Saturday, July 1, 2017

Bình Đẳng.

I. Định nghĩa
Bình là bằng, là ngang nhau không cao, không thấp, không trên không dưới; đẳng là sắp hạng, là cấp bậc. Bình-đẳng là sắp ngang nhau, là xem như nhau, không thấy có cái này cao, cái kia thấp, không thiên vị hạng người này, trừ bỏ hạng người kia.
Tánh bình-đẳng của Phật là một tánh bình-đẳng tuyệt đối, bình-đẳng xét ngay từ trong thể tánh của vũ trụ, ngay từ trong cội gốc của cuộc đời là sự sống: mọi sự sống bất luận dưới hình thức nào đều có giá trị ngang nhau, đều được tôn trọng như nhau; mọi sinh vật, tất cả chúng sinh, đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật.
II. Tánh chất bình-đẳng của Phật
Chúng ta thường nghe nói đến bình-đẳng ở ngoài đời. Cách mạng Pháp 1789 nêu cao khẩu hiệu"Tự do, Bình-đẳng, Bác ái", và quyết tâm thực hiện cho được ba điểm ấy, mà những nhà cách mạng cho ba lý tưởng đẹp đẽ nhất của loài người. Ba lý tưởng ấy cho đến ngày nay, nhân loại vẫn chưa thực hiện được. Riêng về phương diện bình-đẳng, chúng ta phải lấy làm buồn rầu mà tuyên bố rằng: Nhân loại còn xa mục tiêu ấy quá! Hiện nay, trong nhiều xã hội, vấn đề bất bình-đẳng dựa lên huyết thống, quyền lợi vẫn còn tồn tại.Trong nhiều nước, vấn đề kỳ thị chủng tộc, chia rẽ màu da, vẫn chưa được giải quyết xong.
Nhưng một ngày kia dầu cho nhân loại có thực hiện lý tưởng bình-đẳng như đả nói trên, thì cái bình-đẳng ấy đem so với cái bình-đẳng của Phật cũng còn hẹp hòi, cũng còn bất bình-đẳng. Cái bình-đẳng ấy chỉ là bình-đẳng trong phạm vi loài người, áp dụng cho loài người, chứ không có bình-đẳng chung cho muôn vật, áp dụng cho toàn thể chúng sanh như bình-đẳng của Phật.
Đối với Phật, thì muôn vật và người, người và Phật đều bình đẳng như nhau, vì mọi loài đều cùng chung một cái luật: luật nhân quả. Không một loài nào được hưỡng ân huệ riêng, cũng không một loài nào bị thiệt thòi riêng. Hể ai tạo nhân lành thì được quả đẹp, ai tạo nhân ác thì chịu quả xấu. Chúng sanh nào nhiều tham dục, sân hận, si mê thì bị sống tronh cảnh giới đen tối khổ sở; chúng sanh nào cõi lòng trong sạch chất chứa từ bi, có trí tuệ… thì sống trong cảnh giới sáng sủa, an vui…
Công năng của tánh bình-đẳng
Tánh bình-đẳng chung cùng, rộng rãi, sâu xa ấy, đã tạo cho cõi đời không biết bao nhieu là kết quả quý báu. Tánh bình-đẳng ấy làm cho mọi người được đặt ngang hàng nhau, mọi giai cấp trong xã hội được san bằng, mọi bất công được tiêu trừ, mọi áp chế dựa lên huyết thống, màu da, chủng tộc, quốc độ được ngăn chặn. Tánh bình-đẳng ấy làm cho những người ở trong địa vị tối tăm, thấp kém thêm nhiều tin tưởng ở ngày mai, thêm nhiều hăng hái trong công việc cải tạo hoành cảnh của mình; trái lại, nó làm cho những người ở địa vị cao sang, quyền quý bớt tánh tự cao tự đại, bớt tánh ỷ lại vào giai cấp của mình, Nó làm cho mọi người giàu cũng như nghèo, sang cũng như hèn, gần gũi, thông cảm với nhau hơn, bớt oán nhau, bớt khinh nhau, biết tôn trọng nhân phẩm của nhau, quyền sống của nhau.
Do sự bình-đẳng trong từ bi, trong sự sống, trong Phật tánh, loài người biết yêu thương loài vật hơn, không thấy mình có độc quyền giết hại sinh vật, không có cái tự cao tự đại, cho rằng muôn vật sinh ra là để phụng sự cho mình, để sống, chết cho mình. Hơn nữa, tánh bình-đẳng, trong khi đặt chúng sinh và Phật ngang nhau, đã tạo cho loài người một lòng tin vô bờ bến ở khả năng thành Phật của mình, và lòng hăng hái trong công việc Phật hóa ấy.
Gương bình-đẳng của Đức Bổn Sư Thích Ca
Đức Phật là người đầu tiên trong nhân loại đã phản kháng chế độ giai cấp và đã phá đổ thành trì chia cách dân tộc AᮠĐộ ra làm bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế ly, Tỳ xá già và Chiên đà la. Chính Đức Thích Ca trong khi tìm đạo, đã nói với một người chăn cừu như thế nầy:"Mỗi người sinh ra không mang sẵn dấu "Tin Ca" (dấu riêng của hạng quí phái) trên trán, không mang sẵn giai cấp trong dòng máu cùng đỏ va trong nước mắt cùng mặn như nhau".
"Một người sinh ra không phải liền thành Bà la môn hay Chiên đà la (dòng hạ tiện) mà chính vì sở hành người ấy tạo thành một người Chiên đà la hay Bà la môn.
Trong Giáo hội của Ngài, cũng như trong công cuộc giáo hóa chúng sinh, Đức Phật không bỏ một ai, dù la hạng nghèo khổ, hạ tiện như người gánh phân, không thiên vị một ai, dù đó là một vị Đế vương oai phong lẫm liệt. Kinh Đại Niết bàn đã tán thán tánh bình-đẳng của Đức Phật như sau:
"Đức Như Lai không những chỉ thuyết pháp cho các hạng người quyền quý như vua Bạt-đề-ca mà cũng thuyết pháp cho hạng người bần cùng như ông Ưa-bà-ly; không riêng thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ơng Tu-đạt-Đa mà cũng thọ lãnh sự cúng dường của hạng người nghèo khổ như ông Thuần Đà; không riêng cho phép các hạng không có tánh tham gia như Ngài Ca Diếp xuất gia mà cũng cho phép được xuất gia những người nhiều tánh tham như ông Nan Đà. Không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà cũng thuyết pháp cho vua Tần Ba Ta La trong lúc đang lo việc nước. Không những thuyết pháp cho hạng thanh niên 25 tuổi mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi; không những thuyết pháp cho ba Hoàng hậu Mạt Ly mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ Liên Hoa". Trong sinh thời của Đức Phật, mặc dù đã đạt đến một địa vị Vô thượng Cháng đẳng Chánh giác, được toàn thể người đời, từ giai cấp hạ tiện đến giai cấp vua chúa, tăng lũ sùng mộ bái phục, thế mà Ngài vẫn khoác chiếc áo vá trăm mảnh, mang bình bát đi khất thực hết nhà này đến nhà khác, như bao nhiêu đệ tử của Ngài, đi đâu về cũng tự múc nước rữa chân lấy. Gia tài của Ngài cũng chỉ vỏn vẹn có 8 món đồ cần thiết như những đệ tử của Ngài: Cái quạt để che đầu, hai bộ y, cái gậy, đôi giép, cái dao cạo, bình bát, cái lưới lọc nước, cây kim may. Dựa lên tinh thần bình-đẳng tuyệt đối ấy, Đức Phật đã chế ra cho các vị Tăng già một lối sống hoàn toàn là bình-đẳng, mà ngày nay trong các xã hội tư xưng là bình-đẳng nhất cũng không thể theo kịp. Đó là lối sống lục hòa: cùng ở trong một hoàn cảnh như nhau, cùng chia những quyền lợi đồng đều như nhau, cùng nói những lời hòa nhã như nhau, cùng giữ những giới luật như nhau, cùng giải bày những cái thấy nghe, hay biết cho nhau, cùng duyệt xét phê bình những tình ý cũa nhau trong sự ôn hòa, thông cảm.
Đức tánh bình-đẳng ấy đã được truyền dạy qua các đệ tử của Ngài và đã cảm hóa họ một cách sâu xa, cho nên họ cũng có những cử chỉ và lời nói đẹp đẽ chẳng khác gì cử chỉ lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca.
O⮧ A Nan, một hôm đến xin nước của một thiếu nữ giòng Chiên đà la; người nầy thưa:
"Thưa Ngài hãy tránh ra, vì con là giòng họ Chiên đà la".
O⮧ A Nan trả lời:
"Tôi đến đây xin nước uống, tôi không xin giai cấp!"
Vua A Dục đã trả lời cho một vị đại thần như sau, khi vị nầy ngăn cản Vua không cho Vua đảnh lể các vị Tỳ-kheo:
-"Nếu lấy huệ nhãn của Phật mà xem xét thân thể, thời biết thân ông vua và thân mọi người giống nhau, cũng là da, thịt, xương; khác nhau chỉ có cái phù hoa bề ngoài. Nhưng cốt yếu ở đời là lòng đạo đức. Về phương diện này thì trong thân người hèn hạ nhất ở đời cũng có thể có. Chính lòng đạo đức ấy, người có trí, gặp đâu cũng phải tôn trọng, vái lạy".
Người Phật tử phải nuôi dưỡng tánh bình-đẳng như thế nào trong đời sống hằng ngày.
Mỗi người đều có sẵn Phật tánh, tất nhiên cũng đã có sẵn cái mầm bình-đẳng của Phật. Nhưng cái mầm ấy đã bị vùi sâu dưới bao nhiêu lớp bất công, bất bình-đẳng, dưới bao nhiêu giai cấp, tập quán, thành kiến của xả hội. Từ xưa đến nay nhân loại đã dựa lên quyền lợi, tài trí, để là tiêu chuẩn phân định từng bực, thứ lớp trong xã hội: người giàu, người có tài trí, người thuộc giòng quý phái thấy mình có quyền đứng cao hơn kẻ khác, được hưởng quyền lợi nhiều hơn kẻ khác, có quyền bắt kẻ dưới phải phục dịch cho mình, có quyền khinh bỉ những ai không được như mình. Tiêu chuẩn ấy làm cho xã hội chia rẽ, bất an, người trên khinh kẻ dưới, người dưới oán kẻ trên, người mạnh hiếp kẻ yếu, người yếu thù kẻ mạnh. Muốn cải thiện xã hội, phải đặt tiêu chuẩn lên đạo đức; phải lấy tinh thần bình-đẳng của Phật giáo làm nồng cốt trong đời sống xã hội. Trước tiên, người Phật tử phải nêu cao gương sáng: phải thương yêu tất cả mọi người, đừng phân biệt thân sơ, cao hạ; đừng thấy giàu sang mà trọng, nghèo hèn mà khinh; đừng bợ đỡ kẻ quyền quý, đừng giẩm đạp kẻ thế cô. Đến chùa, chỉ nên thấy mọi người là Phật tử như mình, là đạo hữu, không thấy chức tước, giàu sang hay nghèo hèn của họ. Ai có đạo đức, có tu hành, thì đều được kính trọng như nhau. Ưu Bà Ly xuất thân là một kẻ gánh phân, thế mà vẫn được Đức Phật nhận vào đại chúng và được vua chúa đương thời kính lạy, vì đạo đức của Ngài.
Ngoài xã hội, chúng ta cũng áp dụng tinh thần bình-đẳng ấy. Mọi người, mặc dù ở địa vị nào đều là người, nghĩa là đều có nhân phẩm, đều được trọng. Nhưng ai có đạo đức, biết giúp ích xã hội, biết dẹp lòng vị kỷ, biết yêu đồng loại, biết hy sinh vì nghĩa vụ, những người ấy đều được chúng ta kính mến, mặc dù họ ở trong hoàn cảnh nào, từng lớp xã hội nào.
Riêng ta đối với ta, đừng bao giờ tự cho là quan trọng hơn người, cao hơn người, phải được săn sóc, chiều chuộng hơn người.
Trong giai đoạn đầu, phải đặt ta nganh hàng với bao nhiêu "cái ta" khác ở chung quanh. Dần dần, phải tập xóa nhòa biên giới giữa ta và những cái ta khác trong nhơn loại, không thấy có cái ta nào là đáng quý hơn cái ta nào.
Trong giai đoạn thứ hai, phải tập xóa nhòa biên giới giữa cái "ta là người" với những cái ta là của chúng sanh, đừng thấy cái ta của giống người cao hơn cái ta của chúng sanh, đừng thấy cái ta nào là đáng quý hơn cái ta nào.
Trong giai đoạn thứ ba, phải tập xóa nhòa cái quan niệm "ta là chúng sanh", mà ta chỉ nên thấy ta là một sự sống, ta có một sự sống.
Trong giai đoạn thứ tư, phải tập xóa nhòa biên giới giữa sự sống của ta và sống không của ta, đừng thấy có cái sống riêng biệt, mà chỉ thấy có cái Sống chung cùng, toàn thể, trong ấy cái sống của ta chan hòa, đồng hòa với tất cả.
Làm như thế là dưỡng "tánh bình-đẳng" của Phật, mà mỗi chúng ta đều sẵn có ở trạng thái tiềm tàng trong ta.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NII PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.
Can Buddhists attain Buddhahood? 
In fact, the practitioner not only does not kill greed but also greed more than people multiply. In addition to the interests of the world, religious monks in general, Buddhism in particular, also involved a huge other, that is the liberation from samsara samsara, (Arahant, Buddha, holy), and enjoy the eternal happiness or the peaceful pleasure of Nirvana. 

Religious practitioners often claim to give up when they leave home. But that is they just ignore the small greed that takes the greater greed. They left home largely due to adversity or difficult circumstances, and they only left poor homes to live in larger temples alone. Only Buddha Shakyamuni really has given up his royal life to live a normal life and to cultivate in order to achieve his ideal. Although it is also the sky, but because of the practice and practice should also be the correct. But this is only the case of Buddha Shakyamuni only. 

Monks are not like that. The greed of the monks is to participate in the life of the world while attending heaven, while they claim to kill the greed. The reality in their lives shows that they still take the form of superficial forms such as hats, hoods, carriages, big pagodas, and take up the great virtue, venerable, monk, Death grumbles to worship them ... all are the fame of the world. 

The more they practice, the more arrogant and disrespectful of the galaxy because they claim to cultivate liberation, They are higher than gods and gods in the heavens because they go beyond Nirvana. But it is clear that they have only bragging, saying on one side making a path, deceiving themselves and deceiving people, but not freed. They do not free the greed, say nothing to free the si, or kill the fall. That is the irony of the word in the Buddha. The desire to be free is to be true to the condition that a person cultivates virtue and cultivates, but because that greed causes them to be tied into the circle of fame a thousand times more than life, and stick Taken into all the theories, canon law, dogma, so it becomes disgusted and repulsive.  But it is clear that they have only bragging, saying on one side making a path, deceiving themselves and deceiving people, but not freed. They do not free the greed, say nothing to free the si, or kill the fall. That is the irony of the word in the Buddha.The desire to be free is to be true to the condition that a person cultivates virtue and cultivates, but because that greed causes them to be tied into the circle of fame a thousand times more than life, and stick Taken into all the theories, canon law, dogma, so it becomes disgusted and repulsive. But it is clear that they have only bragging, saying on one side making a path, deceiving themselves and deceiving people, but not freed. They do not free the greed, say nothing to free the si, or kill the fall. That is the irony of the word in the Buddha. The desire to be free is to be true to the condition that a person cultivates virtue and cultivates, but because that greed causes them to be tied into the circle of fame a thousand times more than men, and stick Taken into all the theories, canon law, dogma, so it becomes disgusted and repulsive.  They do not free the greed, say nothing to free the si, or kill the fall. That is the irony of the word in the Buddha. The desire to be free is to be true to the condition that a person cultivates virtue and cultivates, but because that greed causes them to be tied into the circle of fame a thousand times more than men, and stick Taken into all the theories, canon law, dogma, so it becomes disgusted and repulsive.  They do not free the greed, say nothing to free the si, or kill the fall. That is the irony of the word in the Buddha. The desire to be free is to be true to the condition that a person cultivates virtue and cultivates, but because that greed causes them to be tied into the circle of fame a thousand times more than men, and stick Taken into all the theories, canon law, dogma, so it becomes disgusted and repulsive.  But because that greed caused them to be tied up in the circle of fame a thousand times more than human beings, and attached to all sorts of theories, canons and doctrines, it became a dishonorable and repugnant undertaking. But because that greed caused them to be tied up in the circle of fame a thousand times more than human beings, and attached to all sorts of theories, canons and doctrines, it became a dishonorable and repugnant undertaking.END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.
Người tu theo Phật pháp có diệt tham sân si được không?
Thực tế cho thấy người tu không những không diệt được tham mà còn tham nhiều hơn người đời gấp bội. Ngoài tham danh lợi của thế gian, tu sĩ các tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng, còn tham một cái rất lớn khác, đó là tham giải thoát khỏi sinh tử luân hồi (vì đời là bể khổ), đắc những quả vị (A la hán, Phật, Thánh), và được hưởng hạnh phúc miên viễn ở cõi sau hay cái sướng an tịnh trên Niết bàn. 

Người tu thường cho mình là buông bỏ khi họ xuất gia. Nhưng đó là họ chỉ bỏ cái tham nhỏ mà lấy cái tham lớn hơn mà thôi. Họ xuất gia phần lớn là do nghịch cảnh hay do hoàn cảnh khó khăn, và họ chỉ có bỏ căn nhà nghèo để vào sống trong chùa lớn hơn mà thôi. Duy chỉ có Phật Thích Ca là thật sự có bỏ đời sống vương giả để sống đời bình thường và nỗ lực tu tập để đạt lý tưởng của mình. Tuy như vậy cũng là tham cõi trời nhưng vì có đi đôi với công phu tu tập nên cũng là cái tham đúng. Nhưng đây chỉ là trường hợp riêng của Phật Thích Ca mà thôi. 

Các tu sĩ thì không được như vâỵ. Cái tham của tu sĩ là tham đời sống thế gian vừa tham cõi trời, trong khi họ tự cho là diệt được tham sân si. Thực tế trong đời sống của họ cho thấy họ vẫn tham những hình danh sắc tướng bề ngoài như mũ mão, lọng che, xe sang, chùa lớn, và tham những chức vị đại đức, thượng tọa, hòa thượng, tham có đông phật tử xưng tụng quỳ bái họ... tất cả đều là những danh lợi của thế gian. 

Họ càng tu thì càng ngạo mạn và coi khinh cả thiên hạ vì họ tự cho là họ tu giải thoát, họ cao hơn chư thần và chư thiên ở các tầng trời bởi vì họ vượt đến tận Niết bàn. Nhưng rõ ràng họ chỉ có cái khoác lác, nói một đàng làm một nẻo, tự gạt mình và gạt người chứ không có giải thoát được gì. Họ không giải thoát được cái Tham thì nói gì đến giải thoát sân si, hay diệt được ngã. 

Đó là cái trớ trêu của chữ Tham trong nhà Phật. Cái tham giải thoát sẽ là tham đúng với điều kiện người tu có phẩm hạnh, và tu học đến nơi đến chốn, nhưng vì cái tham đó đã khiến cho họ bị trói buộc vào vòng danh lợi cả ngàn lần hơn người đời, và dính mắc vào đủ thứ lý luận, giáo luật, giáo điều nên nó trở thành cái tham đáng tởm và đáng phỉ nhổ. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.

The Buddha teaches the terraces to leave to life "light pink hair".

 

Here are the words the Buddha advised to let go to life "light pink hair".
Enmity
It is not difficult to realize that it is difficult to realize that it is difficult to reach the realm of happiness. People, having simple happiness, eating a good meal, meeting a long-lost relative, gaining a small success in the job ... it was a happy. However, keep in the heart of a certain grudge, no matter how successful you are, how much, still see the soup in the heart of melancholy.
Forget the past
What you need to leave behind. As we grow older and wiser, we begin to realize what we need and what we need to leave behind. It's past, let it go.
Leave the blame on others
Let go of blaming others for what you have or do not, about what you feel or not. Do not waste your qualities, do not give up your strength and try to take responsibility for your own life.
Perfectionism
To live happily, one of the things to give up is perfection. Many people keep hugging everything just because they are suspicious of completing another job. Perfect perfection is a great barrier to enjoying the happiness in life. This makes them always in a state of anxiety when assigning work to others, must continue to be forced to participate in the work.

Photo description

Think too much
Thinking that you have too much to lose. Finally, you will not regret what you have done, but you will regret what you did not do when you got the chance. Surely you do not want to live but always have to ask yourself "What if I ...? "
Lazyness
No one despises a person who is always working hard. Be a hard worker. In life, you can not get what you "wish", that you just get what you have striven.
Arrogant
 Pride is one of the things that must be abandoned for the sake of peace and seeking peace in life. Pride is a representation of a great personal ego in life. The arrogant person looks at the other half of his or her eyes, counting others as inferior to himself, and from there, raising a contemptuous attitude to others who honor himself.
Self-deprecating
Give up your self-confidence about what you can or can not do, about what you can or can not do. Starting now, do not allow your beliefs to limit and imprison yourself. Have confidence in yourself.
The notion that life is fair
If you expect the world to be fair to you because you are a straight man, you are  deceiving  yourself. It's like expecting a lion will not eat you because you did not eat it.
 Trying to change people
In most cases, you can not change people and you should not try to do anything. Either you accept them, or you choose to remove them from your life.
Let go of the imposition
Do not impose on anything, people or  events  that you do not understand. Try to little by little to broaden your mind, because the mind only works when it is opened. "The highest form of ignorance is that you refuse something you do not know about it."END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.

Phật dạy những sân si phải bỏ để cuộc sống "nhẹ tựa lông hồng".


Dưới đây là những lời Phật khuyên nên buông bỏ để cuộc sống "nhẹ tựa lông hồng".
Thù hận
Không khó để nhận thấy rằng, mãi ôm sân hận trong lòng thì khó lòng đạt đến cảnh giới của hạnh phúc. Con người ta, có những niềm hạnh phúc rất giản đơn, ăn một bữa ngon, gặp một người thân lâu ngày xa cách, gặt hái được một thành công nhỏ trong công việc…đó đã là một hạnh phúc. Tuy nhiên, giữ mãi trong lòng một mối hận thù nào đó, thì dù là bạn thành công bao nhiêu, vẹn toàn bao nhiêu, vẫn thấy canh cánh trong lòng nỗi sầu muộn.
Quên đi quá khứ
Những gì bạn cần bỏ lại phía sau. Khi chúng ta lớn lên và khôn ngoan hơn, chúng ta bắt đầu nhận ra những gì mình cần và những gì mình cần phải để lại phía sau. Đã là quá khứ, hãy để nó trôi đi.
Hãy từ bỏ việc đổ lỗi cho người khác
Hãy từ bỏ việc đổ lỗi cho người khác về những gì bạn có hoặc không có, về những gì bạn cảm thấy hay không cảm thấy. Đừng lãng phí những phẩm chất của bạn, đừng từ bỏ sức mạnh của bạn và hãy cố gắng chịu trách nhiệm đối với cuộc sống của riêng bạn thôi.
Cầu toàn
Muốn sống hạnh phúc, ắt hẳn một trong những điều cần buông bỏ chính là sự cầu toàn. Nhiều người cứ mãi ôm đồm tất cả mọi việc chỉ vì nghi ngờ vào việc hoàn thành công việc đó ở một người khác. Sự cầu toàn chính là một rào cản rất lớn cho việc tận hưởng những hạnh phúc trong cuộc sống. Điều này khiến họ luôn ở trong trạng thái lo lắng khi giao việc cho người khác, cứ mãi phải bắt buộc mình phải tham gia vào công việc đó.

Mô tả ảnh.

Suy nghĩ quá nhiều
Suy nghĩ rằng bạn có quá nhiều thứ để mất. Cuối cùng, bạn sẽ không hối tiếc về những gì bạn đã làm, nhưng bạn sẽ hối tiếc về những gì bạn đã không làm khi bạn có cơ hội. Chắc chắn là bạn không muốn sống mà cứ phải luôn tự hỏi “ Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi…? ”
Sự lười nhác
Không ai xem thường một người luôn làm việc chăm chỉ. Hãy là người chăm chỉ đó. Trong cuộc sống, bạn không thể có được những gì bạn “ ước ”, mà bạn chỉ có được những gì bạn đã phấn đấu.
Kiêu ngạo
 Sự kiêu ngạo cũng là một trong những điều cần phải được từ bỏ để tâm an lạc và tìm kiếm được an vui trong cuộc sống. Sự kiêu ngạo chính là một sự biểu đạt của cái tôi cá nhân quá lớn trong đời. Người kiêu ngạo nhìn người khác chỉ bằng nửa con mắt, coi người khác luôn thấp kém hơn mình, và từ đó, nảy sinh thái độ khinh thường người khác mà tự tôn vinh chính mình.
Sự tự ti
Hãy từ bỏ sự tự ti về những gì bạn có thể hoặc không thể làm được, về những gì có thể hoặc không thể. Bắt đầu từ bây giờ, đừng cho phép niềm tin của bạn giới hạn và cầm tù chính bạn. Hãy tự tin vào bản thân mình.
Quan điểm cho rằng cuộc sống là công bằng
Nếu bạn mong đợi thế giới công bằng với bạn vì bạn là một người ngay thẳng, thì bạn đang lừa dối chính mình. Điều đó giống như mong đợi con sư tử sẽ không ăn bạn vì bạn đã … không ăn nó.
 Cố gắng thay đổi người khác
Trong hầu hết trường hợp, bạn không thể thay đổi người khác và bạn không nên cố gắng làm chi. Hoặc là bạn chấp nhận con người họ, hoặc bạn chọn cách loại bỏ họ ra khỏi cuộc sống của bạn.
Hãy từ bỏ việc áp đặt
Không áp đặt lên mọi thứ, mọi người hay sự kiện mà bạn không hiểu. Hãy cố gắng từng chút một để mở rộng tâm trí của bạn, bởi tâm trí chỉ hoạt động khi nó được khai mở. “Hình thức cao nhất của sự thiếu hiểu biết là bạn từ chối một điều mà bạn không biết gì về nó”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.

IGNORANCE.



I. Introduction.
1. Greed: desire, indulgence, passion, enjoy, try to hold, glue, satisfied, desire pleasure, fame, ... 
2. yard: disgust, anger, hatred , tempered, anti-pay, ... 
3. Si: stupid, dumb, misguided, biased, dogmatic, fanatical, superstitious, ...
Are the causes of unhappiness, affliction and anxiety for humans. 
According to Buddhism, these three poisons are not created by god, by destiny, or by chance. Because all psychological reactions are conditioned by karmic means, this means that the psyche and the scene catalyze one another. It can be said that "greed and greed" is the product of bad subjective psychology and objectively polluted object. These three dharma are maintained and developed continuously in the life of beings in the present as well as in the past and if not eradicated, they persist and develop in the future - the last minutes as well as the life After every living being. They exist and thrive in unruffled beings, through the evil deeds of the body (such as killing, stealing, mischief), In the evil word of mouth (such as lying, talking weaving, speaking double tongue, speaking evil), in the evil thoughts of the mind (desire, brutality, misunderstanding). 
They can be found easily in the actions, language, and thoughts of oneself and of others. Experience tells us that wherever and whenever, when greed is present and reigning, personal or communal life becomes miserable. It should be noted that greed is not to be regarded as abstract, but merely to exist in human psychology, but to find their concrete existence through usurpation, exploitation, cruelty, Kill, through dark thoughts, misleading in all personal and collective activities. 
Greed is a product of man and society and is the cause of damage to human wellbeing, just like the bloom of bamboo and the symbol of bamboo; That means when the bamboo is blooming when the bamboo died. 
While teaching people that the Satori is the cause of suffering life, it is necessary to destroy, the Buddha also tells us there are three dharmas, samsara, samsara which are the psychological factors that should be Developed to build a peaceful life. 
To develop these three good deeds we must cultivate the path of the Path of Wisdom. II. Right Chief The Buddha also tells us that there are three Noble Truths, anger, and no-emotion are the psychological factors that should be developed to build a peaceful life. To develop these three good deeds we must cultivate the path of the Path of Wisdom. II. Right Chief The Buddha also tells us that there are three Noble Truths, anger, and no-emotion are the psychological factors that should be developed to build a peaceful life. To develop these three good deeds we must cultivate the path of the Path of Wisdom. 
II. Right Chief
At the Vihara in Savatthi, at that time King Pasenadi of Kosala went to the Blessed One; After paying homage to the Blessed One and sit down. Sitting down one side, Pasenadi of Kosala White Church: 
- White gold, how many measures, when arising in the mind of the person will cause disadvantage, suffering, and insecurity for him? 
- Great Dhamma, there are three measures when arising in the mind of the person will cause disadvantage, suffering, and insecurity for him. What is three? Attitude, dignity, emotion, when arising in the mind of the person will cause disadvantage, suffering and insecurity for him. These three dharmas, when arising in the mind of a person will cause disadvantage, suffering and insecurity for him:
"The greed of evil is the evil of the people. 
They injure people like bamboo (bamboo)." END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.

Kinh Tham Sân Si.



I. Giới Thiệu.
1. Tham: ưa muốn, ham mê, đắm say, thích thú, cố giữ, keo kiết, ưng được thỏa mãn, mong được khoái lạc, danh vọng,...
2. Sân: chán ghét, giận dữ, thù hận, nóng nảy, chống trả,...
3. Si: ngu dốt, đần độn, lầm lạc, thành kiến, giáo điều, cuồng tín, mê tín,...
là những nguyên nhân gây ra bất hạnh, phiền não và ưu tư cho con người.
Theo đạo Phật, ba thứ độc nầy không phải do thần linh tạo ra, do định mệnh an bài, hay có ra một cách may rủi. Vì tất cả mọi phản ứng tâm lý (tâm sở) đều do nhân duyên, ở đây có nghĩa là do tâm lý và cảnh vật xúc tác với nhau mà phát sinh ra. Có thể nói "tham sân si" là sản phẩm của tâm lý chủ quan xấu xa và đối tượng khách quan ô nhiễm. Ba pháp nầy được duy trì và phát triển liên tục theo giòng sống của chúng sanh trong hiện tại cũng như trong quá khứ và nếu không được diệt trừ thì chúng vẫn tồn tại và phát triển trong tương lai - phút sau cùng cũng như các đời sau của mỗi chúng sanh. Chúng hiện hữu và phát triển nơi những con người không giác ngộ giải thoát, qua hành động xấu ác của thân (như giết hại, trộm cướp, tà hạnh), trong lời nói xấu ác của miệng (như nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói thô ác), trong tư tưởng xấu ác của ý (tham muốn, tàn bạo, hiểu sai).
Chúng có thể được tìm thấy một cách dễ dàng nơi hành động, ngôn ngữ, và ý nghĩ của bản thân cũng như của bản thân của kẻ khác. Kinh nghiệm cho ta biết bất cứ ở đâu hay lúc nào, nếu tham sân si có mặt và ngự trị thì cuộc sống riêng hay chung đều trở nên xấu xa đau khổ. Ðiều cần lưu ý là không nên xem tham sân si như là những gì trừu tượng, chỉ hiện hữu trong tâm lý con người mà phải tìm thấy sự hiện hữu cụ thể của chúng qua những hành động chiếm đoạt, bốc lột, tàn bạo, giết hại, qua những tu tưởng tối tăm, lầm lạc trong mọi sinh hoạt cá nhân và tập thể.
Tham sân si là sản phẩm của con người và xã hội và chính chúng là nguyên nhân làm hư hại cuộc sống an lành của loài người giống như bông tre nở từ cây tre và là biểu tượng suy tàn của cây tre; nghĩa là khi tre trổ bông là lúc tre tàn lụi.
Trong khi dạy cho con người biết Tham Sân Si là nguyên nhân của cuộc sống đau khổ, cần phải tiêu diệt, Phật cũng nói cho chúng ta còn có ba pháp Vô tham, Vô sân, Vô si là những yếu tố tâm lý cần nên phát triển để xây dựng cuộc sống an lành.
Muốn phát triển ba pháp thiện này chúng ta phải tu dưỡng theo chánh đạo gồm Giới Ðịnh Huệ.
II. Chánh Kinh
Tại Tịnh xá ở Savatthi, lúc bấy giờ, vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế tôn:
- Bạch Thế tôn, có bao nhiêu pháp, khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau, và bất an cho người ấy?
- Thưa Ðại vương, có ba pháp khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau, và bất an cho người ấy. Những gì là ba? Tham, Sân, Si (*), thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau và bất an cho người ấy. Ba pháp nầy, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm một người sẽ gây ra bất lợi, khổ đau và bất an cho người ấy:
"Tham sân si là tâm ác của người.
Chúng hại người như bông tre (hại tre)".HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/7/2017.