khai Nguyen Thich Doctrine, Volume 2, Vu Lan Kinh is also another name of Vu Lan Kinh, in 175 translations of Truc Phap Ho, there is this sutra. In the work Buddhist theory of Vu Lan Ban Sutra, Mr. Tong Mi (780-841) said that the Vu Lan Sutra had translations with different names such as, in the time of Emperor Tan Vu, there was Dharma Master Dam Ma La Sat. (Truc Phap Ho-nv) translated Vu Lan Ben Kinh, during the reign of Emperor Hue, two Mr. Phap Cu and Phap Lap translated the Quan Lap Sutra, the third was the Annunciation (worshipping-nv) sutra of unknown translator12. The work of the Great Tang internal classic, volume 9 also said that, Vu Lan Ben Kinh, Quan Lap Kinh, Bao An Phu Kinh Kinh, Pure Land Vu Lan Ben Kinh13 are all the same. In the first Sanskrit-Han dictionaries, Neat Kinh Yin Yin, compiled by Mr. Huyen Ung and Tue Lam, also mentions the Vu Lanpen Sutra through the explanation of terms derived from Sanskrit. like Wang Yang (汪洋), The Ba la peace (鉢羅和飯)15… is used in this sutta. In addition, there are also many Sanskrit-Chinese terms from the Bat-Neptune sutta such as The Promise (貰許), Datsun (達嚫)16, Trial (栲治) recorded in Necessary. From the above information, it has been proved that, there was a Sanskrit version of the Vu Lan Sutra that was circulated during the time of Mr. Truc Phap Ho, which was translated by many translators with different names. It is worth noting that in the translations of Truc Phap Ho, there is a text called Bat Nehua Queen Quan Lap17. According to Khai Nguyen's love of teaching, book 12, then the Queen of Bat-Neighbourhood is Quan Lap Kinh. And as analyzed, the Quan Lap Kinh is another name for the Vu Lan Sutra. Thus, the incident of Fee Truong Phong recorded that Truc Phap Ho translated the Vu Lan Sutra as authentic information, compiled from a variety of sources. The relationship and evolution between the Vu Lan sutras and Muc Kien Lien Lien to save the model variables Three Vu Lan sutras are still in the Mahayana Canon, such as the Bat Ne-Queen Quan Lap18, the Buddha theory of Vu Lan Ben. Sutra 19, Buddha's doctrine of gratitude and service, 20 did not mention the identity of Venerable Muc Kien Lien as well as the reason why his mother fell into hell. Therefore, making it difficult for the reader to imagine the context of the problem. Therefore, there was a later work entitled Muc Kien Lien Lien Lien to save the model of variables21, in order to supplement those important and necessary details. In this work, the content related to the topic is in the first part, referred to as Variables for short. In terms of chronology, the Vu Lan Sutra was translated by Truc Phap Ho around the end of the third century and the beginning of the fourth century. Meanwhile, the date of the works of Dunhuang's Transfiguration in general and Muc Kien Lien Lien Lien's saving of the model of metamorphosis in particular, is determined from the 5th century to the end of the 10th century. According to the Transformation, Muc Kien Lien, when he was still at home, was named La Boc (羅卜), was very devoted to the Three Jewels and respected the Mahayana. His mother's name is Thanh De. On the occasion of preparing to trade far away, La Boc spent a part of the money left behind, telling his mother that: - When the Buddha and the monks come, mother should replace the son to make offerings. After La Boc went away, the mother had a mixed heart and hid money without organizing a wedding. When the son finished his work, he returned home and heard from his mother that I had done good according to his instructions. Because of deceiving ordinary saints, after her death, she immediately experienced suffering and retribution in the Abhi hell. Worried about the filial piety of the park, La Boc immediately left the Buddha's home. Due to diligence, listening to sutras and practice, plus depending on the conditions, he has attained Arahantship. After witnessing the fruition, Venerable Muc Lien used his Taoist eyes to observe the six paths of samsara, but his mother was nowhere to be found. Muc Lien immediately mourned and said to the Buddha: - World-Honored One, where is your mother and daughter present and is your body and mind safe? At that time, the World-Honored One replied: -His mother is currently in the A-Pi hell, experiencing immeasurable suffering. Although he witnessed Sainthood, he alone could not save his mother. He had to rely on the release day of the ten directions of the Sangha, thanks to the power of the Sangha's vows, to be able to save his mother. On that occasion, the Buddha had compassionate means to open this festival every year. The Vu Lan Pen Festival originates from here23. The story continues with the combination of two genres of prose and rhyme alternately, bearing the specific semantic style of the literary genre of Transfiguration24. The above is just a summary of the beginning of the Variables. Due to the requirements of the monograph, we only survey the main content related to the topic. It can be said that, although the author has not been found, the work of Transfiguration is a unique cultural work of Chinese Buddhism in the Tang Dynasty. An initial survey of the title as well as the main events in the work has proved that the author Van Van is not only well-versed in Confucianism and Laotian, capable of poetry and literature, but also an authoritative author. about Buddhism. Therefore, this work is not only absorbed by researchers and commentators of the Vu Lan Sutra25, but also popularly interested by cultural and literary researchers26. First of all, about the name La Bo (羅卜) of Mr. Mu Kien Lien. According to the Great Wisdom Doctrine, book 11 states that: The son of an astrologer (占師子), named Cau Luatu, they are Dai Muc Kien Lien27. The word Boc (卜) used in the work of Transformation is synonymous with the word Chiem (占) in the treatise Dai Tri Do. Regarding the word La (羅), the work Neet Kinh Yin Yin, volume 47 records that Mot Kien Lien ( cựu) is wrong. The great master Thien Thai Tri Gia in his work Wonderful Law Lotus Flower Sutra quoted him as saying that Dai Mu Kien Kien is also known as Ve Gia La (勿伽羅)28. Thus, La Boc is a descendant of astrological divination, named La. The names La Boc, Thanh De and vivid details from the Transfiguration also appear in the work of Buddha theory of Vu Lan Ban Sutra 29, composed by Mr. Tong Mi (780-841), referred to as the Sutra for short. Based on the internal structure, influence as well as popularity of the Transfiguration, we are inclined to the view that the Transfiguration work predates the Sutra work. In other words, Mr. Tong Mi commented on the Vu Lan Sutra based on the original Vu Lan Sutra translated by Mr. Truc Phap Ho, and based on the data described in detail in the work Transfiguration, related to the life span. before the ordination of Venerable Muc Kien Lien. Thus, the work The Transfiguration has played an important role in explaining the reason why the mother of the Venerable Muc Kien Lien fell to hell. On what basis is this explanation based, or is it just a purely literary creation written by a post-fictional person? In our opinion, the work of Transfiguration was formed based on a very early classical foundation. It is the Compilation of the Hundred Years of Love, the 5th volume translated by layman Chi Khiem. The content of the story is in the section Udala model of falling hungry ghosts, referred to as the Upada La model 30 for short. The relationship and adaptation between Muc Kien Lien Lien Lian Muoi and the model Udala Sutra First of all, to make it easier to imagine, we would like to briefly introduce part of the content of the sample Udala Sutra 31: A Once upon a time, the Buddha was living in the bamboo garden of Calanda in the city of Vajrasattva. At that time, in that country, there was a wealthy bourgeois, who gave birth to a son, handsome in appearance, and rare in the world, so he named him Uu Da La32. When Udala grew up, the bourgeois passed away. With regard to the Buddhadharma, Udala developed a heart of reverence and longing to leave home, so he implored his mother. The mother replied: -Your father is dead, besides you, I have no one left, so why would you leave me and leave home? Well, from now on, if you want to invite contemplatives and brahmins, then I will prepare delicious dishes for you to make offerings as you please. Listening to her mother, Udala was relieved. After that he often invited the recluses, Brahmins go home to make offerings. Udala's mother saw that the ascetics frequented, so she became disgusted and cursed at the ascetics and brahmins. Once Udala was away, the mother poured food and water into the ditch. When I returned, my mother immediately said: - I'm gone, I'm at home to buy delicious food and make offerings to the Sa-Mons and Brahmins. Udala heard his mother speak and was very happy. Later, the mother died and fell into a hungry ghost with a hot, dry mouth, hunger and thirst, and went to a bhikkhu who said: - I am your mother here. The bhikkhus wondered: - When my mother was still alive, I often gave alms, why today is she reborn as a hungry ghost? The hungry ghost replied: -Because of his mother's greed, mediocrity, she refused to make offerings to the Sa-Mons and Brahmins, so she had to bear the body of a hungry ghost. For twenty years she had not eaten or drank anything. The bhikkhu asked the hungry ghost: - Why is it like that? The hungry ghost replied: - Although we give alms, the mind is often sloppy. As for the ascetics and brahmins, they did not have respect and insults, so today they have to suffer this retribution. If you ask the Buddha and the Sangha to make offerings and repent and dedicate merit to you, then you will surely be free from the body of a hungry ghost. The Bhikkhu-stilts heard her mother's words, so she encouraged the patrons to buy food and other necessities, and make offerings to the Buddha and the monks. After making offerings, the hungry ghost appeared in front of the great assembly to repent and after experiencing several births and deaths, he was reborn in the Dao Loi heaven ... At that time, the Bhikkhu-stilts heard the Buddha's words and were happy to practice. The model Udala Sutra was translated by layman Chi Khiem in Dong Ngo during the years 222-253. This sutra also appears in the work of the Law of the Distinction, compiled during the Luong Dynasty33. That showed the prominence as well as the popularity of the model Udala Sutra in this period. In terms of content, both the Transfiguration and the model Udala Sutra have at least twelve similarities. Firstly, the main character line includes the father, mother, son, bhikkhu, Sangha and Buddha. Second, the son believes in the Three Jewels, but the mother is the opposite. Third, I asked you to make offerings, but you deceived and despised the Three Jewels. Fourth, after death, the mother falls into the body of a demon. Fifth, the son left home, wishing to find his mother. On Friday, the son met his mother in the body of a hungry ghost. Saturday, it's been a long time since the mother demon could drink or eat. Eighth, I alone cannot save you. Ninth, the son makes offerings to the Buddha and monks on behalf of his mother. Tenth, the monks' vows. The eleventh, the mother demon was born in Heaven. Twelveth, The Buddha praised, the Buddha's disciples were happy to practice. Although there is an almost complete similarity between the Transfiguration and the Model Udala Sutra, there is nevertheless an important difference. It is the work of Transformation that boldly changed the name of the main character, that is, changed the name of Bhikkhu-stilts U Da La to Venerable Muc Kien Lien. This change in Transfiguration, in our opinion, is due to the following reasons. First of all, Transfiguration is the continuing literary development of the Vu Lan Sutra. Therefore, the main character must be Mr. Muc Kien Lien. Secondly, in terms of name influence, if it is the story of Mr. Muc Kien Lien, the influence will be far-reaching, because Venerable is one of the great disciples of the Buddha. Thirdly, Muc Kien Lien is known to have had a predestined relationship with many species of hungry ghosts. The Chinese and Nikaya documents both confirm this. Wednesday, Mr. Muc Kien Lien himself went to hell to save sentient beings35, showed sentient beings how to save loved ones who are in the hungry ghost species36. Fifth, Muc Kien Lien once relied on the Buddha's divine power to visit his mother in the world of Ma-li-chi, which is recorded in the Basics of Neighborhood in the Pi-complaints Medicine 37. From these five points, it is shown that the work of Transfiguration has selectively acclimatized, although it is freely creative, it is still based on reliable canonical sources. To be more specific, the Transfiguration work is a highly creative synthesis between many sutras, mainly the Vu Lan Sutra and the Model Udala Sutra. This sample Udala Sutra is present in famous scriptures such as the Tripitaka Tripitaka, volume 2, Calendar Dai Tam Bao Ky, volume 5, Khai Nguyen like teaching Luc, volume 2... that has shown the original version. Menstruation was recognized very early. It is particularly interesting, because through in-depth interrogation, we have discovered that the content of the sample Udala Sutra is present in the Nikāya documents located in the collection of hungry ghosts. Comparison between the Udala model and the hungry ghosts in the Nikāya Canon According to the great Buddhist dictionary of Dinh Phuc Bao, the Udala is translated from the word Uttara38. One more reference to the Dictionary of Pāli Proper Names, we easily find similar relationships in the Nikāya Canon. From this initial basis, opened a new discovery in our monograph. As mentioned, the work Udala model is an abbreviation for Uda La's mother of falling hungry ghosts translated by layman Chi Khiem. We have discovered the equivalent Pāli original named Uttaramātu Petavatthu39, which is translated close to the original: Uttaramātu's mother of demons40. There are two works in the Pāli Canon concerning the hungry ghosts. That is the Preta thing in the collection of the Minor and the work Commentary on the hungry ghosts of Mr. Dhammapāla. Both of these works convey many vivid details about the story related to the character Uttara. For ease of follow-up, we would like to introduce the full text of Uttara's mother's story translated by layman Tran Phuong Lan, presently in the Minor suttas, volume 241. Uttara's mother's story (Uttaramātu) After the Master passed away, in The time of the first sutta assembly was underway42, Venerable Mahā-Kaccayāna and twelve bhikkhus were residing in a certain forest near Kosambi. At that time Uttara, the heir to the state teacher of the Udena dynasty, was with a group of carpenters looking for wood to repair a house, and this Elder gave a sermon. Later on, Uttara often offered him food and built him a herb garden. But Uttara's mother resented such offerings. She said: - I hope that any food you offer to the Sa-Mons that I disagree with will become blood for you to drink in the next life. However, on the day of the house offering, she allowed a bundle of peacock tail feathers to be donated. When she passed away, she was reborn as a female hungry ghost and because she had offered a bundle of peacock tail feathers, she had very long, beautiful and long, wavy, black hair. Whenever the female ghoul came down and said to herself, 'I will drink the water of the Ganges', the river turned red blood. After wandering for fifty years, tormented by hunger and thirst, one day the hungry ghost saw the Elder Kankhā Revata sitting on the bank of the Ganges for lunch: This conversation followed. The first two stanzas of their stanzas collect the sutras: 1- When a bhikkhu comes to rest for lunch And sits on the wharf of Hang Ha, Near you, Horrible female demon, timid posture, stepped out. 2- That demon woman's hair is very long Released to the ground, let loose, Covering her body with those hair bundles, The female ghost said to the venerable story of life: The female hungry ghost: 3- Fifty years have passed away, I have not know what food to eat. Venerable, give me some water, I am thirsty for water. Bhikkhu: 4- This is the cool water of the Ganges Flowing down from the mountains of Snow Mountain, Take that water and drink it quickly, Why do you ask for water from the stream? Female hungry ghost: 5- Venerable sir, if I personally draw water from the river, the water will turn into blood, and so I beg you for some clear water. Bhikkhu: 6- In the past, did you commit any evil deeds By speech, mind, and body committed, From what karma did your hand touch the water of the Ganges into blood, why? Female pretas: 7- My son, Uttara, Formerly a layman at home. Offering offerings to the contemplatives with food, bed linen, medicinal herbs, and robes. 8- My heart was stirred by greed, so I slandered him: 'Whatever I don't want you to offer to the ascetics, 9- 'Uttara, that's what I pray to the City. blood for you in the next life'. Due to this karma, the hand touched the water of the Ganges River turned blood a long time ago. At that time Venerable Revata offered water to the Sangha and dedicated the merit to the female hungry ghost. Then the Venerable went for alms and when he had received the food, he offered it to the monks. Then the venerable took some rags from the pile of garbage, washed them, dried them, and sewed them into robes and made offerings to the Sangha. Thanks to that, the female hungry ghost enjoyed heavenly bliss, and immediately presented to the Elder the matter and expressed the divine happiness it had achieved. From the above content, it has been shown that most of the content of the work Udala Mother Demon is similar to the content of Upada La model falling hungry ghost. Only considering 12 similarities between the Transfiguration and the Upada La sutras in the Han system; then Udala Mother of the Devil belongs to the Pāli literature with only a few minor differences. The difference in item 3. If in the case of Van Van and Uu Da La, the young Uu Da La asked his mother to give him an offering, in U Da La there is no such detail, but still preserves the detail that the mother despises the Three Jewels. . The difference is the 5th item. If the variable and U Da La model, Bhikkhu-stilts U Da La went to find his mother after witnessing the Way; then in Udala there is no such detail, but the opposite information, that is, the mother is looking for her child. Differences item 6. If the Variable and Udala model, Bhikkhu-stilts Udala meets his biological mother; then in the Udala, the mother met Venerable Revata. The 9th item difference. If the variable and Udala form, Bhikkhu-stilts Udala on behalf of his mother to make offerings; then in Udala Venerable Revata instead of hungry ghosts made offerings to the monks. The difference in item 12. Instead of the Buddha's praise, in the Udala Elder Revata praised this good work and advised everyone to follow it. The five differences mentioned above may appear due to the influence of cultural context, or because the translators actively added them, or even unintentionally, leading to errors in the storage process. Editor. In our opinion, these differences do not change the main content to which the work is intended. Here, there is one point to note. Because in the original Pāli of the Pāli Text Society, the story of Uttaramātu Petavatthu (Uttara of the Devil), is in the Vimānavatthu and Petavatthu, consists of only nine very condensed verses43. But in the translation of layman Tran Phuong Lan, there is an introduction and an end, so the content of the story is easier to understand and more concise. After reviewing, we found that layman Tran Phuong Lan's translation is a combination of nine verses from the original Preta work and the Presbyterian Commentary by Venerable Dhammapāla44. In terms of chronology, Venerable Dhammapāla lived around the 5th century CE, he made a commentary on the hungry ghosts while staying at Badaratitthavihāra monastery45. Meanwhile, his commentary on Udala Mother of the Devil is largely similar to the work of Udala Mother of Falling Ghouls, translated by layman Chi Khiem in the middle of the third century. That shows, the commentary on the Udara Mother of the Venerable Dhammapāla has inherited from a source similar to that of layman Chi Khiem. From the above analysis and comparison, it has been shown that the content similarities between the works of Uttara's mother, Uttara's mother's story, and Muc Kien Union's collusion to save the model, and Uttara's fall predicament, has led to an assertion, in the Nikāya Canon exists a work with content similar to the Vu Lan Sutra; That is the work Uttara's mother's story translated by layman Tran Phuong Lan. Comments Since the Buddha allowed his disciples to study the scriptures in his local language46, the number of multilingual canonical translations has grown tremendously. In the process of preserving and translating the scriptures, many changes have been made in the structure, including the names or metaphors used in the canon. The Vu Lan Sutra is such a case. However, The similarity of the basic content between the two sources of Chinese and Nikāya materials through the above comparison, has at the same time confirmed the authenticity and consistency of the Buddhadharma in general and the Vu Lan Sutra in particular. The survey also showed that doing good deeds in the name of someone else still brings about winning results for them, even if it is not their loved ones. The unselfishness of Buddhism is affirmed at this point. In terms of rituals, the items may be as simple as drinking water, rice soup and rags, but Venerable Revata still freed Uttaramātu from suffering, as the Nikāya documents point out. Therefore, doing many good deeds in the name of parents, or deceased relatives, including making offerings to the Three Jewels, is the right thing to do. Not only that, the sources also noted that the object's development, combined with the power of the monks' vows, will create positive transformational energies. A sutra is quite short and is present in both traditions, but with Northern Buddhism it is transformed into a mass festival event, bringing about a holy transformation in the minds of many people, and gently spreading the word. spread the influence of Buddhism to the majority of non-Buddhists; that shows the creative dynamism of the preachers, including the role of protector of Buddhist monarchs in China in the early period. Therefore, the Northern tradition of Vu Lan Festival or the Uttara Festival, according to the Nikāya Canon, is a cultural creation imbued with wisdom, which should be recognized, preserved and praised.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=BUDDHIST DHARMA WHEEL GOLDEN MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.2/8/2022.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
KINH VU LAN
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538)1, thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm. Với chiều dài lịch sử đó, đã khẳng định những cống hiến riêng có của lễ hội này, trong tiến trình phát triển văn hóa của nhân loại nói chung và của Phật giáo nói riêng.
Tuy nhiên, không phải mọi sự kiện có bề dày lịch sử đều gần với chân lý của số đông, cho dù đó là một sự kiện lễ hội đậm chất nhân văn như lễ Vu lan. Do vậy, nên đôi khi trong một số diễn đàn Phật học đã xuất hiện những hoài nghi về xuất xứ, cũng như băn khoăn về tính chân thực của kinh Vu lan.
Xuất phát từ những hoài nghi và trăn trở đó, đã thôi thúc chúng tôi thực hiện việc khảo chứng về nguồn gốc cũng như quá trình hình thành kinh Vu lan, qua các nguồn kinh điển Hán tạng và tư liệu Nikāya. Đó chính là mục tiêu chủ yếu của bài khảo luận này.
Khái lược về các truyền bản kinh Vu lan
Trong kho tàng kinh điển tiếng Việt, kinh Vu lan hiện được nhiều người phiên dịch. Trong số những dịch phẩm tiếng Việt đầu tiên có thể kể đến là kinh Vu lan bồn diễn nghĩa, in vào năm 1962, không rõ dịch giả. Kinh Vu lan bồn, do Hòa thượng Trí Quang dịch, Nhà in Sen Vàng ấn hành tại Sài Gòn vào năm 1971, ngoài ra còn có nhiều dịch giả cùng tham gia phiên dịch bản kinh này. Về cơ bản, các bản dịch tiếng Việt đều dựa trên bản kinh mang tên Phật thuyết Vu lan bồn kinh do ngài Trúc Pháp Hộ (226-303)2 phiên dịch từ Phạn sang Hán3.
Theo thống kê của ngài Tăng Hựu trong Xuất Tam tạng ký tập, quyển 2, trong danh mục 154 bộ kinh do ngài Trúc Pháp Hộ phiên dịch thì không có kinh Vu lan4. Không những vậy, ngài Tăng Hựu cũng phát hiện một bản kinh mang tên Vu lan nhưng không rõ dịch giả, nên đã đưa vào mục Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh5. Xuất Tam tạng ký tập là một trong những bộ kinh lục đầu tiên hiện còn, được học giới đánh giá cao về phương diện tư liệu. Xét về khoảng cách niên đại giữa ngài Trúc Pháp Hộ và thời điểm biên soạn tác phẩm Xuất Tam tạng ký tập cũng khá gần nhau6. Do vậy, sự ghi nhận của ngài Tăng Hựu cũng là một trong những lưu ý quan trọng về nguồn gốc bản kinh Vu lan.
Có thể nói, người đầu tiên ghi nhận kinh Vu lan do ngài Đàm Ma La Sát (Trúc Pháp Hộ) phiên dịch, chính là học giả phiên kinh Phí Trường Phòng. Theo Lịch đại Tam bảo ký, quyển 6, trong 210 bộ kinh do Trúc Pháp Hộ phiên dịch, có bản kinh Vu lan (盂蘭經)7. Phí Trường Phòng là tác giả bộ kinh lục Lịch đại Tam bảo ký, thống kê danh mục kinh điển, kể từ khi Phật giáo có mặt tại Trung Hoa cho đến những năm cuối của niên hiệu Khai Hoàng ở thời nhà Tùy8. Tác phẩm này, ngoài phương diện đóng góp tích cực trong việc thống kê, sắp xếp lại kinh điển sau đại pháp nạn của Chu Vũ Đế9, thì còn có những hạn chế nhất định. Theo ngài Trí Thăng trong Khai nguyên thích giáo lục, quyển thứ mười, đã chỉ ra mười điều sai lầm của Phí Trường Phòng được thể hiện trong tác phẩm Lịch đại Tam bảo ký10. Do vậy, có những tư liệu do Phí Trường Phòng ghi nhận, để đảm bảo tính khách quan thì cần nên phối kiểm từ các nguồn tư liệu khả tín khác.
Trong tác phẩm Kinh luật dị tướng, một tuyển tập kinh điển được tập thành dưới thời Lương Vũ Đế (tại vị từ 502-549), có một bản kinh Vu lan. Khảo sát cho thấy, bản này tương tự như bản dịch của ngài Trúc Pháp Hộ, nhưng cô đọng hơn11. Theo Khai nguyên thích giáo lục, quyển 2, Vu lan kinh cũng là tên gọi khác của Vu lan bồn kinh, trong 175 dịch phẩm của ngài Trúc Pháp Hộ, có bản kinh này.
Trong tác phẩm Phật thuyết Vu lan bồn kinh sớ, ngài Tông Mật (780-841) cho rằng, kinh Vu lan có các bản dịch với những tên gọi khác nhau như, ở thời Tấn Vũ Đế, có Pháp sư Đàm Ma La Sát (Trúc Pháp Hộ-nv) dịch Vu lan bồn kinh, thời Huệ Đế, hai ngài Pháp Cự và Pháp Lập dịch Quán lạp kinh, thứ ba là Báo ân (phụng bồn-nv) kinh không rõ dịch giả12. Tác phẩm kinh lục Đại Đường nội điển lục, quyển 9 cũng cho rằng, Vu lan bồn kinh, Quán lạp kinh, Báo ân phụng bồn kinh, Tịnh độ Vu lan bồn kinh13 đều giống nhau.
Trong bộ tự điển Phạn-Hán đầu tiên, tác phẩm Nhất thiết kinh âm nghĩa14, do ngài Huyền Ứng và Tuệ Lâm biên soạn, cũng đề cập đến kinh Vu lan bồn thông qua việc giải thích những thuật ngữ có nguồn gốc từ Phạn ngữ như Uông dương (汪洋), Bát la hòa phạn (鉢羅和飯)15…được sử dụng trong bản kinh này. Bên cạnh đó, cũng có nhiều thuật ngữ Phạn-Hán từ bản kinh Bát Nê-hoàn hậu quán lạp như Thế hứa (貰許), Đạt sấn (達嚫)16, Khảo trị (栲治) được ghi lại trong Nhất thiết kinh âm nghĩa, quyển 44.
Từ những thông tin trên đã chứng minh rằng, đã có một Phạn bản kinh Vu lan được lưu hành trong thời ngài Trúc Pháp Hộ, được nhiều dịch giả phiên dịch với những tên gọi khác nhau. Điều đáng chú ý, trong những dịch phẩm của ngài Trúc Pháp Hộ, có một bản kinh mang tên Bát Nê-hoàn hậu quán lạp17. Theo, Khai nguyên thích giáo lục, quyển 12, thì Bát Nê-hoàn hậu quán lạp chính là Quán lạp kinh. Và như đã phân tích, Quán lạp kinh chính là tên gọi khác của kinh Vu lan.
Như vậy, sự kiện Phí Trường Phòng ghi nhận rằng, Trúc Pháp Hộ dịch kinh Vu lan là thông tin xác thực, được phối kiểm từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau.
Mối liên hệ và sự tiếp biến giữa kinh Vu lan và Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn
Ba bản kinh Vu lan hiện còn trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu như Bát Nê-hoàn hậu quán lạp18, Phật thuyết Vu lan bồn kinh19, Phật thuyết báo ân phụng bồn kinh20 đều không đề cập đến nhân thân của Tôn giả Mục Kiền Liên cũng như nguyên nhân vì sao mà mẹ của Tôn giả bị đọa địa ngục. Chính vì vậy, làm cho người đọc khó hình dung ra bối cảnh của vấn đề. Thế nên, đã có một tác phẩm đời sau mang tên Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn21, nhằm bổ sung những chi tiết quan trọng và cần thiết đó. Trong tác phẩm này, nội dung liên hệ đến đề tài nằm ở phần đầu, gọi tắt là Biến văn.
Xét về niên đại, kinh Vu lan do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào khoảng cuối thế kỷ thứ III đầu thế kỷ thứ IV. Trong khi đó niên đại của những tác phẩm Biến văn Đôn Hoàng nói chung và Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn nói riêng, được xác định vào khoảng từ thế kỷ thứ V đến cuối thế kỷ thứ X22.
Theo Biến văn, Mục Kiền Liên khi còn ở tại gia tên là La Bốc (羅卜), rất thâm tín Tam bảo và kính trọng Đại thừa. Mẹ ngài tên là Thanh Đề. Nhân một lần chuẩn bị giao thương buôn bán xa, nên La Bốc đã dành một phần tiền bạc để lại, dặn mẹ rằng:
- Khi nào có Đức Phật và chư Tăng đến, thì mẹ hãy thay con thiết trai cúng dường.
Sau khi La Bốc đi xa, người mẹ đã khởi tâm xan lẫn, cất giấu tiền bạc mà không tổ chức thiết trai. Người con lo việc xong liền trở về nhà, nghe mẹ bảo rằng, ta đã làm phước theo lời con dặn. Nhân vì lừa dối phàm thánh, nên sau khi mệnh chung, bà liền thọ khổ báo trong địa ngục A-tỳ. Lo việc hiếu sự châu viên, La Bốc liền đầu Phật xuất gia. Do siêng năng, nghe kinh tu tập, cộng với nương nhờ túc duyên nên đã chứng quả A-la-hán. Sau khi chứng quả, Tôn giả Mục Liên đã dùng đạo nhãn quán sát sáu nẻo luân hồi nhưng không thấy mẹ đâu. Mục Liên liền bi ai bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, mẹ con hiện ở phương nào và thân tâm có yên ổn không?
Lúc đó, Thế Tôn đáp rằng:
- Mẹ ông hiện đọa địa ngục A-tỳ, thọ vô lượng khổ. Ông tuy chứng Thánh quả, nhưng một mình thì không thể cứu mẹ được đâu. Phải nương vào ngày giải hạ của mười phương Tăng chúng, nhờ sức mạnh chú nguyện của chúng Tăng, mới có thể cứu độ mẹ ông.
Nhân đó, Đức Phật đã từ bi phương tiện khai mở lễ hội này hàng năm. Lễ Vu lan bồn khởi nguồn từ đây vậy23.
Câu chuyện được tiếp tục với sự kết hợp giữa hai thể loại văn xuôi và văn vần xen kẽ, mang phong cách ngữ nghĩa đặc thù của dòng văn học Biến văn24. Trên đây chỉ là sơ lược phần khởi đầu của Biến văn. Do vì yêu cầu của chuyên khảo, nên chúng tôi chỉ khảo sát những nội dung chính liên quan đến đề tài.
Có thể nói, tác phẩm Biến văn mặc dù chưa tìm ra tác giả, nhưng quả là một tác phẩm văn hiến đặc thù của Phật giáo Trung Quốc trong đại thời nhà Đường. Khảo sát bước đầu về tên gọi cũng như các sự kiện chính trong tác phẩm, đã chứng tỏ tác giả Biến văn không những am tường Nho-Lão, có khả năng thi phú, văn chương, mà còn là một tác gia có thẩm quyển về Phật học. Chính vì vậy, tác phẩm này không những được các nhà nghiên cứu và chú giải kinh Vu lan tiếp thu25, mà còn được giới nghiên cứu văn hóa, văn học quan tâm phổ biến26.
Trước hết, về tên gọi La Bốc (羅卜) của ngài Mục Kiền Liên. Theo luận Đại trí độ, quyển 11 ghi rằng: Con của một chuyên gia chiêm tinh (占師子), tên là Câu Luật Đà, họ là Đại Mục Kiền Liên27. Chữ Bốc (卜) được dùng ở trong tác phẩm Biến văn đồng nghĩa với chữ Chiêm (占) trong luận Đại trí độ. Về chữ La (羅), tác phẩm Nhất thiết kinh âm nghĩa, quyển 47 ghi rằng, Một Lực Già La Tử (沒力伽羅子) cựu dịch Mục Kiền Liên là sai vậy. Ngài Thiên Thai Trí Giả đại sư trong tác phẩm Diệu pháp liên hoa kinh văn cú, đã dẫn lời ngài Chân Đế cho rằng, Đại Mục Kiền Kiên còn được gọi là Vật Già La (勿伽羅)28. Như vậy, La Bốc là người thuộc dòng dõi chiêm tinh bói toán, tên là La.
Tên gọi La Bốc, Thanh Đề và các chi tiết sinh động từ Biến văn còn xuất hiện trong tác phẩm Phật thuyết Vu lan bồn kinh sớ29, do ngài Tông Mật (780-841) soạn, gọi tắt là bản Kinh sớ. Căn cứ vào cấu trúc nội tại, tầm mức ảnh hưởng cũng như tính phổ biến của Biến văn, chúng tôi nghiêng về quan điểm cho rằng tác phẩm Biến văn có trước tác phẩm Kinh sớ. Nói cách khác, ngài Tông Mật chú giải kinh Vu lan căn cứ trên nguyên bản kinh Vu lan do ngài Trúc Pháp Hộ phiên dịch, và dựa vào những cứ liệu được mô tả chi tiết trong tác phẩm Biến văn, liên quan đến quãng đời trước khi xuất gia của Tôn giả Mục Kiền Liên.
Như vậy, tác phẩm Biến văn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lý giải nguyên nhân vì sao mà mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên bị đọa địa ngục. Sự lý giải này dựa trên cơ sở nào, hay chỉ là sáng tác văn học thuần túy do người sau hư cấu viết ra? Theo chúng tôi, tác phẩm Biến văn được hình thành dựa trên một nền tảng kinh điển có từ rất sớm. Đó là kinh Soạn tập bách duyên, quyển thứ 5 do cư sĩ Chi Khiêm dịch. Nội dung câu chuyện nằm trong mục Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên, gọi tắt là kinh Ưu Đa La mẫu30.
Mối liên hệ và sự tiếp biến giữa Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn
và kinh Ưu Đa La mẫu
Trước hết, để dễ dàng hình dung, chúng tôi xin giới thiệu tóm lược một phần nội dung kinh Ưu Đa La mẫu31:
Một thuở nọ, Đức Phật ở trong vườn trúc Ca-lan-đà thuộc thành Vương-xá. Lúc ấy, trong nước đó có một vị trưởng giả giàu có, sinh được một bé trai, tướng mạo khôi ngô, trên đời ít có nên đặt tên là Ưu Đa La32.
Khi Ưu Đa La lớn khôn thì trưởng giả qua đời. Đối với Phật pháp, Ưu Đa La phát tâm kính tín và mong mỏi xuất gia, nên đã khẩn khoản xin mẹ. Người mẹ đáp:
- Cha con đã chết, ngoài con ra ta không còn ai, vậy sao con nỡ bỏ ta mà xuất gia? Thôi từ đây, nếu như con muốn thỉnh các Sa-môn, Bà-la-môn, thì mẹ sẽ sắm sửa các món ngon để con tùy ý cúng dường.
Nghe mẹ nói, Ưu Đa La an lòng. Sau đó chàng thường thỉnh các Sa-môn, Bà-la-môn về nhà để cúng dường.
Mẹ của Ưu Đa La thấy các đạo sĩ thường xuyên lui tới nên bà sinh tâm chán ghét, chửi mắng các Sa-môn, Bà-la-môn.
Có lần Ưu Đa La đi vắng, người mẹ bèn đổ thức ăn và nước uống xuống hố bỏ. Khi con về, mẹ liền nói:
- Con đi rồi, mẹ ở nhà sắm sửa thức ăn ngon cúng dường cho các Sa-môn, Bà-la-môn rồi.
Ưu Đa La nghe mẹ nói, rất vui mừng. Về sau người mẹ qua đời và bị đọa vào loài ngạ quỷ miệng khô nóng, đói khát khổ sở, đi đến chỗ vị Tỳ-kheo nói rằng:
- Ta là mẹ của con đây.
Tỳ kheo lấy làm lạ hỏi:
- Lúc còn sống, mẹ tôi thường bố thí, vì sao ngày nay lại bị đọa vào loài ngạ quỷ?
Ngạ quỷ đáp:
- Vì mẹ tham lam, bỏn sẻn, không chịu cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn, vì thế mà phải chịu làm thân ngạ quỷ. Trong suốt hai mươi năm, mẹ không được ăn uống gì cả.
Tỳ-kheo hỏi ngạ quỷ:
- Do đâu mà đến nỗi như vậy?
Ngạ quỷ đáp:
- Tuy ta bố thí nhưng tâm thường bỏn sẻn. Đối với các Sa-môn, Bà-la-môn không có tâm cung kính, lại còn nhục mạ, nên ngày nay phải chịu quả báo này. Nếu thầy thỉnh Đức Phật và chúng Tăng cúng dường và sám hối, hồi hướng công đức cho ta, thì chắc chắn ta sẽ thoát khỏi thân ngạ quỷ.
Tỳ-kheo nghe mẹ nói nên đã khuyến cầu các thí chủ sắm sửa thức ăn và các thứ cần dùng, cúng dường Đức Phật và chư Tăng. Sau khi cúng dường xong, ngạ quỷ hiện thân trước đại chúng sám hối và sau khi trải qua vài lần sanh tử thì được sanh lên tầng trời Đao Lợi
…Lúc ấy các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy đều vui mừng thực hành.
Kinh Ưu Đa La mẫu do cư sĩ Chi Khiêm dịch tại Đông Ngô trong khoảng những năm 222-253. Bản kinh này cũng xuất hiện trong tác phẩm Kinh luật dị tướng, được tập thành vào thời nhà Lương33. Điều đó đã cho thấy sự nổi bật cũng như tính phổ biến của kinh Ưu Đa La mẫu vào thời kỳ này. Xét về phương diện nội dung, cả Biến văn và kinh Ưu Đa La mẫu đều có ít nhất mười hai điểm tương đồng.
Thứ nhất, tuyến nhân vật chủ yếu bao gồm người cha, mẹ, đứa con trai, vị Tỳ-kheo, chúng Tăng và Đức Phật.
Thứ hai, người con thâm tín Tam bảo nhưng người mẹ thì ngược lại.
Thứ ba, con nhờ mẹ cúng dường, nhưng mẹ lại lừa dối và khinh khi Tam bảo.
Thứ tư, sau khi chết, người mẹ đọa làm thân quỷ.
Thứ năm, người con xuất gia, mong muốn tìm mẹ.
Thứ sáu, người con gặp lại mẹ trong thân quỷ đói.
Thứ bảy, đã rất lâu quỷ mẹ không thể uống hay ăn.
Thứ tám, một mình con không thể cứu mẹ.
Thứ chín, người con thay mẹ cúng dường Đức Phật và chư Tăng.
Thứ mười, được chư Tăng chú nguyện.
Thứ mười một, quỷ mẹ được sanh lên Thiên giới.
Thứ mười hai, Đức Phật tán thán, đệ tử Phật hoan hỷ thực hành.
Mặc dù giữa Biến văn và kinh Ưu Đa La mẫu giống nhau gần như hoàn toàn, tuy nhiên vẫn có một điểm khác biệt quan trọng. Đó là tác phẩm Biến văn đã mạnh dạn thay đổi tên nhân vật chính, tức là thay đổi tên Tỳ-kheo Ưu Đa La thành Tôn giả Mục Kiền Liên. Sự thay đổi này ở tác phẩm Biến văn theo chúng tôi, được xuất phát từ những lý do sau.
Trước hết, tác phẩm Biến văn là sự phát triển tiếp tục về phương diện văn chương của bản kinh Vu lan. Do vậy, nhân vật chính phải là ngài Mục Kiền Liên.
Thứ hai, xét về ảnh hưởng danh xưng, nếu là câu chuyện của ngài Mục Kiền Liên thì tầm ảnh hưởng sẽ sâu rộng, vì Tôn giả là một trong những đệ tử lớn của Phật.
Thứ ba, ngài Mục Kiền Liên được biết đến là người có duyên tiếp xúc với nhiều loài ngạ quỷ. Tư liệu Hán tạng và Nikaya đều khẳng định việc này34.
Thứ tư, ngài Mục Kiền Liên đã tự mình vào địa ngục cứu độ chúng sanh35, đã chỉ bày cho chúng sanh cách thức cứu độ người thân đang ở trong loài ngạ quỷ36.
Thứ năm, ngài Mục Kiền Liên đã từng nương nhờ thần lực của Đức Phật để đi thăm mẹ ở thế giới Ma-lợi-chi, được ghi lại trong Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Tỳ-nại-da dược sự37.
Từ năm điểm này đã cho thấy, tác phẩm Biến văn đã tiếp biến có chọn lọc, tuy tự do sáng tạo nhưng vẫn dựa trên những nguồn kinh điển khả tín. Nói rõ hơn, tác phẩm Biến văn là sự tổng hợp mang tính sáng tạo đỉnh cao giữa nhiều bản kinh, mà trong đó chủ yếu là kinh Vu lan và kinh Ưu Đa La mẫu.
Bản kinh Ưu Đa La mẫu này có mặt trong những bộ kinh lục nổi tiếng như Xuất Tam tạng ký tập, quyển 2, Lịch đại Tam bảo ký, quyển 5, Khai nguyên thích giáo lục, quyển 2…điều đó đã cho thấy bản kinh đã được ghi nhận từ rất sớm.
Điều đặc biệt kỳ thú, vì qua sự đối khảo chuyên sâu, chúng tôi đã phát hiện nội dung bản kinh Ưu Đa La mẫu hiện diện trong tư liệu Nikāya nằm ở tập Ngạ quỷ sự.
So sánh giữa kinh Ưu Đa La mẫu và Ngạ quỷ sự trong Kinh tạng Nikāya
Theo Đại từ điển Phật học của Đinh Phúc Bảo, Ưu Đa La được dịch từ chữ Uttara38. Thêm một lần tham khảo Dictionary of Pāli Proper Names, chúng tôi dễ dàng tìm ra những liên hệ tương đồng trong Kinh tạng Nikāya. Từ cơ sở ban đầu này, đã mở ra một phát hiện mới trong chuyên khảo của chúng tôi.
Như đã trình bày, tác phẩm Ưu Đa La mẫu là tên gọi tắt của Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên do cư sĩ Chi Khiêm dịch. Chúng tôi đã phát hiện nguyên tác Pāli tương đương mang tên Uttaramātu Petavatthu39, được dịch sát với nguyên bản là: Uất Đa La mẫu quỷ sự40.
Trong Kinh tạng Pāli, liên quan đến chuyện ngạ quỷ có hai tác phẩm. Đó là Ngạ quỷ sự nằm trong tập kinh Tiểu bộ và tác phẩm Chú giải ngạ quỷ sự của ngài Dhammapāla. Cả hai tác phẩm này đều chuyên chở nhiều tình tiết sinh động về câu chuyện liên quan đến nhân vật Uttara. Để tiện theo dõi, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn Chuyện mẹ của Uttara do cư sĩ Trần Phương Lan dịch, hiện nằm trong kinh Tiểu bộ, tập 241.
Chuyện mẹ của Uttara (Uttaramātu)
Sau khi bậc Đạo Sư diệt độ, vào thời đại hội kết tập kinh điển đầu tiên đang diễn tiến42, Tôn giả Mahā-Kaccayāna (Đại Ca Chiên Diên) cùng mười hai Tỳ-kheo đang cư trú trong ngôi rừng nọ gần Kosambi (Kiều-thưởng-di).
Thời ấy Uttara, vị nam tử thừa kế của vị quốc sư triều vua Udena, đang cùng đám thợ mộc đi tìm gỗ để sửa nhà, và được Trưởng lão này thuyết pháp.
Về sau Uttara thường cúng dường vị ấy thực phẩm và xây tặng vị ấy một thảo am.
Song bà mẹ của Uttara căm hận những việc cúng dường ấy. Bà bảo:
- Ta mong bất cứ thức ăn uống nào con cúng các Sa-môn mà ta không đồng ý đều trở thành máu cho con uống ở đời sau.
Tuy thế, vào ngày cúng dường am thất, bà cho phép tặng một bó lông đuôi công. Khi từ trần, bà tái sanh làm nữ ngạ quỷ và do đã cúng dường một bó lông đuôi công ấy, nữ ngạ quỷ có mái tóc đen thật dài, uốn lượn óng ả rất đẹp và dài tha thướt.
Bất cứ khi nào nữ ngạ quỷ bước xuống tự nhủ: ‘Ta sẽ uống nước sông Hằng’ thì dòng sông trở thành máu đỏ. Sau khi đã đi lang thang suốt năm mươi năm bị đói khát giày vò, ngày kia nữ ngạ quỷ chợt thấy Trưởng lão Kankhā Revata (Kankhā Ly-bà-la) ngồi nghỉ trưa bên bờ sông Hằng:
Cuộc đối thoại này tiếp theo sau hai vần kệ đầu của chư vị kết tập kinh điển:
1- Khi một Tỳ-kheo đến nghỉ trưa
Và ngồi trên bến nước Hằng hà,
Gần người, nữ quỷ hình ghê rợn,
Dáng điệu rụt rè, tiến bước ra.
2- Mái tóc quỷ nương ấy thật dài
Thả ra chấm đất, được buông lơi,
Che thân bằng các chùm tóc ấy,
Nữ quỷ thưa Tôn giả chuyện đời:
Nữ ngạ quỷ:
3- Năm mươi năm đã giã từ trần,
Con chẳng biết gì thức uống ăn.
Tôn giả, cho con xin chút nước,
Hiện con đang khát nước muôn phần.
Tỳ-kheo:
4- Đây dòng nước mát của sông Hằng
Chảy xuống từ miền núi Tuyết Sơn,
Hãy lấy nước kia và uống gấp,
Sao ngươi xin nước ở trên dòng?
Nữ ngạ quỷ:
5- Tôn giả, xin thưa, nếu chính con
Tự tay lấy nước ở dòng sông,
Nước liền thành máu, và vì thế
Con khẩn cầu ngài chút nước trong.
Tỳ-kheo:
6- Ngày xưa đã phạm ác hạnh nào
Do khẩu, ý, thân đã phạm vào,
Từ nghiệp quả gì tay ấy chạm
Nước sông Hằng hóa máu, vì sao?
Nữ ngạ quỷ:
7- Nam tử của con, Ut-ta-ra,
Xưa vốn là cư sĩ tại gia
Đem cúng các Sa-môn thực phẩm,
Tọa sàng, dược liệu, áo cà-sa.
8- Lòng con sôi động bởi xan tham
Thúc giục, nên con phỉ báng chàng:
‘Bất cứ vật gì ta chẳng muốn
Ngươi đem dâng cúng các Sa-môn,
9- ‘Ut-ta-ra, thứ ấy, ta cầu
Thành máu cho ngươi ở kiếp sau’.
Do nghiệp quả này, tay chạm phải
Nước sông Hằng hóa máu từ lâu’.
Khi ấy Tôn giả Revata cúng dường nước lên Tăng chúng và hồi hướng công đức cho nữ ngạ quỷ. Sau đó Tôn giả đi khất thực và khi đã nhận được thức ăn Tôn giả cúng dường chư Tăng. Rồi Tôn giả lấy một ít giẻ rách từ đống rác, rửa sạch, phơi khô xong, Tôn giả may thành y và cúng dường Tăng chúng.
Nhờ vậy nữ ngạ quỷ thọ hưởng thiên lạc, liền trình với vị Trưởng lão sự việc cùng bày tỏ niềm hạnh phúc thần tiên mà nó đã đạt được.
Từ nội dung trên đã cho thấy rằng phần lớn nội dung của tác phẩm Uất Đa La mẫu quỷ sự tương đồng với nội dung Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên. Chỉ xét riêng về 12 điểm tương đồng giữa Biến văn và kinh Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên trong hệ Hán tạng; thì Uất Đa La Mẫu quỷ sự thuộc văn hệ Pāli chỉ khác biệt một vài điểm nhỏ.
Sự khác biệt mục thứ 3. Nếu như Biến văn và Ưu Đa La mẫu, thanh niên Ưu Đa La nhờ mẹ cúng dường, thì trong Uất Đa La không có chi tiết này, nhưng vẫn bảo lưu chi tiết người mẹ khinh khi Tam bảo.
Sự khác biệt mục thứ 5. Nếu như Biến văn và Ưu Đa La mẫu, Tỳ-kheo Ưu Đa La đi tìm mẹ sau khi chứng đạo; thì trong Uất Đa La không có chi tiết này, mà thông tin ngược lại, tức mẹ đi tìm con.
Sự khác biệt mục thứ 6. Nếu như Biến văn và Ưu Đa La mẫu, Tỳ-kheo Ưu Đa La gặp mẹ ruột của mình; thì trong Uất Đa La, người mẹ gặp Tôn giả Revata.
Sự khác biệt mục thứ 9. Nếu như Biến văn và Ưu Đa La mẫu, Tỳ-kheo Ưu Đa La thay mẹ cúng dường; thì trong Uất Đa La Tôn giả Revata thay ngạ quỷ cúng dường đến chư Tăng.
Sự khác biệt mục thứ 12. Thay vì Đức Phật tán tán thì trong Uất Đa La Trưởng lão Revata đã tán thán thiện sự này và khuyên mọi người theo đó thi hành.
Năm điểm khác biệt nêu trên sở dĩ xuất hiện có thể do ảnh hưởng của bối cảnh văn hóa, hoặc do các nhà phiên dịch chủ động bổ sung, hoặc thậm chí là do vô ý nên dẫn đến sai sót trong quá trình lưu giữ, biên tập. Theo chúng tôi, những khác biệt này không làm thay đổi nội dung chủ yếu mà tác phẩm muốn đề cập đến.
Ở đây, có một điểm cần lưu ý. Vì trong nguyên tác Pāli của Pāli Text Society thì câu chuyện Uttaramātu Petavatthu (Uất Đa La Mẫu quỷ sự), nằm trong bộ Vimānavatthu và Petavatthu, chỉ gồm có chín câu kệ rất cô đọng43.Thế nhưng trong bản dịch của cư sĩ Trần Phương Lan thì có phần dẫn nhập và kết thúc, nên nội dung câu chuyện dễ hiểu và khúc chiết hơn. Sau khi phối kiểm, chúng tôi nhận thấy, bản dịch của cư sĩ Trần Phương Lan là sự kết hợp giữa chín câu kệ trong nguyên tác Ngạ quỷ sự và bản Chú giải Ngạ quỷ sự của Tôn giả Dhammapāla44.
Xét về phương diện niên đại, Tôn giả Dhammapāla sống vào khoảng thế kỷ thứ V TL, ngài thực hiện bản chú giải Ngạ quỷ sự lúc ngụ tại tu viện Badaratitthavihāra45. Trong khi đó, bản chú giải Uất Đa La Mẫu quỷ sự của ngài phần lớn tương đồng với tác phẩm Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên do cư sĩ Chi Khiêm dịch vào giữa thế kỷ thứ III. Điều đó cho thấy, bản chú giải Uất Đa La Mẫu quỷ sự của Tôn giả Dhammapāla đã kế thừa từ một nguồn tư liệu tương tự như nguồn tư liệu của cư sĩ Chi Khiêm.
Từ những phân tích và đối khảo ở trên đã cho thấy, sự tương đồng về nội dung giữa các tác phẩm Uất Đa La mẫu quỷ sự, Chuyện mẹ của Uttara và Mục Kiền Liên minh gian cứu mẫu biến văn, Ưu Đa La mẫu đọa ngạ quỷ duyên, đã dẫn đến một sự khẳng định, trong Kinh tạng Nikāya hiện tồn tại một tác phẩm mang nội dung tương tự như kinh Vu lan; đó là tác phẩm Chuyện mẹ của Uttara do cư sĩ Trần Phương Lan biên dịch.
Nhận định
Kể từ khi Đức Phật cho phép đệ tử của Ngài được nghiên cứu kinh điển theo ngôn ngữ địa phương của mình46, thì số lượng dịch phẩm kinh điển đa ngôn ngữ đã phát triển rất phong phú. Trong quá trình lưu giữ và phiên dịch kinh văn, đã tác động nhiều đến sự thay đổi về cấu trúc, kể cả những tên tuổi hoặc ẩn dụ được sử dụng trong kinh tạng. Kinh Vu lan là một trường hợp như vậy. Tuy nhiên, sự giống nhau về nội dung cơ bản giữa hai nguồn tư liệu Hán tạng và Nikāya qua đối khảo ở trên, đã đồng thời khẳng định tính chân thực và nhất quán của Phật pháp nói chung và kinh Vu lan nói riêng.
Khảo sát cũng chỉ ra rằng, nhân danh một ai đó làm phước thì vẫn đem lại những kết quả thù thắng cho họ, dù đó chưa phải là người thân của mình. Tính chất vô duyên từ của Phật giáo được khẳng định ở điểm này. Về phương diện nghi lễ, phẩm vật có thể đơn sơ như nước uống, cơm canh và vải vụn, nhưng Tôn giả Revata vẫn khiến cho Uttaramātu thoát khỏi khổ quả, mà tư liệu Nikāya đã chỉ ra. Thế nên, việc nhân danh cha mẹ, hoặc những người thân đã khuất, vì họ mà làm nhiều thiện sự, bao gồm cả việc cúng dường Tam bảo, là việc làm đúng pháp. Không những vậy, các nguồn tư liệu cũng ghi nhận rằng, sự phát tâm của đối tượng, được kết hợp đồng thời với năng lực chú nguyện của chư Tăng, sẽ tạo nên những năng lượng chuyển hóa tích cực.
Một bản kinh khá ngắn và có mặt trong cả hai truyền thống, nhưng với Phật giáo Bắc truyền thì được biến thành một sự kiện lễ hội quần chúng, đem đến sự chuyển hóa thánh thiện trong tâm thức của nhiều người, và nhẹ nhàng lan tỏa ảnh hưởng của Phật giáo đến với số đông chưa phải là Phật tử; điều đó cho thấy tính năng động sáng tạo của các nhà hoằng pháp, kể cả vai trò hộ pháp của các vị quân vương Phật tử tại Trung Hoa trong thời kỳ đầu. Do vậy Lễ hội Vu lan theo Bắc truyền hay Lễ hội Uttara, theo Kinh tạng Nikāya, là một sáng tạo văn hóa thấm đẩm trí tuệ, cần được ghi nhận, bảo tồn và tán thán.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.2/8/2022.
Subscribe to:
Posts (Atom)