Friday, November 4, 2016

Sinh tử qua lăng kính của người giác ngộ.

Hai chữ “Sinh tử” đã khiến cho biết bao nhiêu người bất kể trí ngu giàu nghèo từ xưa đến nay đều phải lưu ý tới và khổ tâm vì nó. Người trí thì đối diện với nó và tìm cách để giải quyết nó và thoát khỏi nó một cách vĩnh viễn. Kẻ ngu thì sợ hãi nó, trốn tránh nó và làm mọi cách để quên nó trong hiện tại một cách tạm thời. 


Người giàu không thể dùng tiền để mua lấy cái chiêu bài “miễn tử” mà người nghèo cũng không thể thoát khỏi sự chết. Bởi sinh già bệnh chết là bốn cái khổ chính chung của loài người và muôn loài chúng sinh. Vậy sinh tử là cái gì mà khiến cho bao nhiêu người phải để tâm đến? Phần đông con người quan niệm rằng sinh là sự hiện hữu của một cái thân hình tướng và tử là sự mất của cái thân hình tướng chính nó. Cũng có người cho rằng sinh tử là sự khởi niệm và diệt niệm nơi tâm trong từng sát-na. Tuy rằng thân và tâm đều sinh diệt theo định luật của vô thường vô ngã trong phạm vi tương đối, nhưng cái sinh diệt ấy là hư vọng của những người sống trong chiêm bao qua cái thấy của người giác ngộ đã vượt ngoài tương đối hay ở trong bản thể tuyệt đối. Nói một cách khác, đối với người giác ngộ thì thật không có sinh tử. 
Qua con mắt nghiệp bệnh của loài người thì sinh già bệnh chết diễn ra trên thân tứ đại hằng năm, hằng ngày và hằng giờ. Nhưng đối với người có khả năng quán sát kỹ càng và tỉ mỉ hơn như là những người hiểu đạo và đang tu đạo thì sinh tử đang diễn ra hằng phút, hằng giây và thậm chí hằng từng hơi thở. Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phẩm 38 có chép như sau: 
“Ðức Phật hỏi một vị Sa môn: "Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu?". Ðáp rằng: "Trong vài ngày". Phật nói: "Ông chưa hiểu Ðạo". Ðức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác "Sinh mạng con người tồn tại bao lâu?". Ðáp: "Khoảng một bữa ăn". Phật nói: "Ông chưa hiểu Ðạo". Ðức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác nữa: "Sinh mạng con người tồn tại bao lâu?". Ðáp: "Khoảng một hơi thở". Phật khen: "Hay lắm! Ông là người hiểu Ðạo."(1)
Đối với đức Phật thì người hiểu đạo là người có sự quán sát tỉ mỉ về thân vô thường chỉ tồn tại trong từng hơi thở, tức rất mong manh, vì một hơi thở ra không vào là đã qua đời khác. Quán cái thân vô thường trong mỗi hơi thở là để phá kiến chấp về thân vì thấy rõ bản chất của nó là duyên sinh vô ngã. Có quán như thế mới thấy được rằng không phải khi nhắm mắt xuôi tay mới gọi là chết, mà sự thật là cái chết đã thể hiện qua trong từng hơi thở. 
Nói sinh tử trong từng hơi thở là cách quán sát kỹ lưỡng về thân vô thường ngô ngã. Nhưng nếu quán sát tỉ mỉ hơn thì cũng có thể thấy rõ rằng sinh tử hiện hữu ở trong từng tâm niệm, từng sát-na. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển hai, Vua Ba Tư Nặc có trình bày một cách chi tiết về sự sinh diệt của không những là thân mà còn là tâm trong từng niệm và sát-na như sau:

“Bạch Thế Tôn! Sự biến hóa âm thầm dời đổi, con thật chẳng hay, mùa đông mùa hạ thấm thoát trôi qua, dần dần đến thế này. Tại sao? Khi hai mươi tuổi, dù gọi là trẻ, nhưng mặt mày đã già hơn lúc lên mười, khi ba mươi tuổi lại sút hơn lúc hai mươi, đến nay đã sáu mươi hai, so với lúc năm mươi thì suy yếu hơn nhiều. Thế Tôn, con cảm thấy sự dời đổi âm thầm trôi chảy theo kỳ hạn mười năm, nhưng nếu suy xét tỉ mỉ thì cái biến đổi ấy đâu phải từng 10 năm! Thật ra thì mỗi năm mỗi đổi, cho đến mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ, trong mỗi sát na niệm niệm biến đổi chẳng ngừng, nên biết thân này chung quy biến diệt vậy.”(2)
 
Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn cũng dạy:
“Chuyện vô thường già chết không hề hẹn trước. Sớm còn tối mất, thoắt chốc đã sang đời khác; như sương như móc thoạt có thoạt không; như cây ven bờ vực, như dây leo vách giếng, có chi bền chắc? Niệm niệm nhanh chóng nối nhau, chỉ trong chớp mắt, trút hơi thở đã qua kiếp khác. Sao lại có thể yên lòng mà bỏ phí cuộc đời trôi qua vô ích?”(3)
Niệm niệm biến đổi không ngừng trong từng sát-na là chỉ cho cái tâm khởi diệt hết niệm nầy đến niệm khác một cách nhanh chóng để thể hiện sinh tử qua từng tâm niệm. Quán cái tâm sinh diệt trong từng niệm để phá vỡ cái nhận thức sai lầm về vọng tâm hay thức được biến hiện qua những làng sóng võ não khi trần cảnh tiếp xúc với phù trần căn và tịnh sắc căn, mà ai cũng cho nó là mình, của mình và tự ngã của mình. Thân đã vô thường duyên sinh vô ngã thì vọng tâm cũng như thế. 
Nếu là người không hiểu đạo và tu đạo thì thật sự không thấy rõ được sự vô thường sinh diệt của thân tâm trong từng hơi thở và trong mỗi niệm sát-na sinh diệt như trên đã trình bày. Chính bởi vì những người ấy không biết nên không chính niệm tỉnh giác trong từng hơi thở. Ngược lại họ cứ để tâm buông lung dong ruỗi chạy theo trần cảnh bên ngoài qua ngày tháng mà không hay, đến khi già bệnh chết đến thì mới chợt tỉnh rằng thân mạng là vô thường giả tạm và cuộc đời là một tuồng hát, vở kịch, và giấc mộng nhanh chóng trôi qua. Người hiểu đạo và tu đạo thì không thể lãng phí cả một đời người sống trong mê lầm điên đảo đắm chấp thân mạng vô thường nầy được, mà phải như lời Phật dạy thực hành việc quán sát sự sinh diệt biến đổi không ngừng của thân và tâm trong từng hơi thở và mỗi niệm để chúng ta có thể buông xuống những kiến chấp sai lầm về chúng (như cho chúng là mình, là của mình và là tự ngã của mình) mà từ từ xa dần sinh tử. Còn chấp lấy thân tâm thì bị chúng chi phối ràng buộc, sai sử tạo nghiệp và chính vì thế mà theo nghiệp thọ nhiều báo thân ở trong tam giới lục đạo không thể nào ra khỏi được.

Thân và Tâm nầy nó vốn là duyên sinh vô ngã, vô thường giả tạm, và biến đổi không ngừng thì nó thật chẳng phải là mình, là của mình và là tự ngã của mình được. Thế nên trong Kinh Bát Đại Nhân Giác, đức Phật đã dạy người tu phải quán sát về thân tâm sinh diệt vô thường để phá ngã chấp như sau:
 
“Giác ngộ thứ nhất: Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, năm ấm vô ngã, sinh diệt đổi dời, hư ngụy không chủ, tâm là nguồn ác, thân là mọi tội, quán sát như vậy, xa dần sinh tử.
Giác tri thứ nhì: Đa dục là khổ, sinh tử nhọc nhằn, do tham dục khởi, thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại…
Giác ngộ thứ năm: Sinh tử ngu si, Bồ Tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí huệ, thành tựu biện tài, giáo hóa hết thảy, khiến được vui lớn.”(4) 
Như vậy đức Phật dạy người tu phải quán sát mọi sự vật hiện tượng trên đời nầy từ vật lý đến tâm lý đều là duyên sinh vô ngã, cho nên vô thường chuyển biến từ dạng nầy sang dạng khác một cách mau chóng không ngừng. Hơn thế nữa, đức Phật dạy người tu phải biết rằng sở dĩ có sinh tử về thân và tâm là bởi vì do lòng tham dục sinh khởi bất tận. Chính vì lòng tham sinh khởi không ngừng nên chân tâm bị che mờ hay còn gọi là vô minh (ngu si). Lòng tham chỉ là danh từ chung của những vọng thức thuộc về tâm tham nói riêng và tất cả vọng tâm phan duyên nói chung được phát hiện qua làng sóng võ não hay biến kế sở chấp thuộc tình thức hư vọng. Chính vì có vô minh nên mới có những suy nghĩ, lời nói, và hành động tạo tác sai lầm để tạo thành những hạt giống gieo vào tàng thức (A-Lại-Da Thức) để làm nghiệp nhân có những nghiệp quả của đời nầy và đời sau. Và cũng chính vì thế nên mới có sinh già bệnh chết. Nói chung, vô minh do vọng tâm là gốc của lưu chuyển sinh tử. Vì vậy Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu nói: 

“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hoặc làm với tâm ô nhiễm, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo. Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói  hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình.” (5)
Do vậy tiến lên nữa, đức Phật dạy người phải quán Thập Nhị Nhân Duyên như sau: “vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên sinh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử.” Mười hai nhân duyên nầy lấy Thân và Tâm của chính con người làm trọng điểm để quán sát, bởi thân và tâm (vọng tâm) là cái gốc khổ đau sinh tử như trong Kinh Bát Đại Nhân Giác ở trên có nói “Tâm là nguồn ác, thân là mọi tội”. Do vậy Phật giáo không dạy những gì phù phiếm, huyền bí, và huyễn hoặc không mang lại lợi ích thiết thực cho con người. Đức Phật dùng trí huệ thấy rõ sự vận hành của dòng tâm thức vô minh dẫn đến sinh già bệnh chết một cách rõ rệt nên mới dạy chúng ta nhắm vào gốc hay căn nguyên của mọi đau khổ mà nhổ cho tận gốc, chứ không đi vòng quanh. Chính do vô minh hiện hữu mà sinh già bệnh chết hiện hữu. Nếu có thể quét sạch vọng thức vô minh ấy thì sinh già bệnh chết cũng được quét sạch không còn, hay nói cách khác hết vô minh thì hết sinh tử. Khi vô minh và sinh tử đã hết thì mới gọi là “thân tâm tự tại” và “khiến được vui lớn” theo Kinh Bát Đại Nhân Giác.  

Bởi vì con người sống trong vòng tương đối của sinh tử, có không, hơn thua, yêu ghét, chính tà, hư ngụy v.v… nên đức Phật mới dùng những pháp tương đối để trị những bệnh chấp tương đối ấy. Con người có quá nhiều tâm chấp trước nên đức Phật mới dùng nhiều phương pháp để hóa giải những tâm lầm chấp đó. Chứ kỳ thật nếu con người không có những tâm bám chấp đó thì Phật cũng không khổ nhọc để bày nhiều phương pháp đối trị để làm gì. Giống như nếu không có bệnh thì đâu cần phải uống thuốc! Như trong Truyền Tâm Pháp Yếu, Tổ Hoàng Bá có dạy: “Phật thuyết tất cả pháp vì độ tất cả tâm, ta chẳng tất cả tâm đâu cần tất cả pháp.”(6) Chính vì thế mà ở trong cả hai Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Kinh Viên Giác đức Phật cùng nói một lời “Tất cả kinh giáo như là ngón tay chỉ trăng” (nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ) và như Kinh Kim Cang ngài lại nói “Các Tỳ Kheo phải biết lời thuyết pháp của ta ví như chiếc bè qua sông, đến bờ thì phải bỏ bè; vậy pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp!”(7) 

Sinh Tử kỳ thật cũng thuộc bệnh lầm chấp nơi tâm mê muội trong tương đối của con người theo tư tưởng Đại Thừa. Vì thế muốn tiến vào cửa Bát Nhã Đại Thừa hay bản thể Tuyệt Đối thì phải vượt ngoài những gì thuộc tương đối. Nói một cách khác, ở trong bản thể Tuyệt Đối thì không có sinh tử bởi sinh tử thuộc tương đối. Vì thế Kinh Tâm Bát Nhã nói:
 
“Bởi vậy trong KHÔNG: không sắc, không thọ không tưởng, hành, thức. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có tầm nhìn hạn cuộc của chính nhãn thức. Cho đến không có phân biệt hạn cuộc của chính ý thức. Không có vô minh, cũng không có sự chấm dứt vô minh. Cho đến không có già chết, cũng không hết già chết. Không khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc.”(8) 
Ngài Long Thọ cũng phá chấp về sinh tử ở trong Trung Quán Luận, Phẩm 11 như sau:
“Sở thuyết của đại Thánh. Bản tế bất khả đắc. Sinh tử chẳng bắt đầu. Cũng chẳng có cuối cùng. Nếu chẳng có thỉ chung. Chính giữa làm sao có. Cho nên ở trong đó. Trước sau chung cũng không (cộng chung cũng chẳng có). Giả sử sinh có trước, sau mới có già chết, không già chết có sinh. sinh không có già chết. Nếu già chết có trước, sau mới có kẻ sinh, ấy tức là vô nhân, không sinh có già chết.”(9)
Đây là phá chấp về sinh tử, vì trên thực tế xưa nay sinh tử chẳng có chỗ bắt đầu và vì thế cũng chẳng có cuối cùng. Nếu cho rằng sinh có trước và già chết có sau thì chẳng do già chết mà lại có sinh, tức là sinh và chết mỗi mỗi tự độc lập thì đó là điều vô lý. Vì rằng sinh ra mà không già chết, hoặc già chết mà không có sinh. Lại như già chết có trước rồi mới có sinh thì sinh đó không có nhân tức là không có sinh mà lại có già chết.  

Kinh Lăng Nghiêm, Quyển Hai cũng viết:
“A Nan! Ngươi còn chưa rõ tất cả tướng huyễn hóa nơi tiền trần, tùy nơi nhân duyên sinh ra, theo nơi nhân duyên diệt mất, thể tính của tướng huyễn hóa hư vọng này vốn là diệu giác sáng tỏ, như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, vì nhân duyên hòa hợp, hư vọng cho là có sinh, nhân duyên tan rã, hư vọng cho là có diệt, mà chẳng biết sinh diệt khứ lai vốn là Như Lai Tạng, cũng gọi là diệu minh thường trụ, bất động chu viên (cùng khắp không gian), diệu tính chơn như, nơi tính chơn thường tìm sự khứ lai, mê ngộ, sinh diệt đều bất khả đắc.”(10)
Bởi Tính Không hoặc Tính Chân Thường là bản thể Tuyệt Đối nên bản tính ấy không có những cập phạm trù tương đối như sinh tử, đến đi, mê ngộ và sinh diệt. Vì vậy sinh và tử là bất nhị, sinh tử và niết bàn cũng lại là bất nhị. Bởi bản thể Tuyệt Đối là bất nhị nên tất cả những gì mà mắt phàm nhận thấy biết như sinh tử, đến đi, mê ngộ lúc trước cũng chuyển thành tuyệt đối bất nhị sau khi đã giác ngộ trở về với Tâm Tính Chân Thường hay bản thể Tuyệt Đối ấy. Do vậy qua lăng kính của người giác ngộ thì sinh tử vốn không, là việc của người trong mộng vì bản thể chưa từng sinh nên cũng chưa từng diệt. Như mắt bệnh nên thấy hoa đốm sinh ra từ hư không, nhưng kỳ thật nếu mắt không có bệnh thì hư không tuyệt chẳng có hoa đốm. Sinh tử ví như hoa đốm do bệnh mắt, do chiêm bao mà thấy là có và cho là thật. Hư không dụ cho bản thể Tuyệt Đối hay chân tâm thường trụ chẳng có những cập phàm trù thuộc tương đối nào cả như sinh tử, đến đi và mê ngộ.
Qua mắt nghiệp bệnh của con người thì thật có sinh tử. Nhưng qua Ngũ Nhãn (Nhục, Thiên, Pháp, Huệ, Phật) của Như Lai hay người Giác Ngộ thì sinh tử là việc trong mộng, là bản thể Tuyệt Đối bất nhị và là KHÔNG (Tính Không trong Kinh Bát Nhã, không phải có không của phàm phu). Do vậy trong Kinh Viên Giác, Phẩm Hai chép như sau:

“Thiện nam tử! Bồ Tát này và chúng sinh đời mạt pháp tu tập tâm này đều được thành tựu. Vì bản giác vốn đầy đủ, dù nói tu tập thành tựu, thật vốn vô tu, cũng vô thành tựu. Vì Viên Giác phổ biến chiếu soi, tịch diệt bất nhị, trong đó bao gồm trăm ngàn muôn ức a tăng kỳ bất khả thuyết vô số hằng sa thế giới của chư Phật, ví như hoa đốm hiện trên hư không, khởi diệt lăng xăng, chẳng hợp chẳng lìa, chẳng trói buộc, chẳng giải thoát, vì thế mới biết chúng sinh bổn lai thành Phật, sinh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng. 
Thiện nam tử! Do các pháp như việc trong mộng, nên biết sinh tử và Niết Bàn chẳng sinh chẳng diệt, chẳng khứ chẳng lai, những sở chứng ấy chẳng đắc chẳng thất, chẳng thủ chẳng xả, những năng chứng kia vô tác vô chỉ vô nhậm vô diệt, nơi pháp chứng này rốt cuộc vô năng chứng vô sở chứng, tất cả pháp tính đều bình đẳng chẳng hoại.”(11)
Mắt bệnh nghiệp của loài người thì chỉ thấy thế giới ở trong phạm vi tương đối mà thôi vì tự thân chưa rời tương đối để vào bản thể Tuyệt Đối. Còn người đã giác ngộ rồi, hay đã chuyển thức thành trí rồi thì có đầy đủ Ngũ Nhãn, thấy thế giới vạn vật đều là chính nó hay Như Thị, Bất Nhị, và Không vì đã trở về với bản thể Tuyệt Đối đó rồi. Vì vậy mà người còn mê sống trong vòng tương đối của sinh tử nhìn thấy cái gì cũng là sinh tử tương đối cả. Còn người giác ngộ thì thấy mọi thứ đều là tuyệt đối, ngay cả sinh tử, hay ngay cả những gì thuộc tương đối cũng là tuyệt đối, bởi vì người Giác Ngộ thấy tất cả là Như Thị, Bất Nhị, và Không.  

Chính vì mắt phàm và thức phàm không thể nhìn thấy và suy lường được bản thể Tuyệt Đối mà hay cố nhìn và suy lường nên mới nghi rằng đức Phật đã thoát sinh tử thì sao cái thân tứ đại lại không thoát được sinh tử. Nên biết thân Như Lai là Pháp Thân Thanh Tịnh, là Tâm Tính Bồ Đề, là Bản Thể Tuyệt Đối, chứ chẳng phải cái thân tứ đại do nhân duyên hòa hợp mà thành, nhân duyện biệt ly mà diệt. Do vậy thân tứ đại theo nhân duyên hòa hợp sinh diệt mà thân Như Lai chẳng đến đi. Kinh Kim Cang nói: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai” (Như Lai là không từ đâu đến cũng không đi về đâu nên gọi là Như Lai). Kinh Kim Cang cũng có bài kệ:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thinh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”

Tạm dịch Việt:

“Nếu dùng sắc thấy ta
Dùng âm thinh cầu ta
Người đó hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai”

Bởi Như Lai là Pháp Thân Tịch Chiếu, là bản thể Tuyệt Đối Bất Nhị, không sinh không diệt, không đến không đi, không tăng không giảm, không dơ không sạch chứ đâu phải là thân tứ đại mà dùng mắt phàm và thức phàm mà thấy biết suy lường được. Dẫu có suy lường cũng là vọng tưởng phân biệt, cũng là sinh tử trần lao nào có đúng và dính dáng gì đâu! Cho nên Kinh Viên Giác, Phần Ba nói: 
“Thiện nam tử! Tất cả thế giới những sự thủy, chung, sinh, diệt, trước, sau, có, không, tụ, tán, khởi, dừng, cho đến đủ thứ thủ xả đều là đối đãi, xoay vần tương sinh với nhau, niệm niệm tương tục, đều là luân hồi. Kẻ chưa ra khỏi luân hồi mà phân biệt Viên Giác thì tính Viên Giác kia cũng đồng như luân hồi, vậy muốn khỏi bị luân hồi thì chẳng có chỗ đúng. Ví như mắt nháy thấy nước lặng dợn sóng, mắt ngó hẳn một chỗ thấy vòng lửa xoay tròn, do mây bay mau thấy mặt trăng đi nhanh, do thuyền đi thấy bờ trôi thì cũng như thế…
Thiện nam tử! Theo cảnh giới sở chứng của hàng Thanh Văn, thân tâm ngôn ngữ đều đã đoạn diệt còn chẳng thể đến chỗ Niết Bàn của tự mình chứng, huống là dùng tâm suy tư để đo lường cảnh giới Viên Giác của Như Lai; ví như lấy lửa đom đóm để đốt núi Tu Di thì làm sao cháy được! Nay dùng tâm luân hồi, sinh tri kiến luân hồi mà muốn vào biển Đại Tịch Diệt của Như Lai thì làm sao đến được! Cho nên ta nói tất cả Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp, trước tiên phải đoạn dứt cội gốc luân hồi từ vô thỉ.”(12) 
Chư tổ khi xưa thường nói “Phật tức là Tâm. Tâm tức là Phật”. Mà “Tâm” đây là chân tâm chứ không phải vọng tâm. Chân tâm thì vô hình vô tướng, vô thủy vô chung, là bản thể Tuyệt Đối, là Tính Giác Thường Trụ, là Bồ Đề Niết Bàn, là Như Lai. Bản thể ấy có rất nhiều tên gọi nhưng những danh từ đó chỉ tạm dùng để đặt tên cho nó mà tự thân ngôn từ chẳng phải là nó, vì những danh từ ấy cũng thuộc phạm trù của tương đối.     
 
Tóm lại qua mắt nghiệp bệnh của con người mà thấy có sinh tử và niết bàn, vô minh và giác ngộ vì còn ở trong vòng tương đối. Chính vì muốn trị bệnh lầm chấp nơi thân và tâm (vọng) của con người mà đức Phật phải phương tiện dạy những giáo lý hay cho những toa thuốc để trị những cái bệnh chấp về thân và tâm. Do vậy mà có các pháp quán Khổ, Vô thường, Vô Ngã, Duyên Sinh, Thập Nhị Nhân Duyên v.v… để con người rời bỏ cái kiến chấp nơi thân và tâm cũng như những kiến chấp thuộc pháp tương đối mà từ từ thoát khổ sinh tử. Chứ kỳ thật trong bản Tính Giác hay bản thể Tuyệt Đối thì không có sinh tử niết bàn, vô minh giác ngộ hay tất cả những gì thuộc tương đối. Có dẹp được hết những pháp tương đối thuộc vọng thức và vượt ngoài vòng tương đối ấy thì bản thể Tuyệt Đối mới lộ diện, cánh cửa Đại Thừa mới được mở rộng, Chân Tâm mới tự bừng sáng chiếu soi, và Trí Bát Nhã mới hiển bày. Đó chính là lý do vì sao Bát Nhã Tâm Kinh dùng chữ “Vô” để quét sạch ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, tứ đế, thập nhị nhân duyên, lục độ của Bồ Tát, cho đến Phật thừa. Bởi vì dù còn một niệm nhỏ nhoi vi tế nào thuộc tình thức hư vọng thì cũng không rời được tình chấp, nên không thể vượt ngoài tương đối vào bản thể Tuyệt Đối được. Tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều phải trải qua con đường nầy mới trở về được bản thể Tuyệt Đối hay Tâm Tính Bồ Đề sẵn có nơi chính mỗi con người chúng ta. Chúng ta muốn giác ngộ giải thoát cũng phải đi qua con đường nầy mới có thể cùng với tất cả chư Phật trong ba đời mười phương cùng ở một chỗ. Chỗ mà chư Phật trong ba đời mười phương cùng ở một nơi đó là đâu? Chính là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, tức không phải ở đâu xa, mà ngay nơi bản thể Tuyệt Đối, hay Chân Tâm mà mọi người sẵn có vậy. Cho nên Kinh Duy Ma Cật nói “Tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh. Nhược đắc tịnh độ đương tịnh kỳ tâm” (tùy cái tâm tịnh mà cõi Phật tịnh. Nếu muốn được tịnh độ phải tịnh tâm nầy) (12). Chính vì Tịnh Độ là Tâm Tính mình nên chẳng cần phải cầu sinh đi đâu, chỉ cần quét sạch mọi vô minh lầm chấp thuộc vọng thức thì tịnh độ hiện tiền. Và chính vì Phật là Tâm và Tâm là Phật nên cũng chẳng cần tìm Phật ở nơi nào khác ngoài Tâm, vì chẳng có Phật nào khác ngoài Tâm. Do vậy mà Kinh Kim Cang nói nếu dùng sắc thinh mà tìm cầu Phật thì đó là hạnh tà đạo sẽ không bao giờ thấy được Phật, Như Lai Tạng Tâm của chính mình! Xin hành giả lưu tâm đến điều nầy và liễu tri cho!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.
Engaged.
Since moonlight meditation reveal  deep GRATITUDE predestined life  among all light Infinite language words that the Commitment, not leaving emptiness.


* Aspiration enlightenment of the Mahayana firstly because the world. It is because they seek enlightenment and liberation of the whole world should first of all they attempt self-realization, self-liberation, itself bound by removing obstacles caused by industrial and knowledge (knowledge base distention) . (...) For this reason, emphasizes the meaning of Mahayana compassion wishes. (...). 
* When surveyed about the reality of enlightenment, the Mahayana clearly see that it consists of two steps decided. Starting must create a desire for enlightenment for others, the ultimate goal can be achieved. Such aspirations are as important and meaningful as the achievements, because he could not have accomplished if no other aspirations; indeed, the achievement has always been determined by the desire; ie, the time, effort, effectiveness ... of enlightenment, entirely based on the qualities of primitive chapel was launched for the purpose ultimate achievement. Determine the process dynamics, personality and capacity to act. To liberation are pressing vehemently means that, indeed, the most difficult of his career and has been done. It is also said, that is complete start. 
* Regarded as a Bodhisattva who seek enlightenment on it, but under the so merciful heart, enthusiasm throughout the whole world wants to beneficiaries of its peace, the ideals which were held in all the followers Mahayana. (...). 
* Ambition desire enlightenment is not a normal occurrence in the life of a follower of Mahayana, because that was the decisive step must be towards the target (...). Enlightenment is not a private business do not engage the community to the large block; Its fulcrum is located right in the heart of the universe. (...). 
* The necessary conditions for rising employment aspirations enlightened (ie Bodhicitta) can be summarized thus: 1. ethical behavior; 2. To close the Buddhas (enlightened the fullness) and good knowledge; 3. pure heart, honesty and compassion. When rounding the three conditions, Bodhicitta (Bodhicitta) is deemed to have lifted their heads and get ready to incremental. 
* To clarify the nature of enlightenment as identified by the Mahayana, we have more business leads The Venue, in which the desire for enlightenment (ie Bodhicitta) includes the following elements:
  1. Mind compassion is the leading factor;
  2. Tri super Vietnam is directing factor;
  3. Means element holder;
  4. Shenzhen a refuge center. 
* (...) When the events remaining in doing so, he is deemed to have reached the first position (primary address) of the Bodhisattva. It is retrogression. Because of that, from now on, faith no longer be shaken again. 
* Bodhicitta arises from compassion; without this, there can be no Buddhism. Seriously considered and love and compassion are the main features of the Mahayana. We can say that the whole nature of the doctrine that the universe revolved around the key. Philosophical background dung very suggestive image depicted in Ganda (Flower Adornment Sutra) really is the burst of energy that animate. 
* (Flower Adornment Sutra says) Bodhicitta as ocean because it contains all the pearls merit.Bodhicitta as Tu-di mountains stand tall equality in all things. Bodhicitta as Mountain Equipment-maintenance behavior for all the world. (...). 
* Briefly, Bodhicitta is not just love, it also includes a direct opinion of philosophy. It is a particular incarnation of Tri and Bi whole. Bi and Tri began in mind it really.END=NAM MO CAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.
Dấn Thân.
Từ khi lộ ánh trăng thiền Tri ân sâu nặng cơ duyên cuộc đời Vô ngôn sáng giữa muôn lờiDấn thân thế sự, chẳng rời Tánh Không.


* Khát vọng giác ngộ của các nhà Đại thừa trước hết là vì thế giới. Chính bởi họ mong cầu sự giác ngộ và giải thoát của cả thế giới nên trước hết họ nỗ lực tự giác ngộ, tự giải thoát, tự mình cởi bỏ sự ràng buộc của nghiệp và những chướng ngại do tri thức (sở tri chướng). (…) Vì lí do đó, Đại thừa nhấn mạnh ý nghĩa tâm nguyện đại bi. (…). 
* Khi khảo sát về quá trình hiện thực của giác ngộ, Đại thừa thấy rõ rằng nó gồm có hai bước quyết định. Khởi đầu cần phải tạo nên một khát vọng giác ngộ vì kẻ khác, thì mục đích tối hậu mới có thể thành tựu được. Khát vọng đó cũng quan trọng và rất có ý nghĩa như sự thành tựu, vì không thể có thành tựu nếu không có khát vọng kia; quả thực, sự thành tựu luôn luôn được xác định bởi khát vọng; tức là, thời gian, nỗ lực, hiệu quả… của giác ngộ, hoàn toàn dựa trên phẩm chất của ý nguyện ban sơ được phát khởi cho sự thành tựu chủ đích tối hậu. Động lực xác định diễn trình, cá tính và năng lực của hành động. Mong cầu giải thoát được thúc bách kịch liệt có nghĩa rằng, quả vậy, cái phần lớn và khó khăn của sự nghiệp đã được làm xong. Người ta cũng nói, khởi sự tức là hoàn tất. 
* Coi Bồ-tát như một kẻ trên thì mong cầu giác ngộ, mà dưới thì do tấm lòng lân tuất, nhiệt tình muốn cho khắp cả thế gian thụ hưởng pháp lạc, cái lí tưởng đó được kiên trì trong tất cả những người theo Đại thừa. (…). 
* Hoài bão ước vọng giác ngộ không phải là biến cố bình thường trong đời sống của một người theo Đại thừa, vì rằng đó là bước quyết định phải có để hướng tới cái mục tiêu (…). Giác ngộ không phải là một công việc riêng tư chẳng can dự gì đến khối lớn cộng đồng; điểm tựa của nó được đặt ngay trong lòng vũ trụ. (…). 
* Những điều kiện tất yếu cho việc làm trỗi dậy ước vọng giác ngộ (tức Bồ-đề tâm) có thể được tóm tắt như vầy: 1- hành vi đạo đức; 2- thân cận chư Phật (các bậc giác ngộ viên mãn) và các thiện tri thức; 3- tâm thanh tịnh, chân thật và từ bi. Khi làm tròn ba điều kiện này, Bồ-đề tâm (Bodhicitta) được coi là đã ngóc đầu dậy và sẵn sàng để tăng tiến. 
* Để rõ thêm bản chất của giác ngộ theo nhận định của các nhà Đại thừa, chúng ta lại dẫn thêm kinh Thập Địa, theo đó, ước vọng giác ngộ (tức Bồ-đề tâm) bao gồm các yếu tố như sau:
  1. Tâm đại bi là yếu tố dẫn đầu;
  2. Trí siêu việt là yếu tố chỉ đạo;
  3. Phương tiện là yếu tố hộ trì;
  4. Thâm tâm là chỗ nương tựa. 
* (…) Khi đã an trụ trong những sự kiện như thế rồi, được coi là đã đạt tới địa vị đầu tiên (sơ địa) của Bồ-tát. Đó là Hoan hỉ địa. Vì rằng, kể từ bây giờ, tín tâm không còn bị lay chuyển nữa. 
* Bồ-đề tâm khởi lên từ tâm đại bi; nếu không vậy, chẳng thể có Phật pháp. Coi nặng đại bi tâm là nét chính của Đại thừa. Chúng ta có thể nói,  toàn bộ tính chất của giáo thuyết đó quay quanh cái trụ chốt này. Nền triết lí viên dung được miêu tả rất gợi hình trong Ganda (Kinh Hoa Nghiêm) thực sự chính là cái bùng vỡ của công năng sinh động đó. 
* (Kinh Hoa Nghiêm nói) Bồ-đề tâm như đại dương vì chứa tất cả các hạt ngọc công đức. Bồ-đề tâm như núi Tu-di vì bình đẳng đứng cao trên tất cả mọi vật. Bồ-đề tâm như núi Thiết-vi vì bảo trì hết thảy thế gian. (…). 
* Nói vắn tắt, Bồ-đề tâm không chỉ là tình yêu thương, nó còn bao gồm cả một trực kiến của triết lí. Nó là một hóa thân cụ thể toàn nhất của Trí và Bi. Bi và Trí khởi sự thực sự ở trong Tâm đó. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.

Thursday, November 3, 2016

MULTIPLE-CHOICE.
Dharma test (part one)


- Results of tests: 0/20 points
- Total time doing all: 0:00:19
The correct answer for the wrong answer or no answer.

1 . The word "Director" means?
- 1, 2 are true

2 . The word "Director" of Buddhism, is the new ultimate sense?
- As of absolute nature, the essence

3 . Li absolute nature mean?
- Lia speaking inconceivable

4 . The word "Buddha" mean?
- 1, 2 are true

5 . The "Enlightenment" with some entirely new level of enlightenment?
- Three levels

6 . The three levels of the word "Buddha" is what?
- Self-awareness, enlightenment forgiveness, enlightenment happy consummation

7 . "Buddhism" mean?
- 1, 2 are true

8 . The birth of the Buddha called?
- Christmas birth, birth, Appear

9 . In terms of substance, Buddhism has from time to time?
- From time without beginning

10 . In terms of history, Buddhism has from time to time?
- 1, 2 are true

11 . In terms of history, Buddhism was formed from time to time, through the historical Buddha Shakyamuni?
- From the Buddhist nirvana

12 . In terms of history, the Buddha was the son of who?
- The King

13 . Buddha was born in where?
- Lumbini

14 . What is the Tripitaka?
- Economics, Law, Luan

15 . Vinaya, Buddha invented when?
- Beings are transgression

16 . Abhidhamma prize table out by whom?
- Do Buddhists under the desk of the

17 . Why Buddhist teachings have split Mahayana and Theravada?
- For the frugal, aspirations, the human beings is not the same

18 . What is Mahayana Buddhism?
- Missionary Union from India to North

19 . Mahayana Buddhism Mahayana and Theravada belong?
- Both Theravada and Mahayana Buddhism are Mahayana

20 . The purpose of Buddhism is what brings results for all beings?
- Be Chon often, Chon optimistic, Chon down, Chon net. END=NAM MO CAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.
TRẮC NGHIỆM.
Trắc nghiệm Phật Pháp (phần một)


- Kết quả trắc nghiệm: điểm 0/20
- Tổng thời gian làm bài: 00:00:19
Đáp án đúng cho các câu trả lời sai hoặc chưa trả lời.

1. Chữ “Đạo” nghĩa là gì?
- 1, 2 đều đúng

2. Nghĩa chữ "Đạo" của đạo Phật, là nghĩa nào mới rốt ráo?
- Là lý tánh tuyệt đối, là bản thể

3. Lý tánh tuyệt đối nghĩa là gì?
- Lìa nói năng không thể nghĩ bàn

4. Chữ “Phật” nghĩa là gì?
- 1, 2 đều đúng

5. Chữ "Giác" có mấy bậc mới hoàn toàn giác ngộ?
- Ba bậc

6. Ba bậc của chữ "Phật" là gì?
- Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn

7. "Đạo Phật" nghĩa là gì?
- 1, 2 đều đúng

8. Sự ra đời của Đức Phật gọi là gì?
- Giáng sanh, Đản sanh, Thị hiện

9. Về phương diện bản thể, Đạo Phật có từ lúc nào?
- Từ vô thỉ

10. Về phương diện lịch sử, Đạo Phật có từ lúc nào?
- 1, 2 đều đúng

11. Về phương diện lịch sử, Đạo phật được hình thành từ lúc nào, qua lịch sử Đức Phật Thích Ca?
- Từ Phật nhập Niết Bàn

12. Về phương diện lịch sử, Đức Phật là con của ai?
- Vua Tịnh Phạn

13. Đức Phật Đản sanh tại đâu?
- Vườn Lâm Tỳ Ni

14. Tam Tạng kinh điển là gì?
- Kinh, Luật, Luận

15. Tạng Luật, Phật chế ra khi nào?
- Chúng sanh đang phạm giới

16. Tạng Luận do ai bàn giải ra?
- Do đệ tử Phật theo kinh bàn giải ra

17. Vì sao giáo lý Đạo Phật có phân ra Đại Thừa và Tiểu Thừa?
- Vì căn cơ, nguyện vọng, trình lực chúng sanh không đồng nhau

18. Thế nào là Bắc Tông Phật Giáo?
- Đoàn truyền giáo từ Ấn Độ sang hướng Bắc

19. Đại Thừa Phật Giáo thuộc Bắc Tông hay Nam Tông?
- Cả Nam Tông và Bắc Tông đều có Đại Thừa Phật Giáo

20. Mục đích của Đạo Phật là đem lại những kết quả gì cho chúng sanh?
- Được Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã, Chơn tịnh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/10/2016.MHDT.
In Buddhism, ignorance two hours are reminded to always, because ignorance is the source, the head of the small new wiring suffering of rebirth. Buddha often taught: "The suffering of the camel, the donkey carrying heavy horse complacent lives, suffering not propelled into the third world called suffering. Dense not believe false wisdom, unknown direction, the fact that new is suffering ". 
He also teaches a powerful, more definitive:" Si is the root of sin, the root of all wisdom is well healed. " We are Buddhists we do not want to cause guilt to bear suffering results, we just wanted to do to enjoy the blessings of good conduct and results are liberated. So of course we must cultivate lily. In the favored discipline, then wisdom is more Paramitayana. 
B. DISTRICT TITLE: 
I. DEFINITION OF WISDOM Paramita 
What is Wisdom? "Tri" is the Sanskrit word transcriptions ferry na; "Wisdom" is the Sanskrit transliteration Prajna. "Site" means assertive; "Property" means all property easy. Chinese Buddhist Glossary defines as follows: "Tri is known custom insole and Wisdom is understanding Brackets".  
It can be said: Tri is able to separate pure wisdom, and wisdom is the right thing at soi liberated. Paramitayana wisdom is wise to separate potentially illuminating things thoroughly keen to place to place, can not be wrong.  
II. KINDS OF WISDOM 
Wisdom is as defined in the wisdom of Buddhism, and not common wisdom, often used in learning knowledge, reasoning every day in life. 
According to Buddhist philosophy, ability realize there are two types: time and percentage amounts. 
1. Show Length: As perception directly without intermediate inference. The time of the split in two: 
  Legs out of, was directly aware that right. 
  Manifestation of, is the direct perception that wrong 
2. Percentage of: Is perception mediated inference. The share of two things well: 
 billions of Truth, is loihieu know by inference correct. 
  Like rubbing billion amount, the way of understanding the inference that mistake. 
Now the status of ordinary very poor and many are tợ the current amount. The share of the status of ordinary poor even more and much shouted billion amount. Stand in terms of the nature and wisdom Buddhism divided into two major categories are "basic position" and "Hau special care." 
1. Basic position: Basically location, is the understanding that every sentient intelligent magic already available, but because of the disturbing mask, should not that shines duoc.Co comparable basis as a quality place metal precious (gold, silver) are in a state of minerals, is mixed with ice (defilements of ignorance) 
2. Hau special care: Hau special care, because wisdom has been elaborately practice as morality, meditation etc .. Maybe comparing Hau special care such as physical metals (gold, silver) from minerals filtered out and no longer mixed with soil, dust anymore (negativity, ignorance). 
According Duy courses, after reaching enlightenment position, means that there is "Hau special care", then transfer into four-eight place : 
  eighth consciousness, A to skin effect are serving life maintenance and seed, was reached outflow position and turn into the "great Park landscape" (where large mirrors and bright as the full picture, symbolizing feet as the sea). 
  Soul Saturday, mask work is ego, turned into "equal nature location" (location awareness capabilities with the equality, selflessness of all things). 
  Food Friday Consciousness is distinguished work, transformed into "observed Hotel Dieu" (where there is profound observation capacity). 
  Year end (eye consciousness, ear consciousness, olfactory consciousness, tongue-consciousness, body-consciousness) into " into the wisdom "(location awareness capabilities have extensively and miraculous) 
III. HOW TO GET WISDOM? 
Want to get wisdom, Buddha invented many practices. Among the many practices that are "Van, Tu, Tu" and "Virtue, concentration, and wisdom" are often reminded law and practice the most. 
  Van, Tu, Tu: Van, Tu, Tu is three practices to get wisdom: 
  hearing: is favored by audio headphones, audio sight of the Buddha himself, or through the scriptures that understands the meaning. 
  from lily: the position favored by thinking, inquiring, clearly meaning, to understand the truth. 
  practicing: is favored by religious experiences and truths, which enlightened witness to the truth. 
Van, private, religious, very high correlation with each other, one must all three crash, can not ignore something that achievement. Listen to the Buddha: 
"Van hearing, thinking, thinking, three subjects with a not to be. If anyone hears without thinking, is like a farmer without sowing; if think without practicing, then as a farmer without bailing out water, grass harrow, ultimately to no avail. Three full-favored, the Tam surplus attained? " (Novice cross gender). 
  Gender: Buddha's teachings (see lesson Paramitayana Morality). 
  The means of meditation, the mind does not keep chaotic, to heuristics to fundamental issues religion (see lesson Paramitayana Meditation). 
  Hue: is the development of Tri projection, after cleansing negativity and ignorance. 
morality, concentration, and wisdom are closely correlated: Because morality that body and mind not chaotic. Because the mind is the body which is Dinh mind. Mind when given the wisdom that shines. 
However, the Wisdom that shines, the mind easily Dinh, Dinh Tam Morality is not difficult. 
In a nutshell: About, concentration, and wisdom, interdependence are intimately connected with together, one increases, the other two the same increase, a decrease, with the other two fell. 
IV. THE PERFORMANCE OF WISDOM 
As we have seen in the split type, when wisdom have reached enlightenment position (eight transfers into four position), the performance, its outstanding incredibly vast, unspeakable . Nevertheless, to have a relatively clear concept, we can raise three main features of wisdom as follows: 
1. Dut except negativity: Negativity is due to confusion arising. When wisdom has the delusion takes, such as light emitting dark it is doomed to disappear. Delusions have lost all the negativity anymore no longer arise. 
2. Lighting things: ignorance Things obscure, like fog covered landscape, this wisdom that shines on things, just like when sunlight up, the mist Land must vanish, at real-time minister the true nature of things is presented as revealed truth. 
3. Truths: When ignorance overlays, obscured, we the people, we the seemingly separate objects, differences. Now thanks to the enlightened wisdom, clear sight chose not mind so truth can enter, fully enlightened. 
C. CONCLUSION: 
The value and utility of the great wisdom could not finish. It is the goal of Buddhists.Salvage it, we must try to reach for it. 
Before Nirvana, the Buddha has advised the disciples eager to cultivate the following wisdom: 
"Wisdom is solidly passenger boat from the old sea, pain , death is the great light shining dark ignorance, is medicine or cure all diseases, the iron hammer negativity broke a tree. So the people must take the hearing, the thoughts, the practice that self gain for his wisdom. " (Horror Church). 
The message is pathetic by professor faith, we can not help but remember and practice duoc.Va affordable, in six degrees paramitas that we have learned in the next three articles, the purpose is only to lead to the sixth level of wisdom, the ultimate level of enlightenment and liberation religion. 
wish you all Buddhists have wisdom to forgive self and self to the other side of the exit. 
SUMMARY oF CONTENTS Paramita 
religion Buddhism is compassion, which is also the enlightenment. Compassion belongs blessed, enlightened belongs hue. Phuoc Hue's flanks and making eagle is flying straight to the practitioner as liberation. Therefore, in the business often say: "Phuoc Hue newly religious person but right enlightenment". In six paramitas measures, generosity and patience of the convent blessed; meditation and wisdom belongs to the lily cultivation; also morality and diligence are the two materials will be used to control and urge for religious blessings and wisdom are accomplished completely. 
If we compare a rustic and simple six paramitas with the law Prajna takes the boat from shore terminal anesthesia awareness, it is compassion food, drinking water is patience, diligence is the sail and oar, morality is the rudder, compass and meditation is the lamp of wisdom torch. Six things that are needed for the sailor will have difficulty in the journey of thousands of miles around. 
Standing on a different side to review the value of the altitude, we'll see something like this: Giving and patience belong compassion, meditation and wisdom belong to Tri, and morality and diligence belong Dung. A Buddhist absolutely must have three means of Bi, knowledgeable, courageous and eager to go to the brink new enlightenment through a smooth and fast. 
So you look laypeople as well as ordained, while learning and practice six Paramitayana legal, do not look down on any of them. There are enough facilities so that the capacity for self-forgiveness and degrees, to where the ultimate and true to the meaning Paramitayana.END=NAM MO CAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.
Trong đạo Phật, hai tiếng vô minh được nhắc nhở đến luôn, vì chính vô minh là nguồn gốc, là đầu dây mối nhợ của đau khổ của sanh tử luân hồi.  Phật thường dạy: "Cái khổ của lạc đà, của lừa ngựa chở nặng mãn kiếp, cái khổ trôi lăn trong tam giới chưa gọi là khổ. Ngu si không trí huệ tin tưởng sai lạc, không biết hướng đi, cái ấy mới thật là khổ".
Ngài còn dạy một cách mạnh mẽ, dứt khoát hơn: "Si là gốc của tội lỗi, Trí huệ là gốc của muôn hạnh lành". Chúng ta là Phật tử chúng ta không muốn gây tội lỗi để chịu quả khổ đau, chúng ta chỉ mong làm được các hạnh lành để hưởng phước quả và được giải thoát. Vậy tất nhiên chúng ta phải tu huệ. Trong các môn tu huệ, thì Trí huệ Ba la mật là hơn cả.
B.  CHÁNH ĐỀ:
I.  ĐỊNH NGHĨA TRÍ HUỆ BA LA MẬT
Trí tuệ là gì? "Trí" phiên âm chữ phạn là Phã na; "Tuệ" phiên âm chữ Phạn là Bát nhã. "Trí" có nghĩa là quyết đoán; "Tuệ" có nghĩa là giản trạch. Tự điển Phật  học Trung Hoa định nghĩa như sau: "Trí là biết Tục đế và Tuệ là thông hiểu Chân đế". 
Cũng có thể nói: Trí là thể tách sáng suốt trong sạch, Huệ là cái Diệu dụng xét soi tự tại. Trí huệ Ba la mật là thể tách sáng suốt có khả năng soi sáng sự vật một cách thấu đáo tinh tường đến nơi đến chốn, không thể sai lầm được. 
II.  CÁC LOẠI TRÍ HUỆ
Trí huệ như định nghĩa trên là trí huệ của đạo Phật, chứ không phải trí huệ phổ thông, thường dùng trong các sự học hỏi hiểu biết, suy luận hằng ngày trong đời.
Theo triết học Phật Giáo, khả năng nhận thức có hai loại: Hiện lượng và tỷ lượng.
1.  Hiện lượng: Là sự nhận biết trực tiếp không cần qua trung gian suy luận.  Hiện lượng lại chia làm hai:
  Chân hiện lượng, là nhận thức trực tiếp mà đúng.
  Tợ hiện lượng, là nhận thức trực tiếp mà sai
2.  Tỷ lượng: Là sự nhận biết qua trung gian suy luận. Tỷ lượng cũng có hai thứ:
 Chân tỷ lượng, là lốihiểu biết  bằng suy luận đúng đắn.
  Tợ tỷ lượng, là lối hiểu biết mà suy luận mà sai lầm.
Hiện lượng của địa vị phàm phu rất kém cỏi và phần nhiều là tợ hiện lượng.  Tỷ lượng của địa vị phàm phu lại còn kém cỏi hơn nữa và phần nhiều là tợ tỷ lượng. Đứng về phương diện tính chất, Đạo Phật chia trí huệ ra làm hai loại lớn là " Căn bản trí" và " Hậu đắc trí".
1.  Căn bản trí: Căn bản trí, là giác tính minh diệu mà mỗi chúng sinh vốn đã có sẵn, nhưng vì bị phiền não che lấp, nên chưa phát chiếu ra được.Có thể so sánh căn bản trí như là một chất kim khí quí báu (vàng, bạc) đang ở trong trạng thái khoáng chất, nằm lẫn lộn với đá (phiền não vô minh)
2.  Hậu đắc trí: Hậu đắc trí, là trí huệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định v.v... Có thể so sánh Hậu đắc trí như chất kim khí (vàng, bạc) được lọc từ khoáng chất ra và không còn lẫn lộn với đất đá, bụi bặm nữa (phiền não, vô minh).
Theo Duy thức học, sau khi đạt đến địa vị Giác ngộ, nghĩa là có được "Hậu đắc trí", thì tám thức chuyển thành bốn trí:
  Thức thứ tám, A lại da có tác dụng là chấp trì sanh mạng và chủng tử, được đạt đến địa vị vô lậu và biến thành "Đại viên cảnh trí" (trí sáng như bức gương lớn và tròn đầy, tượng trưng cho biển cả chơn như).
  Thức thứ bảy, Mạt na có tác dụng là chấp ngã, biến thành "bình đẳng tánh trí" (trí có năng lực nhận thức tính cách bình đẳng, vô ngã của vạn pháp).
  Thức thứ sáu, Ý thức có tác dụng là phân biệt, biến thành "Diệu quan sát trí" (trí có năng lực quan sát thâm diệu).
  Năm thứ cuối (nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức) biến thành "Thành sở tác trí" (trí có năng lực nhận thức cùng khắp và thần diệu)
III.  LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ ĐƯỢC TRÍ HUỆ?
Muốn có được trí huệ, đức Phật chế ra nhiều pháp tu. Trong số nhiều pháp tu ấy thì "Văn, Tư, Tu" và "Giới, Định, Huệ" là những pháp thường được nhắc nhở và thực hành nhiều nhất.
  Văn, Tư, Tu: Văn, Tư, Tu là ba pháp tu để có được trí huệ:
  Văn huệ: là huệ do tai nghe âm thanh, mắt thấy âm tự của Phật, hay qua các kinh điển mà hiểu được nghĩa lý.
  Tư huệ: là huệ do trí suy nghĩ, tìm tòi, rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.
  Tu huệ: là huệ do tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý, mà giác ngộ, chứng được sự thật.
Văn, tư, tu rất tương quan mật thiết với nhau, hành giả cần phải chuyên tu cả ba thứ, không thể bỏ qua một thứ nào mà thành tựu được. Hãy nghe Phật dạy:
" Văn huệ, tư huệ, tu huệ, ba môn khuyết một không được. Nếu ai nghe mà không suy nghĩ, thì như làm ruộng mà không gieo mạ; nếu suy nghĩ mà không tu, thì như làm ruộng mà không tát nước, bừa cỏ, rốt cuộc không có kết quả. Ba huệ được đầy đủ thì chứng quả Tam thừa?" (Sa Di thập giới).
  Giới: là lời răn dạy của Phật (xem lại bài Trì giới Ba la mật).
  Định: là thiền định, giữ cho tâm ý không loạn động, để suy nghiệm đến những vấn đề căn bản của Đạo (xem lại bài Thiền Định Ba la mật).
  Huệ: là sự phát chiếu của Trí, sau khi đã tẩy sạch phiền não và vô minh.
Giới, Định, Huệ tương quan mật thiết với nhau: Do trì giới mà thân tâm không loạn động. Do thân tâm không loạn động mà tâm  trí được Định. Tâm trí khi đã định thì Trí huệ phát chiếu.
Ngược lại, Trí huệ phát chiếu thì tâm dễ Định, Tâm đã Định thì Trì giới không khó khăn.
Tóm lại: Giới, định, huệ, đều tương duyên tương quan mật thiết với nhau, một cái tăng thì hai cái kia cùng tăng, một cái giảm thì hai cái kia cùng giảm.
IV.  CÔNG NĂNG CỦA TRÍ HUỆ
Như chúng ta đã thấy trong phần chia loại, trí huệ khi đã đạt đến địa vị Giác ngộ (tám thức chuyển thành bốn trí) thì công năng, diệu dụng của nó rộng lớn vô cùng, không thể nói hết. Tuy thế, để có một quan niệm tương đối rõ ràng, chúng ta có thể nêu lên ba công năng chính của trí huệ như sau:
1.  Dứt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm phát sinh. Khi trí huệ đã có thì mê lầm phải mất, như khi ánh sáng phát ra thì bóng tối tất phải tan biến. Mê lầm đã mất thì phiền não tất không còn phát sinh nữa.
2.  Chiếu sáng sự vật: Sự vật bị vô minh che khuất, như màn sương sớm che phủ cảnh vật, nay trí huệ phát chiếu vào sự vật, chẳng khác gì khi ánh sáng mặt trời lên, thì màn sương ất phải tan biến, lúc bấy giờ thực tướng thực tánh của sự vật được lộ bày như thật.
3.  Thể nhập chân lý: Khi bị vô minh phủ lấp, ngăn che thì ta với người, ta với vật tưởng như riêng biệt, sai khác. Nay nhờ trí huệ soi sáng, thấy rõ được tâm cảnh đều chơn  không, nên thể nhập được chân lý, giác ngộ hoàn toàn.
C.  KẾT LUẬN:
Gíá trị và công năng của trí huệ lớn lao không thể nói hết. Nó là cứu cánh của người Phật tử. Cứu cánh ấy, chúng ta phải cố đạt cho được.
Trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật cũng đã thiết tha khuyên các Đệ tử  phải trao dồi trí huệ như sau:
" Trí huệ là chiếc thuyền kiên cố chở khỏi biển già, đau, chết; là ngọn đèn lớn chói sáng vô minh hắc ám, là liều thuốc hay chữa hết thảy bệnh tật, là chiếc búa sắt chặt gãy cây phiền não. Vậy các người phải lấy sự nghe, sự suy nghĩ, sự tu tập mà tự tăng ích cho trí huệ mình". (Kinh Di Giáo).
Những lời nhắn nhủ thống thiết của đức Bổn sư, chúng ta không thể không ghi nhớ và thực hành được.Vả chăng, trong sáu độ Ba la mật mà chúng ta đã học trong ba bài kế tiếp này, mục đích cũng chỉ để dẫn đến độ thứ sáu là trí huệ, cái mức độ cuối cùng của đạo Giác ngộ và giải thoát.
Cầu mong tất cả quý vị Phật tử  có được trí huệ để tự độ và tự tha đến bên kia bờ giải thoát.
TỔNG KẾT VỀ LỤC BA LA MẬT
Đạo Phật là đạo từ bi, mà cũng là đạo giác ngộ. Từ bi thuộc về phước, giác ngộ thuộc về huệ.  Phước và Huệ là hai cánh làm cho con chim đại bàng là hành giả làm bay thẳng đến bờ giải thoát. Do đó, trong kinh thường nói: "Phước, Huệ song tu mới thành ngôi Chánh giác". Trong sáu pháp Ba la mật, bố thí và nhẫn nhục thuộc về tu phước; thiền định và trí huệ thuộc về tu huệ; còn trì giới và tinh tấn  là hai chất liệu có công dụng kiểm soát và đốc thúc cho việc tu phước và huệ được thành tựu hoàn toàn.
Nếu chúng ta đem so sánh một cách mộc mạc và đơn giản sáu pháp Ba la mật với chiếc thuyền Bát nhã đưa người từ bờ mê đến bến giác, thì: Từ bi là thức ăn, nhẫn nhục là nước uống, tinh tấn là cánh buồm và chèo, trì giới là bánh lái, thiền định là la bàn và trí huệ là đèn đuốc. Sáu thứ ấy đều cần thiết cho người thủy thủ sẽ gặp khó khăn trong công cuộc hành trình vạn dặm của mình.
Đứng về một khía cạnh khác để nhận xét giá trị của lục độ, chúng ta sẽ thấy như thế này: Bố thí và nhẫn nhục thuộc về bi, thiền định và trí huệ thuộc về Trí, còn trì giới và tinh tấn thuộc về Dũng. Một Phật tử hoàn toàn phải có đủ ba phương tiện Bi, Trí, Dũng mới mong đi đến bờ giác ngộ một cách thông suốt và nhanh chóng.
Vậy trông quí vị Phật tử tại gia cũng như xuất gia, trong khi học và hành sáu pháp Ba la mật, đừng nên xem thường một pháp nào. Có như thế mới đủ phương tiện mà năng lực để tự độ và độ tha, đến nơi cùng tột và đúng với ý nghĩa Ba la mật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.4/11/2016.MHDT.