Wednesday, December 2, 2015

Giáo pháp Đức Thế Tôn Như Lai để lại là Pháp sống động, thường hằng nên dù là quá khứ, hiện tại hay vô lượng thời gian của tương lai thì Pháp vẫn luôn luôn song hành, tuyệt đối không bao giờ có chuyện cũ - mới, trước - sau. Pháp là vậy, nhưng hiện nay có một số sư thầy chỉ biết giảng nói về pháp chết như cúng dường, xây chùa, tạc tượng, cầu phước, trợ tử, cầu siêu…Thật ra không phải Đức Thế Tôn không thuyết giảng về những việc đó, nhưng những việc đó hầu hết là sau khi thuyết giảng pháp thoại xong. Vì tâm Từ bi Bình đẳng nên đối với một số vị trong pháp hội không thể nhận lãnh được giáo pháp cũng có lợi ích nên chư vị Bồ Tát mới thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết giảng phước đức về những pháp đó.
Những điều ở trên là trong những yếu tố đưa đến hiện tượng tự học, tự thực hành giáo pháp Giác Ngộ ngay trong đời sống như hiện nay. Đó là sự khích lệ to lớn với chúng ta là những người đi theo bước chân của Đức Như Lai Thế Tôn. Dù rằng số lượng nhiều là thế, tuy nhiên để đến chỗ rốt ráo mong cầu thì hầu hết cầm bằng không. Tại sao như vậy? Ở đây có ba điều tối quan trọng mà những vị tự tu học nhận thức chưa thấu đáo vẫn còn hời hợt.
          Đây là ba điều:
  1. Chư vị không biết được, không nhận ra căn cơ trình độ của chính mình.
  2. Môi trường thực hành.
  3. Chưa quan tâm đúng mức về giới luật.
Thứ nhất: Không biết, không nhận ra căn cơ trình độ như thế nào? Thông thường những vị tự tu ngay trong đời sống là tự mình nghiên cứu kinh sách, tự chọn lấy kinh nào, pháp môn nào mà mình cảm thấy gần gủi ưa thích rồi thực hành theo đó, ít khi thông qua các Sư Thầy hay các vị thiện Trí thức có nhiều kinh nghiệm chỉ bảo. Vì không nhận ra căn cơ trình độ chính tự thân mà có nhiều vị loay hoay suốt nhiều chục năm cũng không nhận ra được là mình thích hợp vời pháp môn nào, căn cơ nào, trình độ nào. Kinh Pháp của Đức Như Lai hay luận của các Bồ Tát, các Tổ để lại thật là phong phú, sự diễn giải kinh nghiệm thực hành tu tập từ sơ phát tâm cho đến ngồi đạo tràng đều đầy đủ. Tuy nhiên, đem sự hiểu biết của tri thức để nhận ra mình thuộc căn cơ nào, là Nhân thiên, là Nhị thừa, là Bồ tát, là Như Lai thì bất khả.
Có nhiều vị phải bỏ ra nhiều năm tu theo Đại Thừa, nhưng sau cùng lại nhận ra căn cơ mình thuộc Nguyên thủy, rồi cũng có nhiều vị tu học theo Nguyên thủy nhiều năm rồi sau cùng nhận ra căn cơ mình lại là Đại Thừa. Thật đáng tiếc thay vì khi nhận ra thì thời gian bỏ ra cũng quá đủ dài không thể quay lại được nữa.
Đa phần những vị tự học tự tu đều chọn kinh sách Đại Thừa, vì kinh sách Đại Thừa văn nghĩa quảng đại, ít gò bó, tự do tự tại, lời kinh mênh mông bao la không bờ bến, không giới hạn, diễn tả những cảnh giới bất khả tư nghì của các vị Đại Bồ Tát
đã – đang - sẽ thực hành những hạnh nguyện to lớn vĩ đại, hầu như vượt qua tâm lượng suy nghĩ của nhân gian. Trong những bộ kinh Đại Thừa, Đức Thế Tôn luôn luôn nhắc nhở rằng: “Những lời Pháp trong kinh Đại Thừa nếu thâm nhập được ngộ ra thì nó là cam lồ diệu dược, còn không thì ngược lại nó là độc dược uống vào làm chết người”.
Trong những vị tự học tự tu cũng có nhiều vị rất dũng mãnh, quyết tâm tinh tấn, ý chí kiên cường, nhưng rồi thành quả chẳng có là bao, vì không có người đi trước chỉ dẫn. Trên đường thực hành đôi khi thấy là đứng lại là lùi nhưng thực sự là đang tiến, còn đôi khi thấy là tiến bộ là thuận đường mà thật sự là đang dừng lại, là thụt lùi. Vì vậy rất cần có người đi trước đầy đủ kinh nghiệm chỉ dẫn giảng giải thì mới không bị lạc đường. Có những vị học giáo pháp Đại Thừa mà khi thực hành lại theo Tiên đạo nên kết quả thành Địa Tiên. Tuy khỏe mạnh, có chút thần thông da dẻ hồng hào sống lâu, cũng có trí tuệ dù vậy với giáo pháp Đại Thừa vẫn ở bên ngoài. Cũng có nhiều vị học giáo pháp Đại Thừa, nhưng thực hành lại theo phương pháp Yoga nên kết quả rơi vào đạo Hindu - Bà-la-môn giáo; vì vậy các vị đó nghĩ giáo pháp Đại Thừa cùng nguồn gốc với đạo Hindu - Bà-la-môn giáo. Hay có những vị học giáo lý Đại Thừa, nhưng khi thực hành thiền định lại hướng tâm diệt khổ cầu mong Niết bàn nên kết quả rơi vào Nhị Thừa. Hay có nhiều vị tu theo công án thoại đầu Thiền Tông, nhưng khi thực hành lại không biết thế nào là thoại đầu, là công án. Vì vậy cứ lãi nhãi lập đi lập lại những câu nói của người xưa rồi tự cho mình ngộ Thiền đắc Thiền. Những vị đó thật là nhiều, tuy nhiên dù đông vậy cũng không có một vị nào nói được một câu siêu Phật vượt Tổ như ngài Bạch Ẩn thiền sư người Nhật “Lắng nghe tiếng vỗ một bàn tay”.
Có Công án mà không phải là Thoại đầu, có Thoại đầu mà không phải là Công án. Câu chuyện Hoàng Bá đánh Lâm Tế ba lần thì đó là công án. Còn câu “Trước khi trời đất sinh ra ta là cái gì”, thì đó là thoại đầu. Tại sao Hoàng Bá tạo công án cho Lâm Tế? Vì Lâm Tế không có câu hỏi nào hết. Còn Triệu Châu lại cho thoại đầu “Cây Bách trước sân” khi vị tăng hỏi “Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma sang Đông độ truyền pháp gì?”. Công án là bùng vỡ, còn Thoại đầu là ngăn dứt. Các vị tu thiền hãy cẩn trọng thẩm tra suy lường kỹ lưỡng căn cơ trình độ chính xác của mình rồi sau đó mới nhận lấy pháp môn thực hành. Thoại đầu là dành cho trình độ sơ cơ; Công án là dành cho các vị đã gần giác ngộ. Không hiểu thấu đáo như vậy thì cho dù thực hành nhiều năm cũng chỉ là công cóc mà thôi.
Đây là bằng chứng: Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có hai đoạn kinh xin đưa lên đây để cùng chiêm nghiệm: “Có một vị làm thợ vàng và một vị làm nghề thợ giặt đến xuất gia với ngài Xá-Lợi-Phất. Ngài Xá-Lợi-Phất dạy vị thợ làm vàng thiền định tu bạch cốt quán, còn vị làm nghề thợ giặt thiền định tu sổ tức quán. Hai vị tích cực tinh tiến thực hành một thời gian lâu nhưng không có kết quả chứng đắc gì hết, cuối cùng hai vị đó lên gặp Đức Thế Tôn bạch rằng giáo pháp ngài dạy không có quả vị A-La-Hán vì họ nghiêm chỉnh tinh tiến tu hành nếu có thì họ đã đạt được. Nghe hai vị đó trình bày, Đức Thế Tôn kêu ngài Xá-Lợi-Phất đến quở là dạy điên đảo. Ngài Xá-Lợi-Phất bạch với Thế Tôn thật ra là ngài không có trí căn trí lực nên ngài dạy chỉ vì tâm từ bi mà thôi. Sau đó Đức Thế Tôn mới dạy vị thợ làm vàng tu sổ tức quán và vị thợ giặt tu bạch cốt quán và không bao lâu hai vị đó đồng đắc quả A-La-Hán”.
Đoạn thứ hai: Cũng trong kinh Đại Bát Niết Bàn Sư tử hống Đại Bồ Tát. Khi Thế Tôn giảng về Như Lai tánh thì ngài Sư tử Hống Bồ Tát bạch rằng: “Thập địa Bồ Tát tu bao nhiêu pháp mà thấy tánh Như Lai chẳng rõ ràng còn chư Thế Tôn tu bao nhiêu pháp mà thấy tánh Như Lai được rõ ràng?”. Đức Thế Tôn dạy: Thập địa Bồ tát tu đủ mười pháp, tuy vậy mà thấy tánh Như Lai chẳng rõ ràng, mười pháp đó là: 1. Ít ham muốn. 2. Tự biết đủ. 3. Tịch tĩnh. 4. Tinh tấn. 5. Chánh niệm. 6. Chánh định. 7. Chánh Huệ. 8. Giải Thoát. 9. Tán thán giải thoát. 10. Dùng pháp Đại Niết Bàn giáo hóa chúng sanh.
Là Thập địa Bồ Tát còn tu mười pháp như vậy mà chỉ thấy một phần ít tánh Như Lai, vì sao? Do huệ nhãn mà thấy thì thấy tánh Như Lai chẳng được rõ ràng, còn Như Lai nhãn thì thấy được rõ ràng. Nếu vô hành vô tác thời thấy được rõ ràng…
Những con đường trên quả địa cầu này từ con đường lớn xe chạy tới con đường đi bộ, đến những con đường mòn trong rừng núi cho đến con đường bay của hàng không… có thể nhiều vô số kể. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với con đường tâm thức tu hành thì không đáng kể vào đâu. Con đường nhân gian tuy nhiều nhưng đều có dấu vết, có bắt đầu và có điểm đến nên có thể theo dõi được. Còn con đường tâm thức thì tuyệt nhiên không có điểm bắt đầu cũng không có nơi chấm dứt, vì nó nằm ngoài số lượng. Mong rằng chư vị tu học trong đời sống hãy cẩn trọng chọn lựa để có được một pháp môn thích hợp với trình độ căn cơ của mình, nhờ vậy mà đường tu được hanh thông, có thể làm ít mà được nhiều; còn không tuy có làm nhiều mà chẳng có được bao nhiêu.
Thứ hai: Tu học trong môi trường đang sống. Trong kinh điển dù Đại Thừa hay Nguyên Thủy, Đức Thế Tôn chỉ dạy cho chúng ta nhiều pháp môn để tu học. Như kinh Lăng Nghiêm có hai mươi lăm phương pháp thực hành của hai mươi lăm vị Thánh, cộng thêm chú Lăng Nghiêm đại định và tánh Thấy đốn ngộ của Thế Tôn, còn kinh Lăng Già thì có bốn cấp độ thiền là:
1. Phàm phu sở hành thiền.2. Quán sát nghĩa thiền.3. Phan duyên như thật thiền.4. Như Lai thanh tịnh thiền.
Kinh Giải Thâm Mật thì có du già chỉ quán… Còn kinh Nguyên Thủy A Hàm thì có quán Tứ-Đế: Tứ thiền cửu thứ đệ định, diệt tận định… nhiều thật nhiều. Còn Thiền Tông thì có thiền công án, thiền thoại đầu thật là vô cùng đa dạng đa sắc thái. Vì vậy, bất cứ một người nào từ sơ cơ cho đến thượng thừa cũng có thể tìm được cho mình một pháp môn thích hợp để thực hành. Tuy nhiên, điều tối ư quan trọng không mấy người nhận ra ở đây là: pháp môn tu học đó là Thế Tôn chỉ dạy cho giới nào, là Tỳ kheo xuất gia hay cư sĩ tại gia, là Bồ Tát hay nhị thừa.
Môi trường sống để tu học rất quan trọng cho tiến trình thành quả của người thực hành, nếu không nhận ra sự khác biệt trên giáo pháp Đức Thế Tôn dạy và đời sống của ta đang sống thì không thể uyển chuyển cho thích nghi với hai môi trường cá biệt. Thí dụ: Trong kinh Thế Tôn dạy giáo pháp cho các Tỳ Kheo xuất gia rời bỏ gia đình nuôi sống bằng khất thực, đã từ bỏ gánh nặng thế gian, thân được rảnh rỗi nhẹ nhàng, thiền định tu học hướng tâm đến giải thoát theo giáo pháp đã dạy.
Còn các vị sống trong thế gian, thân còn gánh nặng bổn phận cơm, áo, gạo, tiền. Tâm còn nhiều lo lắng ưu tư mà chọn học theo pháp Đức Thế Tôn dạy cho các Tỳ Kheo để thực hành thì khó được kết quả như mong muốn nếu không biết uyển chuyển cho thích hợp. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có câu chuyện vị Tỳ Kheo yêu cầu ngài A-Nan phải treo bảy báu nơi chỗ vị đó thiền định thì vị đó mới đắc quản A-La-Hán.
Môi trường rất quan trọng, nó là nhân tố quyết định 50% cho sự thành bại của những người tu học. Môi trường sống là y báo còn ta là chánh báo, mà y báo thì không rời chánh báo. Tuy nhiên, không tuyệt đối là như vậy, vì nếu chánh báo đủ năng lực thì có thể chuyển chuyển được y báo, còn không thì y báo chuyển chánh báo mà hầu hết là như vậy.
Môi trường có thể cho ta một cái lượng tương đối, còn cái phẩm thì nó không không quyết định được. Thí dụ như bưởi da xanh, vú sữa lò rèn, gạo nàng thơm chợ đào ở miền Tây Việt Nam chúng ta, những giống cây ăn quả đó nó chỉ thích hợp với một vùng đất đó mà thôi. Còn nếu đem trồng nơi khác thì nó cũng lên cây lên trái nhưng phẩm chất thì không giống nhau. Còn xa hơn nữa, cây vải thiều ở tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh mà đem vào trồng ở miền Tây thì nó cũng lên cành lá sum sê nhưng trái thì tuyệt nhiên không ra.
Môi trường quan trọng như thế đó dù với cây cỏ thực vật mà còn tác động lớn như vậy, thì thử nghĩ với tâm thức trùng trùng duyên khởi của chúng ta thì sự ảnh hưởng thân tâm của nó còn to lớn đến cở nào. Dù là như vậy, nhưng chúng ta là con người nên có thể giải quyết tất cả miễn là ta có ý chí giải quyết như thế nào. Giải quyết theo câu nói của Lục Tổ Huệ Năng là: “Không phải phướng động, không phải gió động mà là tâm động”.
Thứ ba là không mấy quan tâm về giới luật. Tu học trong đời sống thì giới luật đúng là cục xương nuốt không trôi. Vì trong năm giới căn bản là: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, không dùng chất làm mất lý trí. Đối với người sống trong nhân gian mà giữ một giới nào trong năm giới thì đó là một sự khó khăn nan giải, một sự mất mát vô cùng to lớn. Trước khi ta có ý định thọ trì giới luật thì hầu hết chắc chắn là một cuộc chiến khốc liệt xảy ra bên trong chúng ta; mà chiến tuyết một bên này là thói quen, còn bên kia là ý chí. Thói quen nó sẽ đưa lên một bức tranh ảm đạm, một cuộc sống tiêu cực hoàn toàn thiếu đi sự năng động. Còn tâm thức thì khỏi phải nói nó viện dẫn ra một kho lý luận triết lý hiện sinh rất là logic, nó dễ dàng đánh bại ý định của chúng ta.
Giữ giới có nghĩa là đi ngược lại dòng chảy của thế gian, nên vô cùng khó khăn gian nan để giữ đối với người sống trong trong nhân gian tự học tự tu hành. Dù xuất gia hay tại gia tu hành mà không có giới luật thì tuyệt đối không thể Giác Ngộ - không thể giải thoát được. Có tu lâu thì chỉ cũng thành ngoại đạo hay các cảnh giới chư thiên mà thôi. Muốn Giác Ngộ, muốn được giải thoát thì phải tự chiến thắng chính ta chớ không phải van cầu xin xỏ.
Cốt tủy của giới luật là một động lực giúp ta chiến thắng sự ươn hèn yếu đuối chính ta, nhờ vậy giới giúp ta tích lũy xây dựng lên một ý chí không lay động, nhờ vậy mà ta dũng mãnh tinh tiến đi tới vì thấy sự lợi lạc từ trì giới. Ta sống trong nhân gian này giống trong một đại dương mênh mông bao la lúc nào cũng sóng gào gió thét, mà sinh mạng thì trôi qua từng phút từng giây bất cứ lúc nào cũng có thể dìm ta vào đáy biển mà không một nhân sinh nào làm chủ được.
Đại dương là gì? Là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nó đối với: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của chúng ta mà tạo nên sóng gió. Ngoài đại dương tùy thuộc theo hai luồng không khí nóng lạnh lớn hay nhỏ để nó tạo nên cơn gió, cho đến những cơn siêu bão tàn phá thật khủng khiếp cả người lẫn vật chất. Cũng vậy, sáu căn của ta tiếp xúc với sáu trần bên ngoài rồi cũng tùy theo sự chấp thủ của ta mà ngọn gió tham-sân -si-mạn-nghi-ái-kiến lục dục thất tình nó khởi lên tàn phá thân tâm. Gió bão thiên tai nó đến vùng nào là nghiệp chung của chúng sanh vùng đó thu hút chứ nó không có tâm chọn lựa. Còn chúng ta là những người tu hành thì khác, ta có quyền chọn lựa vì ta có tâm. Ta có thể ngăn ngừa chặn đứng được cái nhân tham-sân-si… ngay trong tâm thức khi nó mới bắt đầu manh nha khởi động, vì vậy mà cái quả không thành, muốn làm được những điều kỳ diệu đó thì phải trì giới vậy.
Giới là sự củng cố ý chí, giới là sự rèn luyện thử thách giúp ta dũng mãnh kiên cường bất khuất, giới giúp ta chiến thắng chính ta, giới là con đường bằng phẳng đưa ta đến kho tàng chánh pháp, đưa ta đến những chân trời sáng lạng chân thiện mỹ. Giới làm cho sự thấy biết của ta vượt lên sự thấy biết chung của nhân gian.Giới giúp ta bên ngoài thắng được cái thân, bên trong thắng được cái tâm sở. Nhờ vậy mà đường tu học thực hành được vững vàng như chim có hai cánh thì bay lượn được dễ dàng. Giới làm cho thân khinh an, tâm an lạc ít bệnh, ít đau quỷ thần xa lánh không dám lại gần. Người trì giới thành công cả hai mặt là thế gian và tu hành, người trì giới giống như một chiến binh được huấn luyện trong một quân trường đặc biệt, chỉ dành cho những quân nhân nào có được từ ý chí tinh thần cho đến thân thể đều kiên cường dũng mãnh mới chịu đựng được sự trui rèn khắc nghiệt. Vì vậy, khi ra trường họ mới làm được nhiều việc mà người bình thường thì không thể nào.
Uống nước tự biết nóng lạnh, cũng vậy nếu đứng ngoài mà suy luận thì giới là một sự tiêu cực vì nó ngăn chặn mọi cuộc vui thô phù nô lệ của nhân gian; nhưng khi ta thực hành trì giới thì sẽ nhận ra giới giống như cái áo giáp vô hình hoàn mỹ, nó giúp ta ngăn chặn thập diện mai phục công kích của địch quân tên đạn chưa bao giờ ngừng nghỉ.
Tuy nhiên, sự tiêu-trưởng của thân tâm này dù âm thầm hay xuất hiện thì ta vẫn cúi đầu làm theo mệnh lệnh nó mà thôi. Cho nên nhờ có giới mới giúp ta quật ngược lại thế cờ chuyển bại thành thắng, giành quyền làm chủ và cái Thức giả dối không còn sai khiến ta được nữa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
Commentaries about eight verses move center .
 
Development Bodhi mind is the essence of Buddhist teachings and is the primary path. Once developed Bodhi mind progresses, one should try to practice the principle of selfless generosity heart throughout his life. This led to the concept that we often known as "Ideal Bodhisattva" including "Six perfect happiness": pilots, gender, rings, attack, concentration and wisdom.

I want to emphasize the practice of compassion is the heart of the entire path. All other practice would be the preparatory practice or as a platform for religious or loving heart is the practice behind this core practice. I also want to point out here that there is a general consensus among Buddhist sects, the sects of Mahayana and non-Mahayana, on this point. Thus, compassion lies at the root of all the teachings of the Buddha, but only inside the bodhisattva ideal we can find a special emphasis on the coordinated development of a loving heart through cultivate the Bodhi mind.
EIGHT PERFORMANCE CENTER storytelling

The will achieve supreme interests
With children, all living beings
More than Bao Chau Nhu Y
Prayer often always keeping important patriotic.

In this verse, you vow to view all beings treasured because they are the foundation to help you achieve the highest purpose, which is beneficial for all beings. This goal also transcended all the gems as miraculous, as that gem as the ink but very rare but it can not bring the highest spiritual attainment. Here also mention compassion beings. It is because of them being that you can develop compassion, spiritual principles highest, and also by beings that you can develop the Bodhi mind, selfless wish. So basically depends on your treated with other people that you may attain the supreme spiritual realization. On this view, our compassion born mother so deeply.
When nurtured keeping in mind always treasured beings, it is important to understand is that you do not nurture emotional kind of pity that sometimes we, or for those less fortunate than themselves. With compassion, you will tend to underestimate the audience's hearts Tuva have little sense of their view above others. Keeping others cherish actually mean opposite things. In practice, when notice of compassion for his people and they understand the necessity of the stars on the spiritual path, we cherish the great importance and their influence, and because that, in my mind they will implicitly considered in their higher status. Because thinking about the direction of such beings, you will always preserve your glass and love them. So Monday stanza says:

When linked up with anyone
See the figure below all
Heart, ask him honor
May the loving practice of reverence.

This stanza views I have just expressed. Always see yourself below others should not be mistakenly understood to be denying themselves, ignoring their own needs or feel like a hopeless thing. As I have earlier commentaries, comes from a powerful state of mind where you can connect with others, fully aware of his abilities that help them. So you do not misunderstand this point. What I want to point out here is that you need to be truly humble.
I want to tell you a story to illustrate this. Have a great yogis how we live several generations, he called Dza Patrul Rinpoche. He is not only a university degree but also realization numbers are very large maps. He often faculty teachings to thousands of disciples. But as a meditator should he often disappears in the retreat in such a place. His game or running any teacher seeking description. In a period of pilgrimage, he resided for several days with a particular family, like many pilgrims often did; They often seek refuge with the family on the way Tibetan pilgrims and parts they do this and that in exchange for meals. So Rinpoche Dza Patrul help a lot of families there, including the lifting of the mother is for him to do very often. Eventually some of his disciples to be the area well and listening is Dza Patrul Rinpoche was staying around here. Some monks eventually be home to this and asked the mother: "Do you know Dza Patrul Rinpoche anywhere?" The mother replied: "I do know Dza Patrul Rinpoche have here!" The monks new time describe his appearance to her and added that: "We heard he was staying in her home as a walking pilgrimage." The grandmother exclaimed: "Oh, is Dza Patrul Rinpoche then okay! "Right there at the right time, Dza Patrul Rinpoche is a bedpan for the lady. She too scared he ran away.
What this story mean, even a great lamas as Patrul Rinpoche, the Master has thousands of thousands of disciples, who often legal ban on the lofty throne surrounded with many monks, have humility destination real. He will not hesitate to do a job like bedpan for the lady.
There are some specific methods you can practice your view below him. Take a simple example, all of us know from experience that when focusing on an object or a specific individual, depending on the perspective, we will have different views. In fact, this is the essence of thinking. These thoughts can select only the properties of an isolated object at a certain point, thinking people can not afford to fully recognize the entire object. The essence of the thinking that there is screening. When we realize this, you may find yourself less than other beings from a certain degree, even in compassion with a tiny insect. I compared his example with an insect. I was a disciple of the Buddha and an air-thinking abilities, can assume the judge is right and wrong. I also have some knowledge of the basic teachings of Buddhism and theoretically, I pledged to practice this teaching. However, as noticed negative tendencies arise or when artifacts are not good act comes from the engine, if such standpoint, I find myself cases inferior to an insect . After all, an insect no ability to judge right and wrong way of humans, it would not have the ability to think far away and unable to understand complex things in the spiritual injunctions, so from the Buddhist perspective, whatever insect artifacts are the result of the collective and of industrial orders. In comparison, humans have the ability to decide their actions. So if we act negatively, they may argue that we are losing the insects! So when contemplating this perspective, there is basis to see their true lower than other beings.
Tuesday verse writes:

Interested himself in every act
Delusions, just negativity arises
Causing harm to themselves and people
Prayer seeks to eliminate immediately.

This verse indicates that, although all of us - the spiritual practitioners, wishes tame impulsive feelings, thoughts and negative emotions that arise from the inherent habit, many tend estate friendly as well as insufficient due diligence in applying the law of value to crush them, so the emotions and thoughts filled with negativity and just wear jewelry rather intensified arises in us. In fact, they are so strong that we often incorrectly treated by the unwholesome tendencies. Verses encourage you to perceive this to stay sober. To regularly control yourself and notice the evil tendencies emerged. If you do so, you will not compromise with them. You can watch over and away from the trend. This way, you're not home and force them to avoid the outbreak of strong emotions, negative words and behaviors they promote.
But overall, this is not so. Even recognizing the disturbing emotions, but very harmful if they are not too tense, you would go, "Oh, this case is probably acceptable but." You tend to overlook them. The problem is that as long as magic set with negativity as long as you will be more easy for them to recur and the easier we make concessions. This indicates that the negative will repeat. So mindful extremely important, for any moment when emotions emerge defilement, you may face and stop them instantly, as verses urged us .
Very important, especially for people who practice the Buddha, to regularly check themselves in daily life, recheck thoughts, feelings and even, if possible, even in his dreams. When pure mindfulness and awareness training, gradually you will be able to apply mindfulness more and more frequently and mindfulness will become a more effective tool.
The next verse says:

When you see evil beings temperamental
Being oppressed fierce curse,
As having been hard to find treasures
I am determined to bring you their love. 

This verse refers to the special case when there are people who were separated from the community may act either by their appearance, or because of poverty or disease state. Anybody practice Bodhi mind would be in favor of special objects such as if the encounter them, you have found a real treasure. Instead they feel rejected, a genuine practitioner to practice altruistic mind and generous commitment to take the challenge to empathize with them. In fact, how you come in contact with these objects can help create a big boost in spiritual development.
I am delighted to hear that some Buddhist centers are beginning to apply the ethical guideline of Buddhism in social life. For instance I have heard the Buddhist center has organized form certain spiritual education in jails to preach and advice. I think this is a great example. Obviously extremely unfortunate when people, here are the prisoners, being socially rejected. Not only extremely painful for them but on a broader level, this is a loss for society. We do not give them the opportunity to contribute positively to the community while they actually have the potential to do this. Therefore, I think it is very important for the whole community is not rejecting these individuals, please welcome them and recognizing the potential contribution they can bring. There is such a feeling of new inmates found refuge in the social community and begin to believe that they too have something to donate.
The next verse write this:

There are beings so jealous center
Irrational scolding, defamatory children
Please get off part of his lost
Prayer beings dedicate the victory.

Scores want to say here is that when someone provokes angers you without any reason or thwarted by injustice, instead of reacting in a negative way, you just endure them as a practitioner being Practice generous altruistic mind. Keep calm mind before such behavior. In the next verse, you will learn that we are not only patience with such people but to see them as spiritual masters as well.

For the individual aid
Or children have low expectations
Suddenly wrongfully harmed children
Prayer see them as you heal Teacher.

In works  Enter Bodhisattva  Shantideva his, part discussion on a wide range of development methodologies and how this mind how could really learn to see the damage for himself as the spiritual master. In works  Enter Madhyamaka  his Xứng Moon, too, have the full teaching part inspired and infallible method to cultivate the qualities of humility and patience.
Saturday verses summarize all the practice has discussion. Shelves writes as follows:

In short, directly or indirectly
Down all the benefits to his mother
The pain of her injury
Prayer receive all of their secrets.

Verses express a special practice of Buddhism called "The practice of giving and receiving," also known as Tong-len . By contemplating to go and get back you practice vabinh conversion method tha fall class. 
The practice of "Convert and down tha equality" should not be interpreted directly as turning to other people and other people of his turn. Not doing so is. Here meant to be understood as the reverse his attitude often have to yourself and to others. We tend to see the so-called "I" as the core precious place of the existing center, something truly worthy of nurture her, to the extent we are willing to abandon all happy other people. Our attitudes towards them, often indifferent, at best we can have some attention to them, but even this is simply emotional level and feel only. Overall, we are indifferent to the welfare of people and never taken seriously. So focus point of this practice is the reverse that attitude to reduce the intensity of greed, attachment to which we devoted ourselves seriously and efforts of other people happy.
When approaching the Buddhist practice in this way, with the idea that you should be exposed to danger and suffering for myself, I think you need to look carefully at this and understand advice that the correct language is extremely important canhla. Article here really wanted to mention is: if in the course of practicing the path of spiritual practice, you go to the plight suffered hardship or even passion then fully prepared for this. Instruction does not imply that you have hated or wronged themselves, or where it wants to hit his suffering as punishment. Very important when you understand that the significance of this is not so.
Another example that you should not misunderstand is a famous saying of the Tibetans: "May you have the strength when you need to increase the pressure experienced a lifetime, countless lifetimes inside the deepest level of hell. "The point here is to point out the courage of your brave right to the extent that, if you need a part in the process of engagement for the benefit of all sentient beings, you must have the willingness and determined to accept it.
Understand exactly what this statement is extremely important, because when misinterpreted, you can use them to join forces to any feelings of hatred themselves, thinking that if the self is the embodiment of selfishness, they must abandon ourselves into oblivion. Do not forget that, ultimately, the motivation behind the aspirant embarks on the spiritual path is to attain ultimate happiness, so when an individual find happiness for yourself is also being sought happiness to other beings. Even on the plane of reality, to someone developing genuine loving heart to others, first of all he must have platform to cultivate loving kindness and that platform is the ability to connect the left its own contact and care for their own happiness. Without the ability to do this, how you can connect with other people and care about them? Caring for others requires attention to yourself. The practice of  Tong-len , giving and receiving, the acquirer practice kindness and compassion mind: practice giving emphasis practice loving kindness practice while receiving the focused practice compassionate heart.
He Shantideva give an interesting approach to this practice in the commentary  Enter the Bodhisattva.  It is the visualization to help us get out the deficiencies of selfish interest and teach us the ways to treat it. On the one hand you visualize his usual self, ego hard inert with other beings happiness and is the embodiment of selfishness. This is what worries down only know their own interests, often worry so much that it is willing to take advantage arrogantly others to get what she wants. Next, on the other hand, you visualize a group of other beings are facing hardships that no one shelter or refuge. You can focus on specific individuals if desired. Suppose, if you want to visualize someone you know and love and people that are experiencing hardships, you can see that person is subject to specific visualization and practice his whole practice let go, get back to him. Third, you see yourself as an individual neutral or impartial observer is attempting to assess the benefits of the more important one here. Isolate yourself in the position of a neutral observer will help you easily recognize the limitations of the ego mind and selfless charity enlightened that would be fair and reasonable as far more interested in happy joy of other beings.
The result of this visualization is that you will gradually begin to feel sympathy for others and empathize with their suffering. At this point, you can start really meditation on giving and taking.
To practice meditation to go, practice a different visualizations are also benefits. First of all, you focus on living beings are experiencing hardships and trying to develop and increase compassion for them, to a point where you feel their suffering almost unbearable pot. Yet at the same time, you find yourself actually not do much to help them all. So the motive of compassion, to train ourselves to become more efficient, you visualize yourself burden of receiving all their suffering, the cause of suffering, these thoughts and feelings Their negative etc ... You can do this by visualizing their suffering and the negative was like a black cloud of smoke, you shop for the black smoke that dissolved into himself. Within the scope of this practice, you can also share their faith with their charity. You may recall the great things he has done, any positive potential hidden within you as well as any knowledge or spiritual insight, what you've accomplished. Keep sending these accomplishments to other beings, that they also enjoy the same benefit. You can do this by visualizing his qualities in bright light thedang or a white light passes through the lens of other beings and imbue in them. This is the visualization practice to go and get it.
Of course, this kind of meditation is not beneficial for the specific material beings in the form of visualization for it, but practice can help enhance your concern for others and empathy for with suffering and at the same time help reduce the power failure selfishness in our heart. These are the benefits of this practice. This is also the method of training the mind to cultivate pure aspiration to help beings. Once this trigger aspiration and desire aspirant attain perfect enlightenment, you actually witness Bodhi mind, the mind of compassion want achievements full enlightenment for the benefit of all beings.
The last verse says:

All top eight voluntary measures
Do not contaminate wandering mind
He knew the law as illusory
May the binding attachment liberation.

Two lines of verse oil is extremely important for those genuine practitioners. Eight worldly concern generally is the subversive elements of our lives. They make us happy to be praised, depression when offended, happy to be successful, it failed miserable, happy that wealthy, depressed as poor, famous and satisfying when bored when no one recognized. A genuine practitioner must assert mental culture being selfless generosity defilements because of worldly concern there. For example, when the teaching is this, if I just had a fleeting thought little hope to the audience admired the engine that shows my lecture was tainted because of secular thinking, what which Tibetans call "the eight worldly concerns." Very important when you're judging ourselves to make sure I had not been so defiled. Similarly, a yogi practices generous altruistic ideals in daily life, then immediately eight worldly concern has defiled his practice. Similarly, if a practitioner hopes "people will admire my work," looks forward to the praise of the efforts to practice diligently. All this is the fame avaricious calculation that will destroy the practice of a practitioner. Make sure things like this do not happen is very important to help you maintain purity in practice.
As you have already seen it, the instructions in the teaching  lo-jong  of transforming the mind is extremely powerful. These instructions require you to contemplation. For example, there is one paragraph stated as follows:
"May I always happily he was despised and never happy to hear praise. If I was glad to be commended, immediately interested arrogance, arrogance and envy will flourish more in me; While if I am happy to hear blasphemed the least so I knew his shortcomings . "
A very strong point!
Horizontal here, we had discussion on all measures relating to sustenance "relative Bodhicitta" compassionate desire aspirant achievements perfect enlightenment to the students. Now, the last two lines of eight verses referring to practice cultivation Salvage Bodhi mind, implies the development of an insight about the ultimate nature of reality. Although intellectual development is part of the bodhisattva ideal, embodied in six perfections perfect happiness, as mentioned earlier, generally have two points on the path essence, it is the means and location Property. Both are within the definition of enlightenment, ie duality of perfect form and perfect wisdom. Practical wisdom or insight correlated with the perfection of wisdom while practicing skillful means or method correlated with the perfection of form.
Buddha's teachings are often expressed in a common framework known as Performance Based Religion. First you cultivate knowledge about the nature of reality with two level of realism, it's true relative and absolute truth  (nd: The custom insole and heel) , this is the foundation. Next, on the real path, you gradually coordinated practice of meditation and spiritual practice as a mass media and intellectual. Final results tu tu main road is duality between perfect form and perfect wisdom.
The last two verses wrote:

He knew the law as illusory,
May the binding attachment liberation.

Two of this verse actually indicates cultivate practice insight into the nature of reality, but if you glance over the surface, it seems that this verse how cultivator expression associated with life outside the stage Exhaust meditation. Buddhist doctrine explaining the ultimate nature of reality, there are two important time assigned: One is the meditation, while you keep the mind is and the other is the discharge of meditation, your time back real good life. So here, this verse two lines associated with a cultivator directly connected to the world outside during exhaust meditation. That is why the verse refers to reality as illusory, because this is how you must feel the character at the end of meditation.
According to my reasoning, these two verses gives a very important point, because sometimes one thought during meditation, the most important thing is to maintain single-mindedly. They are less interested to notice how this experience can be applied in the discharge time of meditation. I suggest that the discharge time is very important in meditation. The whole essence of the meditation on the ultimate nature of reality is to ensure that you are not deceived present situation and realize the difference between the way things really are out and them. Buddhism is often argued that the current situation is illusory. With deeper comprehension of reality, you can overcome the current situation and recognize the way things look correct, efficient and realistic.
I often give the example of how we relate with neighbors. Imagine you live in a certain area in a city where you can not communicate almost anything with their neighbors, yet if you can communicate with them better still duocthi ignoring them. Do this wisely will depend on you to understand the personality of a neighbor to any size. Suppose, if the neighbors next door are very resourceful and friendly communication with him will be beneficial to you. Also, when you look carefully, you also noticed this neighbor have quite cunning nature, the understanding that becomes very valuable if you just maintain friendly relations but also medium to alert not being taken advantage of. Also, once you have a deep knowledge about the nature of reality, in the discharge of meditation, while living in the real world, you would contact with people and things in the right way and reality than.

EIGHT PERFORMANCE CENTER storyteller (1)
 


The will achieve supreme interests
With children, all living beings
More than Bao Chau Nhu Y
Prayer often always keeping important patriotic.


When linked up with anyone
See the figure below all
Heart, ask him honor
May the loving practice of reverence.


Interested himself in every act
Delusions, just negativity arises
Causing harm to themselves and people
Prayer seeks to eliminate immediately.


When you see evil beings temperamental
Being oppressed fierce curse,
As having been hard to find treasures
I am determined to bring you their love.


There are beings so jealous center
Irrational scolding, defamatory children
Please get off part of his lost
Prayer beings dedicate the victory.


For the individual aid
Or children have low expectations
Suddenly wrongfully harmed children
Prayer see them as you heal Teacher.


In short, directly or indirectly
Down all the benefits to his mother
The pain of her injury
Prayer receive all of their secrets.


All top eight voluntary measures
Do not contaminate wandering mind.He knew the law as illusory
May the binding attachment liberation.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
giảng về tám thi kệ chuyển tâm .
 
Phát triển tâm Bồ đề là cốt tủy của giáo pháp Phật giáo và là đường tu chính yếu. Một khi phát triển tâm Bồ đề diễn tiến, hành giả phải nỗ lực thực hành nguyên tắc tâm vị tha độ lượng suốt đời mình. Điều này dẫn đến khái niệm mà chúng ta thường biết đến là “Lý tưởng Bồ tát” bao gồm cả “Sáu hạnh toàn hảo”: thí, giới, nhẫn, tấn, định và tuệ.

Tôi muốn nhấn mạnh sự thực hành lòng từ ái là tâm điểm của toàn bộ đường tu. Tất cả các pháp hành khác sẽ là các pháp tu dự bị hoặc là nền tảng để tu tâm từ ái hoặc là những thực hành đi sau pháp hành cốt lõi này. Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây rằng có một sự nhất trí chung giữa các tông phái Phật giáo,cả Đại thừa và các tông phái không phải Đại thừa, về điểm này. Như vậy, lòng từ ái nằm ở cội rễ của tất cả các giáo pháp của Đức Phật, nhưng chỉ bên trong lý tưởng Bồ tát chúng ta mới có thể tìm thấy sự chú trọng đặc biệt về phát triển phối hợp của tâm từ ái qua việc tu dưỡng tâm Bồ đề.
TÁM THI KỆ CHUYỂN TÂM

Ý nguyện thành tựu lợi tối thắng
Với con, tất cả loài hữu tình
Còn hơn cả Bảo Châu Như Ý
Nguyện thường luôn giữ gìn lòng ái trọng.

Trong bài kệ này, quý vị phát nguyện xem tất cả chúng hữu tình vô cùng trân quý bởi vì họ chính là nền tảng giúp quý vị thành tựu mục đích cao cả nhất, tức là mang lại lợi ích cho hết thảy chúng sinh. Mục tiêu này còn siêu vượt cả viên ngọc như ý kỳ diệu, vì rằng ngọc như ý tuy rất mực quý hiếm nhưng nó không thể mang lại sự chứng đắc tâm linh tối thượng. Ở đây cũng có đề cập đến lòng từ bi của chúng hữu tình. Chính nhờ chúng hữu tình mà quý vị có thể phát triển tâm đại bi, nguyên tắc tâm linh cao cả nhất, và cũng nhờ chúng hữu tình mà quý vị có thể phát triển tâm Bồ đề, tâm nguyện vị tha. Như vậy nương vào căn bản đối đãi của quý vị với người khác mà quý vị có thể thành tựu những chứng ngộ tâm linh tối thượng. Trên quan điểm này, lòng từ bi của chúng sinh mẹ rất sâu sắc.
Khi trưởng dưỡng tâm niệm luôn gìn giữ chúng sinh vô cùng trân quý, điều quan trọng phải hiểu được là quý vị không nuôi dưỡng loại tình cảm thương hại mà đôi khi chúng ta hay dành cho những người kém may mắn hơn mình. Với lòng thương hại, quý vị sẽ có khuynh hướng xem thường đối tượng của lòng từvà có chút cảm giác xem mình cao hơn người khác. Giữ gìn trân quý tha nhân thật ra có ý nghĩa ngược lại với điều trên. Trong pháp hành này, khi nhận thấy lòng từ ái của người đối với mình và hiểu sự cần thiết của họ ra sao trên con đường tu tập tâm linh, chúng ta trân quý tầm quan trọng lớn lao và ảnh hưởng của họ, và vì thế, trong tâm trí ta sẽ mặc nhiên xem họ ở địa vị cao hơn mình. Vì suy tư về chúng sinh theo hướng như vậy, quý vị sẽ luôn luôn giữ gìn, kính quý và yêu thương họ. Thế nên, khổ thơ thứ hai viết:

Khi kết thân với bất kỳ ai
Xem chính con thấp hơn tất cả
Tận đáy lòng xin tôn kính người
Nguyện hành trì tôn kính thương yêu.

Khổ thơ này chỉ ra quan điểm mà tôi vừa diễn đạt. Luôn xem bản thân mình thấp hơn người khác không nên được lầm hiểu thành việc chối bỏ bản thân, bỏ mặc những nhu cầu của bản thân hay cảm thấy mình là thứ vô vọng. Như tôi đã luận giảng trước đó, xuất phát từ một trạng thái tâm dũng mãnh mà quý vị có thể kết nối với người khác, nhận thức trọn vẹn khả năng mình có thể trợ giúp họ. Vì thế quý vị đừng ngộ nhận điểm này. Điều mà tôi muốn chỉ ra ở đây là quý vị cần có sự khiêm cung thật sự.
Tôi muốn kể cho quý vị một câu chuyện để minh họa điều này. Có một bậc hành giả vĩ đại sống cách chúng ta vài ba thế hệ, ngài tên là Dza Patrul Rinpoche. Ngài không chỉ là một bậc đại chứng ngộ mà còn có số lượng đồ chúng rất đông đảo. Ngài thường ban giảng giáo pháp cho hàng ngàn đệ tử. Nhưng là một thiền giả nên ngài thường biến mất trong những kỳ nhập thất ở nơi nọ nơi kia. Các học trò của ngài hay chạy tất tả đi tìm Thầy. Trong một kỳ hành hương, ngài trú ngụ vài ngày với một gia đình nọ, giống như nhiều người hành hương vẫn thường làm; Họ thường tìm nơi trú ngụ cùng với các gia đình Tạng trên đường đi hành hương và phụ họ làm việc này việc kia để đổi lấy bữa ăn. Vì vậy, Dza Patrul Rinpoche phụ giúp rất nhiều việc cho gia đình đó kể cả việc đổ bô cho bà mẹ già là việc ngài làm rất thường. Rốt cuộc một số đệ tử của ngài cũng đến được vùng đó và nghe ngóng được là Dza Patrul Rinpoche đang trú ngụ quanh đây. Một số tăng sĩ cuối cùng cũng đến được gia đình  này và hỏi người mẹ: “Bà có biết Dza Patrul Rinpoche ở đâu không?” Bà mẹ trả lời rằng: “Tôi nào biết Dza Patrul Rinpoche có ở đây!” Các tăng sĩ bấy giờ mới miêu tả dáng dấp của ngài cho bà nghe và nói thêm là: “Chúng tôi nghe nói ngài đang trú ngụ trong nhà bà như một người đang đi hành hương.” Bà cụ la lên: “Ồ, chính là Dza Patrul Rinpoche đó sao!” Ngay đúng lúc đấy, Dza Patrul Rinpoche đang đi đổ bô cho bà cụ. Bà quá hoảng sợ bèn bỏ chạy.
Điều mà câu chuyện này muốn nói là ngay cả một Lạt ma vĩ đại như Patrul Rinpoche, vị Thầy có hàng ngàn ngàn đệ tử, người thường ban pháp trên những pháp tòa cao vời với nhiều tăng chúng vây quanh, có đức khiêm cung đích thực. Ngài chẳng hề do dự khi phải làm một công việc như đổ bô cho bà cụ.
Có một số phương pháp cụ thể để quý vị có thể thực hành xem mình thấp hơn người. Lấy ví dụ đơn giản, tất cả chúng ta đều biết từ kinh nghiệm là khi tập trung vào một đối tượng hay cá nhân cụ thể, tùy theo góc nhìn, chúng ta sẽ có quan điểm khác biệt. Thực tế, đây là bản chất của tư duy. Những ý nghĩ có thể chọn lọc chỉ những đặc tính biệt lập của một đối tượng nào đó ở một thời điểm nào đó, tư duy con người không có khả năng nhìn nhận trọn vẹn toàn bộ một đối tượng. Bản chất của tư duy là có sự sàng lọc. Khi nhận ra điều này, quý vị có thể thấy mình thấp hơn chúng sinh khác từ một góc cạnh nào đó ngay cả trong lòng từ ái với một con côn trùng tí hon. Chẳng hạn tôi so mình với một con côn trùng. Tôi là đệ tử của Đức Phật và là một người được trang bị khả năng tư duy, giả định là có thể xét đoán được đúng sai. Tôi cũng có một số kiến thức về giáo pháp cơ bản của Phật giáo và về mặt lý thuyết, tôi cam kết thực hành các giáo pháp này. Tuy nhiên, khi nhận thấy khuynh hướng tiêu cực khởi sinh hoặc khi tạo tác những hành động không tốt xuất phát từ những động cơ đó, nếu xét trên quan điểm như vậy, có trường hợp tôi thấy mình thấp kém hơn một con côn trùng. Xét cho cùng, một con côn trùng không có khả năng phán xét đúng sai theo cách của con người, nó cũng chẳng có khả năng nghĩ ngợi xa xôi và không thể hiểu được những điều phức tạp trong các huấn thị tâm linh, vì thế từ quan điểm Phật giáo, bất kỳ điều gì con côn trùng tạo tác đều là kết quả của sự huân tập và của nghiệp. Khi so sánh, loài người có khả năng quyết định hành động của mình. Nên nếu chúng ta hành động tiêu cực thì có thể luận là ta còn thua cả con côn trùng! Vậy khi suy niệm theo góc độ này, có cơ sở thật để thấy mình thấp hơn các chúng sinh khác.
Thi kệ thứ ba viết rằng:

Quán tâm mình trong mọi hành xử
Vọng tưởng, phiền não vừa dấy khởi
Gây nguy hại cho mình và người
Nguyện tìm cách trừ diệt lập tức.

Bài kệ này chỉ ra rằng, dù tất cả chúng ta - những hành giả tâm linh, mong muốn chế ngự những tình cảm bốc đồng, những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực nảy sinh từ nhiều thói quen cố hữu, nhiều khuynh hướng bất thiện cũng như do chưa đủ tinh tấn trong việc áp dụng các pháp đối trị để dẹp tan chúng, cho nên những cảm xúc và niệm tưởng đầy phiền não cứ mặc sức dấy khởi và khá cường liệt trong chúng ta. Trên thực tế, chúng mạnh đến mức chúng ta thường xuyên bị sai xử bởi các khuynh hướng bất thiện. Thi kệ này khuyên quý vị nên nhận thức điều này để luôn tỉnh táo. Phải thường xuyên kiểm soát bản thân và chú ý khi những khuynh hướng ác nổi lên. Nếu làm được như thế, quý vị sẽ không nhân nhượng với chúng. Quý vị có thể canh chừng liên tục và tránh xa những khuynh hướng đó. Bằng cách này, quý vị không gia lực cho chúng và sẽ tránh được sự bùng nổ những cảm xúc mạnh mẽ, những ngôn từ tiêu cực và hành vi do chúng thúc đẩy.
Song nhìn chung, điều này lại không như thế. Ngay cả khi nhận biết các cảm xúc phiền não rất tai hại song nếu chúng không quá căng thẳng thì quý vị hay tự nhủ: “Ồ, trường hợp này có lẽ chấp nhận được mà.” Quý vị có xu hướng xem nhẹ chúng. Vấn đề là càng huân tập với phiền não lâu chừng nào quý vị sẽ càng dễ để chúng tái diễn và càng dễ dàng nhượng bộ chúng. Điều này cho thấy cái tiêu cực sẽ lập đi lập lại. Vì vậy, giữ chánh niệm cực kỳ quan trọng, để bất cứ thời khắc nào khi những cảm xúc nhiễm ô phiền não trồi lên, quý vị có thể đối diện và ngăn chặn chúng ngay tức thì, như thi kệ đã kêu gọi chúng ta.
Hết sức quan trọng đặc biệt là đối với người tu theo Phật, phải thường xuyên kiểm tra lại mình trong đời sống hàng ngày, kiểm tra lại suy nghĩ, cảm xúc và thậm chí nếu có thể, ngay cả trong giấc mơ của mình. Khi thuần luyện chánh niệm tỉnh giác, dần dà quý vị sẽ có thể áp dụng chánh niệm thường xuyên ngày một nhiều hơn và chánh niệm sẽ trở thành một công cụ hiệu quả hơn.
Thi kệ kế tiếp viết:

Khi thấy chúng sinh bẩm tính ác
Bị tội khổ áp bức khốc liệt,
Như gặp được kho báu khó tìm
Con nguyện đem lòng yêu quý họ. 

Bài kệ này đề cập đến trường hợp đặc biệt khi có những người bị cách ly khỏi cộng đồng có thể do hành vi hoặc diện mạo của họ,  hoặc do sự nghèo túng hay bệnh tật nào đó. Bất kỳ ai thực hành tâm Bồ đề sẽ phải ưu ái đặc biệt những đối tượng như thế, như thể khi gặp gỡ họ, quý vị đã tìm thấy một kho báu thật sự. Thay vì họ cảm thấy bị khước từ, một hành giả chân chính với thực hành tâm vị tha độ lượng cần cam kết và nhận lấy thử thách để cảm thông với họ. Trên thực tế, cách quý vị tiếp xúc với những đối tượng này có thể giúp kiến tạo một lực đẩy lớn trong phát triển tâm linh.
Tôi rất vui mừng khi nghe nói rằng một số trung tâm Phật giáo đang bắt đầu áp dụng những phương châm xử thế của Phật giáo vào đời sống xã hội. Chẳng hạn tôi có nghe nói các trung tâm Phật giáo đã tổ chức hình thức giáo dục tâm linh nào đó trong các nhà giam để có thể thuyết giảng cũng như tư vấn. Tôi cho rằng đây là một điển hình tuyệt vời. Hiển nhiên là vô cùng bất hạnh khi con người, ở đây là các phạm nhân, bị xã hội khước từ. Không chỉ vô cùng đau khổ cho họ mà trên bình diện rộng hơn, đây cũng là sự tổn thất cho toàn xã hội. Chúng ta không dành cho họ cơ hội đóng góp tích cực cho cộng đồng trong khi họ thật có những tiềm năng thực hiện việc này. Chính vì thế, tôi cho rằng điều thật quan trọng đối với toàn thể cộng đồng là không khước từ những cá nhân này, hãy chào đón họ và công nhận những đóng góp tiềm năng mà họ có thể mang lại. Có như vậy các phạm nhân mới cảm tìm thấy nơi nương tựa trong cộng đồng xã hội và bắt đầu tin rằng họ cũng có gì đó để hiến tặng.
Thi kệ tiếp theo viết thế này:

Có chúng sinh do tâm ghen ghét
Phi lý chửi mắng, phỉ báng con
Xin nhận hết phần thua về mình
Nguyện dâng tặng chúng sinh phần thắng.

Điểm muốn gửi gắm ở đây là khi có người khiêu khích chọc tức quý vị mà chẳng có lý do gì hoặc do sự bất công ngang trái, thay vì phản ứng một cách tiêu cực, quý vị hãy nhẫn nhịn họ như một hành giả đang thực hành tâm vị tha độ lượng. Hãy giữ tâm bình thản trước những hành xử như vậy. Trong thi kệ kế tiếp, quý vị sẽ học được rằng chúng ta không chỉ nhẫn nhục với những người như thế mà còn phải xem họ như những bậc thầy tâm linh nữa.

Đối với người con từng trợ giúp
Hoặc người con đặt nhiều kỳ vọng
Bỗng dưng vô cớ hãm hại con
Nguyện xem họ như bạn lành Tôn Sư.

Trong tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên, có một phần luận bàn trên phạm vi rộng về phương pháp phát triển tâm này như thế nào và làm sao có thể thực sự học được cách xem những người gây tổn hại cho mình như những bậc thầy tâm linh. Trong tác phẩm Nhập Trung Quán của ngài Nguyệt Xứng cũng thế, có những phần giáo huấn đầy ắp cảm hứng và công hiệu về phương pháp vun bồi phẩm tính khiêm nhường và nhẫn nhục.
Thi kệ thứ bảy tóm lược lại tất cả các thực hành đã luận bàn. Kệ này viết như sau:

Tóm lại dù trực tiếp hay gián tiếp
Dâng mọi lợi lạc lên mẫu thân
Những tổn hại khổ đau của Mẹ
Nguyện bí mật nhận hết về mình.

Thi kệ này thể hiện một pháp hành đặc biệt của Phật giáo gọi là “Pháp hành cho và nhận” hay còn gọi làTong-len. Bằng cách quán tưởng cho đi và nhận lại mà quý vị thực hành được pháp hoán chuyển vàbình đẳng ngã tha. 
Pháp hành “Hoán chuyển và bình đẳng ngã tha” không nên hiểu theo nghĩa trực tiếp là biến mình thành người khác và biến người khác thành mình. Không làm như vậy được. Nghĩa ở đây phải được hiểu là sự đảo ngược thái độ mình thường có đối với bản thân và đối với người khác. Chúng ta thường có xu hướng xem cái gọi là “tôi” như phần cốt lõi quý giá nơi trung tâm của sự hiện hữu, một thứ gì đó thực sự xứng đáng chăm bẵm, đến mức chúng ta sẵn sàng bỏ mặc tất cả hạnh phúc của người khác. Thái độ của chúng ta đối với họ, thường là thờ ơ, cùng lắm chúng ta có thể có vài lưu tâm tới họ, nhưng ngay cả điều này cũng chỉ đơn giản ở mức độ cảm xúc và cảm nhận mà thôi. Nhìn chung, chúng ta hờ hững với hạnh phúc của người và chẳng bao giờ xem trọng. Vì vậy, điểm chú trọng của thực hành này là đảo ngược thái độ đó nhằm giảm thiểu cường độ của sự tham lam, bám luyến mà chúng ta dành cho bản thân và nỗ lực coi trọng hạnh phúc của người khác.
Khi tiếp cận các thực hành Phật giáo theo phương pháp này, có ý kiến cho rằng quý vị nên hứng chịu những hiểm họa và đau khổ cho bản thân, tôi cho rằng quý vị cần xem xét thận trọng điều này và hiểu rõ lời khuyên đó trong đúng ngữ cảnhlà cực kỳ hệ trọng. Điều ở đây thực sự muốn đề cập là: nếu trong quá trình thực hành con đường tu học tâm linh, quý vị đi đến hoàn cảnh phải gánh chịu những thử thách cam go hay kể cả khổ nạn thì hãy có sự chuẩn bị đầy đủ cho việc này. Huấn thị không ngụ ý nói rằng quý vị phải oán ghét hay bạc đãi bản thân, hoặc đâu đó phải mong muốn khổ nạn ập vào mình như nhục hình. Rất quan trọng khi quý vị hiểu rằng ý nghĩa điều này không phải như thế.
Một thí dụ khác mà quý vị không nên hiểu sai là một câu nói nổi tiếng của người Tạng: “Nguyện con có sự dũng mãnh khi cần để kinh qua a tăng tỳ kiếp, vô lượng kiếp bên trong tầng sâu nhất của địa ngục.” Điểm muốn chỉ ra ở đây là lòng quả cảm dũng mãnh của quý vị phải ở mức độ như thế, nếu quý vị cần góp một phần trong quá trình dấn thân vì lợi ích chúng hữu tình, quý vị phải có sự sẵn sàng và quyết tâm chấp nhận điều đó.
Hiểu đúng những phát biểu này cực kỳ hệ trọng, bởi vì khi hiểu sai, quý vị có thể sử dụng chúng để gia lực cho bất kỳ cảm xúc oán ghét bản thân, nghĩ rằng nếu cái ngã là hiện thân của vị kỷ thì phải ruồng bỏ bản thân vào quên lãng. Đừng quên rằng, cuối cùng thì những động lực đằng sau chí nguyện dấn thân vào con đường tu tập tâm linh là để chứng đắc hạnh phúc tối thượng, vì thế khi một cá nhân tìm cầu hạnh phúc cho bản thân là cũng đang tìm cầu hạnh phúc cho chúng sinh khác. Ngay cả trên bình diện thực tế, để một ai đó phát triển tâm từ ái chân thực đến những người khác, trước hết người đó phải có nền tảng  để vun bồi lòng từ ái và nền tảng đó chính là khả năng kết nối các cảm xúc riêng của mình và chăm sóc cho hạnh phúc của bản thân. Nếu không có khả năng thực hiện điều này, làm sao quý vị có thể kết nối với người khác và quan tâm đến họ? Chăm sóc người khác đòi hỏi quan tâm đến chính mình. Pháp hành Tong-len, cho đi và nhận lại, thâu tóm thực hành tâm từ ái và bi mẫn: thực hành cho đi chú trọng thực hành lòng từ ái trong khi thực hành nhận lại chú trọng vào thực hành tâm bi mẫn.
Ngài Tịch Thiên đưa ra một phương pháp thú vị về thực hành này trong bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh. Đó là sự quán tưởng giúp chúng ta nhận hiểu những khiếm khuyết của tâm vị kỷ và dạy chúng ta những phương cách đối trị nó. Một mặt quý vị quán tưởng cái ngã thường lệ của mình, cái ngã trơ cứng với hạnh phúc của chúng sinh khác và là hiện thân của sự ích kỷ. Đây chính là cái ngã chỉ biết lo toan cho lợi ích riêng mình, lo nhiều đến mức nó thường sẵn lòng tận dụng người khác một cách ngạo mạn để đạt được điều mình muốn.  Kế đến, một mặt khác, quý vị quán tưởng một nhóm các chúng sinh khác đang gặp khổ nạn mà không có ai che chở hay nương tựa. Quý vị có thể chú tâm vào những cá nhân cụ thể đó nếu muốn. Giả dụ, nếu muốn quán tưởng ai đó mà quý vị biết rõ và yêu thương và người đó đang gặp khổ nạn, quý vị có thể xem người đó là đối tượng cụ thể cho sự quán tưởng của mình và thực hành toàn bộ pháp hành cho đi, nhận lại đối với người ấy. Thứ ba, quý vị xem mình như một cá nhân trung lập hoặc là quan sát viên công minh đang nỗ lực đánh giá lợi ích của ai quan trọng hơn ở đây. Cô lập mình trong vị trí của người quan sát trung lập sẽ giúp cho quý vị dễ dàng nhìn nhận những hạn chế của tâm vị kỷ ái ngã và ngộ ra rằng sẽ công bằng và hợp lý hơn nhiều khi quan tâm đến hạnh phúc an vui của những chúng sinh khác.
Kết quả của quán tưởng này là quý vị sẽ từng bước bắt đầu cảm nhận mối đồng cảm với người khác và thấu cảm với đau khổ của họ. Tại thời điểm này, quý vị có thể khởi đầu thiền quán thật sự về cho và nhận.
Để thực hành thiền quán cho đi, thực hành một quán tưởng khác cũng rất lợi ích. Trước hết, quý vị chú tâm vào những chúng sinh đang gặp khổ nạn và cố gắng phát triển cũng như gia tăng lòng bi mẫn đối với họ, tới một điểm mà quý vị cảm thấy sự đau khổ của họ gần như không thể chịu đựng nổi. Tuy vậy cùng lúc, quý vị thấy mình thực tế không làm được gì nhiều để giúp đỡ họ cả.  Vì vậy với động cơ của lòng bi mẫn, để huấn luyện bản thân trở nên hiệu quả hơn, quý vị hãy quán tưởng mình gánh nhận hết những khổ đau của họ, những nguyên nhân gây ra khổ đau, những ý nghĩ và cảm xúc tiêu cực của họ v.v… Quý vị có thể thực hiện điều này bằng cách hình dung những khổ đau của họ và sự tiêu cực đó giống như một luồng khói đen, quý vị quán cho luồng khói đen đó hòa tan vào mình. Trong phạm vi của thực hành này, quý vị cũng có thể chia sẻ những thiện đức của mình với họ. Quý vị có thể nhớ lại những điều cao cả mình đã làm, bất kỳ tiềm năng tích cực nào ẩn chứa bên trong quý vị cũng như bất kỳ kiến thức tâm linh hay trí tuệ nội quán nào quý vị đã thành tựu. Hãy gửi gắm những thành quả ấy đến các chúng sinh khác để họ cũng cùng vui hưởng lợi ích. Quý vị có thể thực hiện điều này bằng cách mường tượng những phẩm hạnh của mình trong thểdạng ánh sáng chói lòa hoặc một luồng sáng màu trắng đi xuyên thấu qua các chúng sinh khác và thấm đẫm vào họ. Đây chính là thực hành quán tưởng cho đi và nhận lại.
Lẽ dĩ nhiên, loại thiền định này không mang lại lợi ích vật chất cụ thể cho chúng sinh vì nó ở dạng quán tưởng, nhưng thực hành có thể giúp tăng cường mối quan tâm của quý vị dành cho tha nhân và sự thấu cảm đối với khổ đau và cùng lúc giúp suy giảm bớt mãnh lực tâm vị kỷ trong chúng ta. Đây chính là những lợi ích của pháp hành này. Đây cũng là phương pháp thuần luyện tâm nhằm trưởng dưỡng chí nguyện giúp đỡ chúng sinh. Một khi chí nguyện này phát khởi cùng chí nguyện mong muốn chứng đắc giác ngộ viên mãn, quý vị thực chứng tâm Bồ đề, tâm nguyện từ bi muốn thành tựu sự toàn giác vì lợi ích của tất cả chúng sinh.
Thi kệ cuối cùng viết:

Tất cả nguyện trên cùng tám pháp
Không bị vọng tưởng làm ô nhiễm
Tâm biết các pháp như huyễn hóa
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.

Hai dòng dầu của bài kệ cực kỳ quan trọng đối với những hành giả chân chính. Tám bận tâm thế tục nhìn chung chính là những yếu tố khuynh đảo cuộc sống của chúng ta. Chúng khiến ta vui sướng khi được ngợi khen, trầm uất khi bị xúc phạm, hạnh phúc khi thành công, đau khổ khi thất bại, thấy sung sướng khi giàu sang, chán nản khi nghèo khó, thỏa mãn khi nổi danh và chán chường khi chẳng ai công nhận. Một hành giả chân chính phải xác quyết sự tu dưỡng tâm vị tha độ lượng không bị nhơ uế vì những bận tâm thế tục đó. Chẳng hạn khi đang giảng bài pháp này, nếu tôi chỉ cần có một chút tư tưởng thoáng qua hy vọng được người nghe ngưỡng mộ thì điều đó cho thấy động cơ giảng pháp của tôi đã bị nhiễm bẩn vì những suy tính trần tục, cái mà người Tây Tạng hay gọi là “tám mối bận tâm thế tục”. Rất quan trọng khi quý vị xét nét lại bản thân để chắc chắn mình không bị uế nhiễm như thế. Tương tự, một hành giả thực hành lý tưởng vị tha độ lượng trong đời sống hàng ngày, rồi thì ngay lập tức tám bận tâm thế tục đã làm uế nhiễm thực hành của người đó. Cũng tương tự như thế, nếu một hành giả nuôi hy vọng “mọi người sẽ ngưỡng mộ việc làm của ta”, trông mong nhận được những tán thán về những nỗ lực hành trì tinh tấn. Tất cả điều này chính là những tính toán danh vọng lợi dưỡng vốn sẽ phá hỏng sự tu tập của một hành giả. Đảm bảo những việc như thế này không xảy ra là rất quan trọng nhằm giúp quý vị duy trì sự thuần tịnh trong pháp hành.
Như quý vị đã thấy rồi đó, những chỉ dẫn trong giáo huấn lo-jong về chuyển tâm cực kỳ mạnh mẽ. Những chỉ dẫn buộc quý vị phải suy tư nghĩ ngợi. Ví dụ có một đoạn phát biểu như sau:
“Nguyện tôi luôn an vui khi bị coi khinh và chẳng hề hoan hỉ khi nghe lời tán thán. Nếu tôi thấy vui vì được khen thì lập tức tâm kiêu căng, ngạo mạn và đố kỵ sẽ nảy nở thêm trong tôi; Trong khi nếu tôi vui khi nghe lời chê bai thì chí ít nhờ đó tôi mới biết  khiếm khuyết của mình.”
Một quan điểm hết sức mạnh mẽ!
Ngang đây, chúng ta đã luận bàn về tất cả pháp hành liên quan đến sự trưởng dưỡng “tâm Bồ đề tương đối”, chí nguyện từ bi mong muốn thành tựu giác ngộ viên mãn để độ sinh. Giờ đây, hai dòng cuối cùng của tám thi kệ đề cập đến thực hành tu dưỡng tâm Bồ đề Cứu cánh, ngụ ý sự phát triển một nội quán về bản chất rốt ráo của hiện thực. Mặc dù phát triển trí tuệ là một phần của lý tưởng Bồ tát, hiện thân trong sáu hạnh ba la mật toàn hảo, như đã đề cập trước đó, nhìn chung có hai điểm tinh yếu trên đường tu, đó là phương tiện và trí tuệ. Cả hai đều nằm trong định nghĩa về sự giác ngộ, tức là tính bất nhị của hình thức toàn hảo và trí tuệ toàn hảo. Thực hành trí tuệ hay nội quán tương quan với sự toàn hảo của trí tuệ trong khi thực hành những phương tiện thiện xảo hay phương pháp tương quan với sự toàn hảo của hình thức.
Giáo pháp Đức Phật thường được thể hiện trong một khuôn khổ chung thường gọi là Căn Đạo Quả . Trước tiên quý vị trau dồi tri kiến về bản thể của hiện thực với hai mức độ hiên thực, đó là sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối (nd: Tục đế và chân đế), đây chính là nền tảng.  Tiếp theo, trên đường tu thực sự, quý vị dần từng bước phối hợp thực hành thiền định và thực hành tâm linh như một khối phương tiện và trí tuệ. Quả tu cuối cùng của đường tu chính là tính bất nhị giữa hình thức toàn hảo và trí tuệ toàn hảo.
Hai dòng kệ cuối cùng viết:

Tâm biết các pháp như huyễn hóa,
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.

Hai câu thơ này thực chỉ ra pháp hành trưởng dưỡng nội quán về bản chất của hiện thực, song nếu nhìn thoáng trên bề mặt, dường như những câu thơ này biểu hiện cách thức người tu liên kết với đời sống bên ngoài trong giai đoạn xả thiền. Giáo lý nhà Phật giảng giải về bản chất rốt ráo của hiện thực, có hai thời quan trọng được phân định: Một là thời tọa thiền, thời gian quý vị giữ tâm không loạn động và hai là thời xả thiền, thời gian quý vị quay về đời sống thiện thực. Vì thế ở đây, hai dòng thơ này liên đới trực tiếp với cách người tu kết nối với thế giới ngoài kia trong thời xả thiền. Đó là lý do vì sao đoạn thơ đề cập đến thực tại như huyễn, bởi vì đây là phương cách mà quý vị phải cảm nhận sự vật khi kết thúc thời thiền.
Theo suy luận của tôi, hai câu thơ này đưa ra một điểm hết sức trọng yếu, vì đôi khi người ta cứ nghĩ trong thời thiền thì điều quan trọng nhất là duy trì  sự nhất tâm. Họ ít quan tâm để ý đến việc làm sao kinh nghiệm này có thể áp dụng trong những lúc xả thiền. Tôi lại cho rằng thời gian xả thiền rất quan trọng. Toàn bộ cốt yếu của thiền quán về bản chất rốt ráo của hiện thực là để đảm bảo quý vị không bị cảnh hiện dối gạt và nhận thức sự khác biệt giữa cách mà sự vật trình hiện và thực tướng của chúng. Phật giáo luận giải rằng cảnh hiện thường là huyễn. Với sự lĩnh hội sâu sắc hơn về hiện thực, quý vị có thể vượt qua cảnh hiện và nhìn nhận vạn vật theo cách nhìn chính xác, hiệu quả và thực tế hơn.
Tôi thường đưa ra ví dụ về cách chúng ta liên hệ với người hàng xóm. Hãy tưởng tượng quý vị đang sống trong một khu vực nào đó ở một thành phố mà quý vị gần như không thể giao tiếp gì được với hàng xóm của mình, tuy thế nếu quý vị có thể giao lưu với họ đượcthì vẫn tốt hơn là phớt lờ họ đi. Thực hiện điều này một cách khôn ngoan sẽ phụ thuộc vào quý vị hiểu tính cách của người hàng xóm đến cỡ nào. Giả dụ, nếu người hàng xóm bên cạnh nhà rất tháo vát thì giao tiếp và thân thiện với anh ta sẽ mang lại lợi ích cho quý vị.  Đồng thời, khi tìm hiểu kỹ lưỡng, quý vị cũng nhận thấy người hàng xóm này có bản chất khá xảo trá thì sự hiểu đó trở nên rất quý giá nếu quý vị vừa duy trì được quan hệ thân thiện mà cũng vừa cảnh giác để không bị lợi dụng. Ngoài ra, một khi quý vị có tri kiến sâu xa về bản chất của hiện thực thì trong thời xả thiền, khi sống trong thế giới thực tại, quý vị sẽ liên hệ với con người và sự vật một cách đúng đắn và thực tế hơn.

TÁM THI KỆ CHUYỂN TÂM(1)
 


Ý nguyện thành tựu lợi tối thắng
Với con, tất cả loài hữu tình
Còn hơn cả Bảo Châu Như Ý
Nguyện thường luôn giữ gìn lòng ái trọng.


Khi kết thân với bất kỳ ai
Xem chính con thấp hơn tất cả
Tận đáy lòng xin tôn kính người
Nguyện hành trì tôn kính thương yêu.


Quán tâm mình trong mọi hành xử
Vọng tưởng, phiền não vừa dấy khởi
Gây nguy hại cho mình và người
Nguyện tìm cách trừ diệt lập tức.


Khi thấy chúng sinh bẩm tính ác
Bị tội khổ áp bức khốc liệt,
Như gặp được kho báu khó tìm
Con nguyện đem lòng yêu quý họ.


Có chúng sinh do tâm ghen ghét
Phi lý chửi mắng, phỉ báng con
Xin nhận hết phần thua về mình
Nguyện dâng tặng chúng sinh phần thắng.


Đối với người con từng trợ giúp
Hoặc người con đặt nhiều kỳ vọng
Bỗng dưng vô cớ hãm hại con
Nguyện xem họ như bạn lành Tôn Sư.


Tóm lại dù trực tiếp hay gián tiếp
Dâng mọi lợi lạc lên mẫu thân
Những tổn hại khổ đau của Mẹ
Nguyện bí mật nhận hết về mình.


Tất cả nguyện trên cùng tám pháp
Không bị vọng tưởng làm ô nhiễm.Tâm biết các pháp như huyễn hóa
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
Four things the mind cover .
 

The Buddhist monastery, though at home or export, although tu in any disciplines does Kat and bright decor is important goals needs to be achieved in my lifetime austerities. However in practice, despite our best attempts but his mind then not at his position at the net, then when lit when dark.

We often attributed everything to his career. Is all due to career, career far from the past to the near past, are created in the current, upcoming industry created in the future to make the mind fascinate blur. But then the industry specific? How to teach Respect, due to "take part, si, beneficial" obscures our mind.

"A time of Buddha in the country, the forest-States-Residence, the garden of Anathapindika.

Now That Honor the Bhikkhu-stilts:

-Far from the Sun, the moon has four things obscures harsh not to launch light. Four categories? Clouds, wind, dust, smoke and A-tu-la, which made the Sun, the Moon hidden does not magnify the light is. It is this, Bhikkhu-stilts, the Sun, the moon has four things covered, which made the Sun, the Moon did not launch a large light. Here also, the Bhikkhu-stilts have four links cloaking mind people not being open minded. What are the four? The education center of the Shroud is not opening, ruicheng County, foolish and nourishing benefits cloaking mind people not opening.
 
That is, this final four, stilts-Bhikkhu cloaking mind people not opening. Please request the media kill four links. As such, the Bhikkhu-stilts, should study this.

The time the Bhikkhu-stilts heard Buddha done, fun, well done ".



 
In four of the dishes ", si," che mind which World Religion has taught, the three Poisons (tham, si) is a negativity, is the essence of being, engenders where life is already available in mind and were they governed heavily. To dispel the covered three poisonous, are used to the light of wisdom "an infinite, endless, join the si". But this is not something easy to do, especially with the thin thick as we career Phuoc.

The dish, which is beneficial, but not the negativity but also very difficult to end. Common folk say, see dark eyes, then the benefit is already leveraged this idea of the profound Buddha. Also because little benefit lists that make eyes cleared, ingrate multiples, caused the crash and how the suffering. To not be beneficial mailing cover eyes, we need the sense often, use sensory wisdom impermanence to benefit screenings such as going to bars, there is then no that, in order to keep the mind relaxed, gently.

The Buddha School's motto is "only a career wisdom", to achievement. We use the firepower austerities have long sensory wisdom does not manifest because of the mind also gets fuzzy dust ", si, beneficial" cover. The drill comes to take the pitch, because the only si "benefit" that caused the crazy island. Not only the life, that even people who also fall into otherwise overhaul obstacle course. So, let's start from the easiest, the honorable discharge to each step opening, self IP in thong dong.

Passionately favor, is clearly going backwards with the rescue. The tu that entangled in favor the more honorable then covered mind and dark as possible, as this Religion taught, "the four links cloaking mind people not opening." From the ancient World, Religion has been earnestly: "this the Bhikkhu-stilts, destroying four vehicles to this end". To this day, look at the current state of the four disciples seclusion, his teachings are still necessary, and hope all around. END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST  NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
Bốn thứ che tâm .
 

Người tu Phật, dù tại gia hay xuất gia, dù tu theo bất cứ pháp môn nào thì tâm tịnh và trí sáng là mục tiêu quan trọng cần phải đạt được trong đời sống tu hành. Tuy nhiên trong thực tiễn, dù đã hết sức cố gắng nhưng tâm mình thì lúc tịnh lúc không, trí mình thì khi sáng khi tối.

Chúng ta thường quy kết mọi thứ cho cái nghiệp của mình. Thì đúng là tất cả đều do nghiệp, nghiệp từ quá khứ xa cho đến quá khứ gần, nghiệp đang tạo ra trong hiện tại, nghiệp sắp tạo ở tương lai làm cho tâm trí mê mờ. Nhưng cụ thể thì do những nghiệp gì? Thế Tôn dạy, do “tham, sân, si, lợi” che lấp tâm trí của chúng ta.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Nay mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che lấp nặng nề khiến không phóng được ánh sáng. Bốn loại nào? Mây, gió bụi, khói và A-tu-la, khiến mặt trời, mặt trăng bị che không phóng ánh sáng được. Đó là, này Tỳ-kheo, mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che đậy, khiến mặt trời, mặt trăng không phóng ánh sáng lớn được. Đây cũng như thế, Tỳ-kheo có bốn kết che đậy tâm người không được cởi mở. Thế nào là bốn? Dục kết che đậy tâm người không được khai mở, sân nhuế, ngu si và lợi dưỡng che đậy tâm người không khai mở được.
 
Đó là, này Tỳ-kheo, có bốn kết che đậy tâm người không khai mở được. Hãy cầu phương tiện diệt bốn kết này. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.



 
Trong bốn món kết “tham, sân, si, lợi” che tâm mà Thế Tôn đã dạy, thì ba độc (tham, sân, si) là căn bản phiền não, là bản chất của chúng sanh, sanh ra nơi đời là đã sẵn có trong tâm và bị chúng chi phối nặng nề. Để xua tan sự che phủ ba độc, phải dùng đến ánh sáng tuệ giác của “vô tham, vô sân, vô si”. Nhưng đây không phải là chuyện dễ làm, nhất là đối với hạng người phước mỏng nghiệp dày như chúng ta.

Còn món kết sau cùng, đó là lợi, tuy không phải là căn bản phiền não nhưng cũng rất khó dứt trừ. Dân gian thường nói, thấy lợi thì tối mắt, chính là đã thừa hưởng sâu sắc ý pháp này của Phật. Cũng vì chút lợi danh mà nhắm mắt làm càn, vong ân bội nghĩa, gây ra biết bao đổ vỡ và khổ đau. Để không bị lợi danh che mắt, chúng ta cần thường xuyên giác tỉnh, vận dụng tuệ giác vô thường để quán chiếu lợi danh như huyễn, có đó rồi không đó, nhằm giữ tâm thư thái, nhẹ nhàng.

Phương châm của người học Phật là “duy tuệ thị nghiệp”, phải thành tựu tuệ giác. Sở dĩ chúng ta dụng công tu hành đã lâu mà tuệ giác không hiển lộ chính vì tâm còn bị bụi mờ “tham, sân, si, lợi” che phủ. Khoan nói đến tham sân si, vì chỉ riêng một món “lợi” thôi mà đã gây đảo điên thế sự. Không chỉ người đời, mà ngay cả người tu nếu không khéo cũng rơi vào chướng nạn này. Vậy nên, hãy bắt đầu từ việc dễ nhất, xả bỏ lợi danh để từng bước khai mở tuệ giác, tự tại thong dong.

Say đắm lợi danh, rõ ràng là đi ngược với đạo giải thoát. Người tu mà vướng vào lợi danh càng nhiều thì tâm trí bị che phủ và u ám càng nặng, vì như Thế Tôn đã dạy, “bốn kết che đậy tâm người không khai mở được”. Từ xa xưa, Thế Tôn đã từng tha thiết: “Này các Tỳ-kheo, hãy cầu phương tiện diệt bốn kết này”. Đến tận ngày nay, nhìn vào hiện trạng tu học của bốn chúng đệ tử, lời dạy của Ngài vẫn còn cấp thiết, đồng vọng quanh ta.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.
If the focus raises the question of what Buddhism is, some people will say that there are Four Noble Truth  (the Four Noble Truths) , some others are left there is  aniccamdukkhamanatta  (ie Three oil or Three The basic principle of Buddhism is aniccam: impermanence, dukkha: suffering or unhappiness, manatta: selflessness. But please also noting that many texts also suggest adding a fourth mark nibbllna or nirvana)  and some others are again read out the following statement vanh wall:
Sabba pipassa akaranam
Kusalassupasampada
Sacitta pariyodapanam
Etam Buddhanasasanam
(Which means: "not to do bad things, just to do something good, his pure consciousness, which is the core teachings of the Buddha")
All the answers are right on this, but just right to be a part, not through because people just answer by heart and forget to go is to manually verified by our own experience is valid Such real or not.
To raise the core of Buddhist teaching me just reiterate with you a statement made ​​Buddha's simple:  "Do not cling to anything whole" In the Majjhima Nikaya  (Middle Agama )  narrated that one day a man walked up to pay homage to the Buddha and asked Him to summarize his teachings in a very brief question, and if so, the question would be. Buddha replied that he could do his job and spoke up on this question:  " Sabbe dhamma nalam abhinivesaya "  ie  "Do not cling to anything all"  ("Sabbe dhamma" means anything "nalam" not allowed, "abhinivesaya" cling to) . Buddha also stressed the importance of this statement by adding that  if anyone was listening to his words, the essence also means listening to all the teaching , and  if anyone received was fruit of practice  (not cling to anything)  , it also means to get all the fruits of his teaching brought.
If anyone grasp the truth of his teachings perfectly - absolutely not cling to anything at all - then he would no longer be the bacteria that cause these diseases coveted, hate and ignorance penetration, it is these diseases lead to wrong actions, either on the physical, verbal or mentally. Therefore, whenever there is a form, a sound, a smell, a taste, a touch or a mental phenomenon detection, the antibody "not cling to anything that even" will help stop the transmission immediately. The bacteria can not penetrate, or maybe just let them penetrate in order to destroy them more easily. Anyway, the bacteria will not be able to multiply and cause disease, because antibodies in people who are always seeking to destroy them. Indeed such antibodies unparalleled force and permanent. And that is the core of Buddhist teaching, of all  Dhamma . Do not cling to anything at all!
Anyone who has taken the truth that they can also see themselves as creating antibodies help neutralize the harmful effects of all spiritual disease and make it to an end. He will no longer be making their disease to suffer with it anymore. But for the case of an ordinary person does not comprehend the essence of the Buddha's teaching is what is completely different: this person does not have a resistance at all.
At this point you probably have a good grasp on the meaning of "mental illness" is and who the physician was curable disease. But just when he was aware that his illness when he truly thought about medical treatment and use adaptive dose. If you are not aware that I was sick, I still live roaming and imitate what they like. It is like as a person with tuberculosis or cancer that fun does not have to worry about interest in medical treatment until a certain time, then everything was late, he will not back away from death by disease their causes.
Do not get into the stupid thing like that! Always obey the teachings of the Buddha: " Do not neglect. It is always hard to focus . " Knowing very strong focus, we realize that he's been tortured spiritual disease and thereby discover his new hit "bacteria" sickened her. If the application is the only sure on this one correctly and certain persistent, then you will also receive immediately in this life the best things that humans can get.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGTHMENT.WORLD VIETNAMESE BUDDHIST ORDER=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.3/12/2015.